PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Chính sách tiền tệ là một công cụ quan trọng để chính phủ thực hiện chức năng can thiệp vào nền kinh tế, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi các quốc gia vẫn chưa thoát khỏi tình trạng trì trệ từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008. Tuy nhiên, các nghiên cứu về chính sách tiền tệ tại Việt Nam vẫn chủ yếu dừng lại trên khía cạnh lí thuyết và có khá ít những nghiên cứu thực nghiệm dưới góc nhìn định lượng. Vì vậy để phục vụ cho quá trình hoạch định chính sách trong bối cảnh thực trạng nền kinh tế vĩ mô Việt Nam trong những năm gần đây liên tục gặp nhiều bất ổn, bài nghiên cứu đã tiến hành mô hình hóa chính sách tiền tệ tại Việt Nam theo phương pháp tiếp cận SVAR (vector tự hồi quy cấu trúc).
Thông qua đó tạo nền tảng cơ sở khoa học trong điều hành chính sách tiền tệ và góp phần nâng cao tính hiệu quả cho các quyết định chính sách được đưa ra. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Bài nghiên cứu tiến hành mô hình hóa chính sách tiền tệ tại Việt Nam theo phương pháp SVAR. Thông qua kết quả hàm phản ứng đẩy và phân rã phương sai, bài nghiên cứu tập trung làm rõ một số vấn đề sau: - Đánh giá mức độ ảnh hưởng của tín dụng và chính sách tiền tệ lên tổng thể nền kinh tế. - So sánh vai trò của các kênh truyền dẫn lên sản lượng thực và lạm phát tại Việt Nam; - Xem xét mức độ và thời gian tác động của một cú sốc chính sách; 2 - Đưa ra các khuyến nghị trong việc lựa chọn và thực thi công cụ chính sách thích hợp ở Việt Nam trong thời gian tới.
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Bài nghiên cứu sử dụng chủ yếu phương pháp định lượng, thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp nhằm làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu. Đối với việc định lượng, bài nghiên cứu sử dụng mô SVAR để mô hình hóa kinh tế vĩ mô mà cụ thể ở đây là khuôn khổ chính sách tiền tệ và tác động của nó lên tổng thể nền kinh tế. Bộ dữ liệu được sử dụng lấy từ quý 4 năm 1998 đến quý 4 năm 2012. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Nội dung chính bao gồm: Phần 1: Giới thiệu về bài nghiên cứu; Phần 2: Tóm lược các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ; Phần 3: Thiết lập mô hình SVAR truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam; Phần 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm; Phần 5: Kết luận chung của bài nghiên cứu.
Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU CÔNG TRÌNH Về mặt lý luận, đề tài đã hệ thống được một số nghiên cứu về chính sách tiền tệ và hệ thống các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ, chỉ ra được những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách tiền tệ. Từ đó rút 3 ra kết luận về một khuôn khổ chính sách tiền tệ đặc thù cho nền kinh tế Việt Nam. Về mặt thực tiễn, đề tài tiến hành xây dựng một mô hình lượng hóa các tác động từ chính sách tiền tệ của Việt Nam. Từ đó cung cấp những cơ sở cho những nhà làm chính sách trong quá trình ra quyết định về việc lựa chọn công cụ tác động, thời gian cũng như liều lượng các tác động nhằm đạt được các mục tiêu về ổn định nền kinh tế vĩ mô.
HƢỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI Việc phân tích sự thay đổi của chính sách tiền tệ trước và sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 cũng như xem xét chính sách tiền tệ trong dài hạn là một hướng nghiên cứu tiếp theo nếu dữ liệu có thể thu thập được. Đề tài có thể mở rộng theo hướng xem xét tổng thể nền kinh tế, trong đó mô hình SVAR được xây dựng bao gồm mối quan hệ tác động qua lại của cả chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Việc có thể lượng hóa được mối quan hệ này trong một mô hình động tổng quát sẽ là một hướng nghiên cứu mở rộng mang ý nghĩa ứng dụng thực tiễn cao. Giới thiệu: Tín dụng là một biến số vĩ mô quan trọng tác động đến các hoạt động kinh tế.
Ngược lại nó cũng chịu ảnh hưởng từ tình trạng nền kinh tế. Chẳng hạn, chi tiêu được tài trợ bởi tốc độ tăng trưởng tín dụng làm gia tăng sản lượng, nhưng đồng thời tốc độ tăng trưởng sản lượng cao lại thúc đẩy nhu cầu về tín dụng để tài trợ cho việc chi tiêu nhiều hơn. Vì vậy, bài nghiên cứu dùng mô hình vector tự hồi quy cấu trúc (SVAR) để kiểm tra mối quan hệ giữa tín dụng và các biến khác của nền kinh tế. Phương pháp SVAR được sử dụng vì nó có thể giải thích cho các mối quan hệ nội sinh, và có thể tóm tắt các mối quan hệ thực nghiệm mà không cần đặt quá nhiều giới hạn lên các dữ liệu.
Mối quan hệ giữa tín dụng và chính sách tiền tệ hầu hết được xem xét qua kênh tín dụng là kênh mà chính sách tiền tệ sẽ tác động đến việc điều chỉnh khối lượng các khoản vay của các tổ chức tín dụng. Đây là câu chuyện về phía cung tín dụng. Bên cạnh đó, sự thay đổi trong chính sách tiền tệ cũng ảnh hưởng đến phía cầu tín dụng. Cả hai phía đều cho rằng thắt chặt tiền tệ sẽ đi kèm với tốc độ tăng trưởng tín dụng yếu hơn.
