Chương 1 của luận văn sẽ giới thiệu tổng quan chủ đề nghiên cứu; chương 2 sẽ tập trung trình bày khung lý thuyết nền tảng và một số bằng chứng thực nghiệm trong và ngoài nước; chương 3 là phần mô tả dữ liệu và phương pháp nghiên cứu chính sử dụng trong luận văn; chương 4 là phần kết quả nghiên cứu và thảo luận phân tích, kiểm định những kết quả mà nghiên cứu tìm thấy; và cuối cùng là chương 5, kết luận và hàm ý chính sách. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Chính sách tiền tệ luôn là một trong những chủ đề vô cùng thu hút đông đảo giới nghiên cứu trong và ngoài nước để mổ xẻ những vấn đề từ vĩ mô đến vi mô vì đây chính là công cụ cực kỳ quan trọng để một quốc gia ít nhiều có thể kiểm soát được tổng thể nền kinh tế. Để có thể điều phối chính sách tiền tệ hợp lý đòi hỏi các cơ quan chức năng phải liên tục cập nhật và xem xét từng chỉ báo quan trọng để có cơ sở phân tích chính xác nhất. Với chủ đề “Phân tích tác động từ việc công bố chính sách tiền tệ của Mỹ đến cấu trúc kỳ hạn của lãi suất tại Việt Nam”, tác giả kỳ vọng sẽ nghiên cứu đo lường được sức ảnh hưởng của việc công bố chính sách tiền tệ của Mỹ đến cấu trúc kỳ hạn của lãi suất tại Việt Nam và mong muốn từ kết quả nghiên cứu này có thể 8 giúp cho các cơ quan chức năng, các nhà làm chính sách có thể phối hợp điều tiết chính sách tiền tệ một cách hợp lý tại Việt Nam nhằm góp phần bình ổn kinh tế và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cũng sẽ có thêm một kênh thông tin đáng tin cậy để đưa ra quyết định bỏ vốn đúng đắn vào thị trường trái phiếu Việt Nam. 9 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2. Khung lý thuyết về chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ là một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống các chính sách điều hành nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản của một quốc gia. Cùng với chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ được xem là một công cụ chính sách kinh tế quan trọng góp phần duy trì sự ổn định và cải thiện tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Để có thể điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả và đảm bảo đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô phù hợp cho từng giai đoạn phát triển đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách của mỗi một quốc gia cần có sự am hiểu tường tận về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ, cũng như những tác động cụ thể từ việc công bố chính sách tiền tệ của một quốc gia có tầm ảnh hưởng toàn cầu như Mỹ. Tổng quan về chính sách tiền tệ Lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng luôn giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Tại bất kỳ quốc gia nào thì Ngân hàng Trung ương (NHTW) cũng luôn là chỗ dựa quan trọng, vững chắc giúp chính phủ điều hành nền kinh tế thông qua chính sách tiền tệ và các định chế tài chính. Tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang hay Hệ thống ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve System – Fed) chính là NHTW của Mỹ.
Fed được xem là huyết mạch của cả nền kinh tế và là chỗ dựa của các ngân hàng thương mại, đầu tư cũng như các tổ chức tài chính Mỹ. Fed có tầm quan trọng và sức ảnh hưởng trên toàn thế giới, đây được xem là một mô hình NHTW chuẩn mà các NHTW trên thế giới (dù có những điểm đặc thù riêng biệt) nhưng hoàn toàn có thể tham khảo, học tập và tìm cách ứng dụng. Mishkin (1996) chỉ ra rằng chính sách tiền tệ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ổn định tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát của một quốc gia. Tại Việt Nam, trong văn bản Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ban hành ngày 16/06/2010 có ghi rõ: “Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi 10 là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của NHTW về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.” và “Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra.
Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ Mishkhin (2010) cho rằng chính sách tiền tệ là phương pháp mà Fed sử dụng để giải quyết các vấn đề như: tăng trưởng kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp và giải quyết việc làm, bình ổn giá cả, ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính, ổn định tỷ giá hối đoái, hay mối quan hệ giữa các mục tiêu chính sách tiền tệ… Ba công cụ trong chính sách tiền tệ mà Fed sử dụng để điều tiết cung ứng tiền tệ là: (1) Nghiệp vụ thị trường mở, (2) Lãi suất chiết khấu, và (3) Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chính sách tiền tệ linh hoạt, chính xác nên được đánh giá là quan trọng và hữu hiệu nhất trong các công cụ của chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, để thực hiện tốt công cụ này đòi hỏi phải phát triển tốt của thị trường tài chính thứ cấp nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng, đồng thời, NHTW cũng phải có khả năng dự đoán và kiểm soát sự biến động của lượng vốn khả dụng trong hệ thống ngân hàng. Có hai loại nghiệp vụ thị trường mở: (1) Nghiệp vụ thị trường mở năng động (NHTW chủ động tiến hành nghiệp vụ nhằm tác động tới khối lượng tiền trong lưu thông theo hướng mà ngân hàng thấy cần thiết); và (2) nghiệp vụ thị trường mở thụ động (nhằm bù lại những chuyển động của các nhân tố ảnh hưởng không có lợi đối với tổng lượng tiền trong lưu thông).
11 Tại Mỹ, cơ quan ra quyết định nghiệp vụ thị trường mở là Ủy ban thị trường mở (Federal Open Market Committee – FOMC). Fed tiến hành nghiệp vụ thị trường mở thông qua chứng khoán kho bạc Mỹ, tín phiếu kho bạc Mỹ… (2) Lãi suất chiết khấu Lãi suất chiết khấu tác động đến lượng cung ứng tiền tệ. Với công cụ này Fed đóng vai trò như người cho vay cuối cùng phải cung cấp dự trữ cho hệ thống ngân hàng khi sự phá sản của các ngân hàng đe dọa thoát khỏi sự kiểm soát. Ngoài ra, những thay đổi trong lãi suất chiết khấu là công cụ dự báo những dự định của Fed về chính sách tiền tệ trong tương lai.
(3) Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc Dự trữ bắt buộc, hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của NHTW về tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản. Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này. Bằng cách thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, NHTW sẽ có thể thay đổi số nhân tiền để điều tiết lượng cung tiền với một lượng tiền cơ sở (gồm tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng cộng với tiền mặt dự trữ trong hệ thống ngân hàng) bất kỳ. Tại Việt Nam, Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bao gồm: (1) tái cấp vốn, (2) lãi suất, (3) tỷ giá hối đoái, (4) dự trữ bắt buộc, (5) nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2010).
Cụ thể: (1) Tái cấp vốn: Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng. Ngân hàng Nhà nước quy định và thực hiện việc tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng theo các hình thức sau đây: (a) Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá; (b) Chiết khấu giấy tờ có giá; và (c) Các hình thức tái cấp vốn khác. (2) Lãi suất: Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi. Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, Ngân hàng Nhà nước quy định cơ 12 chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác.
(3) Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá hối đoái, quyết định chế độ tỷ giá, cơ chế điều hành tỷ giá. (4) Dự trữ bắt buộc: Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi tại tổ chức tín dụng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Ngân hàng Nhà nước quy định việc trả lãi đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc, tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc của từng loại hình tổ chức tín dụng đối với từng loại tiền gửi. (5) Nghiệp vụ thị trường mở: Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc mua, bán giấy tờ có giá đối với tổ chức tín dụng. Ngân hàng Nhà nước quy định loại giấy tờ có giá được phép giao dịch thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất 2.
Lãi suất Lý thuyết của Keynes cho rằng “Lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thưởng cho “sở thích chi tiêu tư bản”.