Chương 1 đã lược khảo tóm tắt các nghiên cứu về đầu tư, tăng trưởng kinh tế, hội tụ thu nhập trên thế giới và Việt Nam, những vấn đề còn đang bàn cãi, ý kiến trái chiều về kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực này, từ đó đã trình bày hướng nghiên cứu, những vấn đề cần giải quyết cũng như cung cấp một cái nhìn tổng quát về phương pháp quy trình, dữ liệu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu và kết cấu của luận án. Đồng thời cũng xác định cụ thể ý nghĩa của luận án về mặt khoa học và thực tiễn với mong muốn là một bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm bổ sung vào lĩnh vực nghiên cứu về đầu tư, tăng trưởng kinh tế và vấn đề hội tụ thu nhập ở Việt Nam và trên thế giới. [10] CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. Đầu tư Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ của ngành, cơ quan quản lý và xã hội nói riêng.
Theo Sachs và Larrain (1993) định nghĩa tổng quát về đầu tư như sau: "Đầu tư là phần sản lượng được tích luỹ để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế". Sản lượng ở đây bao gồm phần sản lượng được sản xuất trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài, theo luồng sản phẩm; đối với loại sản phẩm hữu hình như nhà cửa, công trình xây dựng cơ bản, máy móc thiết bị.hay các sản phẩm vô hình như bằng phát minh sáng chế, phí chuyển nhượng tài sản. Cũng theo Sachs và Larrain (1993), tài sản cố định trong nền kinh tế tại một thời điểm nào đó được định nghĩa bằng tổng các đầu tư qua các năm, tính đến thời điểm đó. Trong thực tế, để tính toán giá trị tài sản tại một thời điểm nào đó người ta cộng tất cả các đầu tư trước đó, rồi trừ đi khấu hao hàng năm.
Nhưng việc xác định giá trị của tài sản tại một thời điểm nào đó là một việc khó khăn, vì một số loại tài sản không có giá trên thị trường, hoặc giá cả trên thị trường không phản ánh đúng thực chất của giá trị tài sản. Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế được hiểu khá thống nhất là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Thước đo phổ biến là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một năm hoặc mức tăng GDP bình quân đầu người trong một năm. Một số nước sử dụng các chỉ số khác để xác định mức tăng trưởng kinh tế như: GNP (tổng sản phẩm quốc gia); GNI (tổng thu nhập quốc gia); NNP (sản phẩm quốc gia ròng) hoặc NNI (thu nhập quốc gia ròng).
Các chỉ số trên thường được tính trong một năm và đều có thể sử dụng theo tiêu chí bình quân trên đầu người. Ở Việt Nam, việc đánh giá tăng trưởng kinh tế dựa theo chỉ số GDP, công thức tính chỉ số này như sau: Là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính). Có nhiều cách tính GDP như sau: Phương pháp tính theo thu nhập. Theo phương pháp này nếu trong nền kinh tế giản đơn thì GDP được tính bằng cách cộng tất cả các thu nhập mà khu vực xí nghiệp phân phối cho các hộ gia đình dưới hình thức tiền lương, tiền lãi, tiền thuê và lợi nhuận.
GDP = Y = Tiền lương + tiền lãi + tiền thuê + lợi nhuận. Việc tính GDP theo thu nhập còn gọi là GDP tính theo giá yếu tố vì những khoản này các xí nghiệp chi trả cho việc sử dụng nguồn lực phục vụ cho sản xuất. Nếu nền kinh tế không có chính phủ thì việc tính GDP theo giá thị trường hoặc theo giá yếu tố sẽ cho cùng một kết quả. Nhưng khi có chính phủ thì cần có những điều chỉnh để GDP tính theo thu nhập giống với GDP tính theo giá thị trường.
Điều chỉnh thứ nhất là cộng thuế gián thu vào thu [12] nhập. Chính phủ nhận được thu nhập từ thuế gián thu, tức các khoản thuế đánh vào dịch vụ và hàng hoá bán trên thị trường, trong đó trợ cấp của chính phủ cho sản xuất được coi là một khoản thuế gián thu âm. Điều chỉnh thứ hai là cộng khoản khấu hao vào cùng với các khoản thu nhập. Bởi vì, khi tính GDP theo giá thị trường thì khấu hao đã được tính ở chi tiêu đầu tư, còn tính GDP theo thu nhập thì không bao gồm khấu hao.
Do đó, công thức tính GDP khi có chính phủ: GDP = Tổng thu nhập = Lương + Lãi + Tiền thuê + Lợi nhuận + Thuế gián thu + khấu hao Phương pháp tính theo giá trị gia tăng. Phương pháp tính theo giá trị gia tăng là tổng cộng tất cả giá trị gia tăng của nền kinh tế trong một thời kỳ. Tổng sản phẩm quốc nội = Giá trị tăng thêm + thuế nhập khẩu Hoặc GDP = Giá trị sản xuất – chi phí trung gian + thuế nhập khẩu Giá trị tăng thêm của toàn bộ ngành kinh tế được xác định cho cả nước và cho từng vùng lãnh thổ và bằng tổng giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế và thành phần kinh tế. Giá trị tăng thêm của từng ngành kinh tế bao gồm: Thu nhập của người sản xuất như tiền lương, tiền công (kể cả bằng tiền hay bằng hiện vật và các khoản trả có tính chất lương), trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nộp công đoàn cấp trên, thu nhập khác ngoài lương, tiền công; Thuế sản xuất bao gồm: Thuế hàng hoá (không bao gồm thuế nhập khẩu) thuế sản xuất và chi phí khác.