Mặt khác, lãi suất cũng thay đổi từ việc thay đổi tốc độ tăng trưởng tín dụng. Vì tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh thường kéo theo lạm phát, và NHTW bắt đầu có những động thái phản hồi kéo lãi suất tăng cao. Tín dụng được xem là chủ đề của nhiều bài nghiên cứu, tuy nhiên chưa có bài nghiên cứu nào ở Việt Nam sử dụng mô hình kinh tế mở rộng với phương pháp SVAR để kiểm tra mối quan hệ đồng thời giữa tổng tín dụng với các hoạt động kinh tế cũng như chính sách tiền tệ. Vì vậy mục tiêu của bài nghiên cứu là: (i) Tìm hiểu mối quan hệ giữa tín dụng và các biến vĩ mô chính của nền kinh tế; (ii) Đánh giá vai trò của các kênh truyền dẫn lên sản lượng thực và lạm phát tại Việt Nam; (iii) Xem xét mức độ và thời gian tác động của 5 một cú sốc chính sách.
Những phân tích này cũng là cơ sở để nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị trong việc lựa chọn và thực thi công cụ chính sách thích hợp ở Việt Nam trong thời gian tới. Nội dung bài nghiên cứu bao gồm: (1) Giới thiệu về bài nghiên cứu; (2) Tóm lược các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ; (3) Thiết lập mô hình SVAR truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam; (4) Kết quả nghiên cứu thực nghiệm ; (5) Kết luận. Tóm lƣợc nghiên cứu: 2. Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ và các kênh truyền dẫn: 2.
Chính sách tiền tệ: Theo Luật NHNN 2010, chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra. Những thay đổi trong chính sách tiền tệ bắt nguồn từ việc phản ứng lại với các cú sốc trong và ngoài nước sẽ gây sức ép lên việc duy trì các nhiệm vụ chính sách mục tiêu. NHTW thực hiện việc thay đổi chính sách thông qua điều chỉnh các công cụ cơ bản của mình, thường là qua điều chỉnh lãi suất ngắn hạn, cung tiền hoặc tổng hạn mức tín dụng của các ngân hàng thương mại. Những công cụ này sẽ ảnh hưởng đến tổng thể nền kinh tế qua hàng loạt các cơ chế truyền dẫn khác nhau và cuối cùng là đến mục tiêu cuối cùng của chính sách.
Vì vậy, một cách hiệu quả để hiểu rõ sự vận hành của chính sách tiền tệ là tập trung vào từng động thái riêng biệt của NHTW và cơ chế dẫn truyền mà thông qua đó những động thái này phát huy ảnh hưởng của mình. Sự hoạt động của hệ thống kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ: Kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ được xem là hệ thống một chuỗi các nguyên nhân có ảnh hưởng đến mối liên hệ kết nối giữa chính sách tiền tệ với sản lượng thực và lạm phát. Sự hình thành các kênh vận hành này ở một quốc gia được xem là cơ chế dẫn truyền chính sách tiền tệ ở quốc gia đó. Phân tích các kênh truyền dẫn: Hệ thống truyền dẫn tiền tệ bao gồm bốn kênh chính1: (a) Kênh lãi suất, (b) Kênh giá cả tài sản (kênh tỷ giá, kênh giá cổ phiếu, kênh giá bất động sản), (c) Kênh tín dụng, (d) Kênh kì vọng.
a, Kênh lãi suất Một trong những kênh truyền dẫn phổ biến nhất thường được nhắc đến đó là kênh lãi suất. Trong đó, một sự gia tăng cung tiền sẽ làm giảm lãi suất thực và điều này tiếp đến kích thích đầu tư và gia tăng sản lượng nền kinh tế. Cơ chế vận hành của chính sách tiền tệ lên lãi suất thực được đặt dưới giả định về một mức giá cả kém linh hoạt. Theo đó một mức lãi suất danh nghĩa thấp sẽ kéo theo lãi suất thực thấp, vì trong ngắn hạn giá cả (đại diện cho nhân tố lạm phát) được xem là cố định.
Liên hệ giữa lãi suất thực ngắn hạn và dài hạn sẽ được giải thích dựa vào học thuyết kì vọng hợp lí về cấu trúc kì hạn của lãi suất. Đầu tiên là để kích thích nền kinh tế, NHTW sẽ gia tăng lượng cung tiền (M) dẫn đến lãi suất danh nghĩa ngắn hạn giảm, ví dụ như giảm lãi suất cơ bản (i) (ở đây giả định rằng NHTW có đủ khả năng để điều hành thị trường mở sao cho có thể thay đổi lượng cung tiền nhằm điều chỉnh lãi suất theo hướng xác định). Một mức lãi suất danh nghĩa ngắn hạn thấp hơn cuối cùng sẽ gây giảm lãi suất thực trong ngắn hạn (rs) và kéo theo sự sụt giảm của 1 Theo Federic S. Cuối cùng, sự thay đổi trong lãi suất thực trong dài hạn, đến lượt nó sẽ gây ra tác động kích thích (hạn chế) tiêu dùng (C), và quan trọng hơn là làm tăng đầu tư (I) dẫn đến tăng sản lượng nền kinh tế(Y).
Thậm chí ngay cả khi chúng ta không giả định về sự cứng nhắc của giá cả trong ngắn hạn thì kênh lãi suất vẫn có những tác động nhất định.