Thuế sản xuất không bao gồm thuế trực thu như thuế thu nhập, thuế thu nhập doanh nghiệp. Khấu hao tài sản cố định; Giá trị thặng dư; Thu nhập hỗn hợp. Giá trị gia tăng của một xí nghiệp là chênh lệch giữa giá trị sản lượng của xí nghiệp và giá trị các yếu tố vật chất mà xí nghiệp mua của các xí nghiệp khác. [13] Phương pháp tính theo chi tiêu.
Phương pháp này người ta tính bằng cách cộng các chi tiêu lại: GDP = Y = C + I + G + NX Trong đó: Chi tiêu tiêu dùng (C): Bao gồm tất cả các chi tiêu cho sản phẩm và dịch vụ do các xí nghiệp sản xuất ra và bán cho các hộ gia đình. Chi tiêu đầu tư (I) là tổng vốn đầu tư phát triển xã hội trong kỳ, bao gồm: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm vốn xây lắp, vốn mua sắm thiết bị, vốn xây dựng cơ bản khác, vật nuôi để kéo cày, làm giống…, vốn tăng tài sản lưu động trong kỳ như tăng tồn kho giữa cuối kỳ và đầu kỳ về nguyên nhiên vật liệu, thành phẩm, hàng hoá trong lưu thông, sản phẩm sản xuất trong hộ gia đình nông nghiệp, phi nông nghiệp, kho dự trữ nhà nước. Chi tiêu của chính phủ về những sản phẩm và dịch vụ (G) bao gồm các chi tiêu của chính quyền trung ương và địa phương. Đây là các chi phí cho giáo dục quốc phòng, hành chánh, y tế, toà án, chi phí để duy trì trật tự công cộng, công trình công cộng, xây dựng kết cấu hạ tầng… Xuất khẩu ròng (NX) là chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu của nền kinh tế.
Đây là một chi tiêu phản ánh mối quan hệ kinh tế đối với nước ngoài của một quốc gia. GDP tính theo phương pháp chi tiêu là GDP tính theo giá thị trường vì chi tiêu được thanh toán theo giá thị trường. Nhìn chung tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi của mức sản lượng quốc dân. 𝑡 𝑌 𝑡 − 𝑌 𝑡−1 𝑦 = 𝑥 100% 𝑌𝑡−1 Trong đó: yt là tốc độ tăng trưởng của kỳ t, Y là GDP thực tế thời kỳ t [14] 2.
Hội tụ thu nhập Hội tụ thu nhập trong kinh tế (cũng đôi khi được gọi là hiệu ứng “đuổi kịp”) là giả thuyết mà các nhà kinh tế học như Solow (1956) và Cass (1965) cho rằng thu nhập bình quân đầu người các nước hoặc tỉnh nghèo sẽ có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn các nước hoặc tỉnh giàu có hơn. Kết quả là, cuối cùng tất cả các nền kinh tế hội tụ về một mức thu nhập bình quân đầu người. Các nước đang phát triển có tiềm năng tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn so với các nước phát triển vì đặc tính lợi tức biên giảm dần của vốn trong các mô hình tăng trưởng tân cổ điển. Hơn nữa, các nước nghèo có thể sao chép các phương pháp sản xuất, công nghệ, và các tổ chức hoạt động của các nước đang phát triển để có cơ hội “đuổi kịp”.
Tuy nhiên, không phải nước nghèo nào cũng có thể đạt mức tăng trưởng cao, nếu thu nhập quá thấp, người dân sẽ phải tiêu dùng hết những gì mình làm ra và do vậy không có tiết kiệm để đầu tư nhằm duy trì mức tư bản trên mỗi lao động khi dân số tăng và rơi vào một cái bẫy nghèo đói. Đồng thời, các nước hoặc khu vực giàu có hơn, có điều kiện để phát triển khoa học công nghệ, từ đó lợi tức biên của vốn sẽ tăng mạnh hơn và nhanh hơn các nước hoặc khu vực nghèo. Điều này dẫn đến hiện tượng phân tán thu nhập giữa các nước hoặc khu vực. Do vậy, vấn đề hội tụ thu nhập được đề cập trong luận án ở đây được hiểu là nó liên quan đến vấn đề năng suất biên của vốn đầu tư ở các tỉnh của Việt Nam.
Có nghĩa là khi một tỉnh nhận được vốn đầu tư sẽ có sự tăng trưởng kinh tế làm cho thu nhập tỉnh đó tăng lên. Theo thời gian, thì năng suất biên sẽ giảm, dẫn đến thu nhập sẽ giảm. Trong khi đó, các tỉnh trước đây chưa nhận được đầu tư, nay lại được đầu tư thì sẽ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn các tỉnh mà đã nhận được đầu tư trước đây, nay tăng trưởng chậm lại. Đến [15] một giai đoạn nào đó, thu nhập giữa các tỉnh sẽ tiệm cận với nhau.
Đây là vấn đề hội tụ thu nhập.