Chương 1: Giới thiệu. Trong chương này, tác giả trình bày những nội dung cốt lõi của đề tài cần nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học của đề tài. 6 Chương 2: Tổng quan lý thuyết về thanh khoản và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại. Trong chương này tác giả trình bày lý thuyết có liên quan về thanh khoản ngân hàng và những kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về ảnh hưởng của các nhân tố nội tại của ngân hàng và các nhân tố vĩ mô đến khả năng thanh khoản của các NHTM.
Chương 3: Thực trạng khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan về tình hình hoạt động của các NHTM Việt Nam từ khoảng thời gian 2006 đến năm 2016. Từ đó, tác giả trình bày thực trạng về khả năng thanh khoản của các NHTM Việt Nam. Bên cạnh đó tác giả cũng phân tích tác động của các nhân tố như tăng trưởng GDP, lạm phát, tổng tài sản bình quân, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ suất sinh lợi trên tài sản ROA, tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu ROE, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, tỷ lệ Chi phí hoạt động/Tổng tài sản, tỷ lệ nợ xấu đến khả năng thanh khoản của các NHTM Việt Nam.
Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu: Trong chương này, tác giả phân tích mối quan hệ và đưa ra kết quả hồi quy về ảnh hưởng của các nhân tố vi mô ngân hàng và nhân tố vĩ mô tác động đến khả năng thanh khoản các NHTM Việt Nam bằng việc sử dụng mô hình hồi quy dạng tĩnh là Pooled OLS, Fixed effect, Random Effect và FGLS nhằm khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan (nếu có) của mô hình OLS. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Trong chương này, tác giả đưa ra những kết luận về mô hình nghiên cứu được sử dụng trong Chương 4. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm tăng giúp khả năng thanh khoản trong hoạt động của các NHTM Việt Nam.
Bên cạnh đó, tác giả đưa ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm hoàn thiện hơn về vấn đề phân tích ảnh hưởng của nhân tố đến khả năng thanh khoản của các NHTM Việt Nam. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ THANH KHOẢN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương 2 trình bày giới thiệu chung về thanh khoản, phương pháp đo lường và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại. Kế đến, chương này tổng hợp các bài nghiên cứu trên thế giới cùng nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến khả năng thanh khoản. Trên cơ sở các khái niệm và lý thuyết có liên quan, chương 2 đề xuất đưa ra các biến để đưa vào mô hình nghiên cứu thực nghiệm trong chương 4.1 Giới thiệu về thanh khoản và các trạng thái thanh khoản của ngân hàng 2.1 Thanh khoản ngân hàng Theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (2008), thanh khoản được định nghĩa là khả năng của ngân hàng để có được nguồn tiền cần thiết để đáp ứng các nghĩa vụ khi đến hạn mà không phải chịu bất kỳ tổn thất đáng kể.
Thực tế đồng ý rằng tất cả các doanh nghiệp bao gồm các ngân hàng đều phải đối mặt với rủi ro thanh khoản. Rủi ro thanh khoản các ngân hàng là điều hiển nhiên từ các hoạt động của ngân hàng cung cấp thời gian đáo hạn không phù hợp từ các khoản tiền gửi và cho vay (tiền gửi ngắn hạn cho vay dài hạn). Kết quả là, các ngân hàng về cơ bản cần phải giữ không chỉ một nguồn vốn tối ưu mà còn duy trì mức thanh khoản cho hiệu quả và hoạt động. Theo Trương Quang Thông (2012), theo nghĩa hẹp, thanh khoản là khả năng biến đổi một tài sản nào đó ra tiền mặt một cách nhanh chóng, với một chi phí thấp nhất có thể.
Một cách đầy đủ hơn, dựa vào cả hai tiếp cận từ tài sản và nguồn vốn, thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu khác nhau của ngân hàng. Một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi thành tiền thấp và thời gian chuyển đổi thành tiền nhanh, trong khi đó, nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh.2 Các trạng thái thanh khoản của ngân hàng 8 Trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định, với các chi tiết về nguồn và sử dụng nguồn thanh khoản có thể được các nhà quản trị thiết lập để phục vụ nhu cầu quản trị thanh khoản. Nguồn và sử dụng thanh khoản, hay nói cách khác, cung và cầu thanh khoản bao gồm: - Cung thanh khoản: là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng; - Cầu thanh khoản: là các khoản vốn làm giảm ngân quỹ của ngân hàng, là các nhu cầu vốn cho các hoạt động khác nhau của ngân hàng.1: Tóm tắt những nghiệp vụ tiêu biểu cấu thành cung và cầu thanh khoản: Nguồn cung cấp thanh khoản Nguồn cầu thanh khoản - Tiền gửi của khách hàng - Khách hàng rút tiền từ tài khoản - Doanh thu từ việc bán các dịch vụ phi - Yêu cầu vay vốn từ những khách tiền gửi hàng chất lượng tín dụng cao - Thanh toán nợ của khách hàng - Thanh toán các khoản vay phi tiền - Bán tài sản gửi - Vay từ thị trường tiền tệ - Chi phí bằng tiền và thuế xuất hiện trong quá trình sản xuất và cung cấp dịch vụ - Thanh toán cổ tức bằng tiền Nguồn: Rose (2004) Trạng thái thanh khoản ròng: Những nguồn cung và cầu thanh khoản đa dạng ở trên là yếu tố quyết định trạng thái thanh khoản của ngân hàng. Trong bất kỳ một giai đoạn nào, thông qua bảng thiết lập cung cầu thanh khoản, chúng ta có thể tính ra trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng: Trạng thái thanh khoản ròng = Cung thanh khoản – Cầu thanh khoản Như vậy có thể xảy ra 3 trường hợp sau đây: 9 Trạng thái thanh khoản cân bằng: NLP = 0.
Điều này khó có thể xảy ra trong thực tế. Thặng dư thanh khoản, khi NLP > 0 Thiếu hụt thanh khoản, khi NLP < 0 Thặng dư hay thiếu hụt thanh khoản đều diễn tả tình trạng mất cân bằng của ngân hàng. Trường hợp thặng dư thanh khoản thường xảy ra khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, thiếu những cơ hội đầu tư và kinh doanh. Thặng dư thanh khoản cũng xảy ra khi ngân hàng thiếu những phương pháp và khả năng tiếp cận thị trường, khách hàng, Các nguyên nhân khác gây ra thặng dư còn có: ngân hàng không khai thác những tài sản có khả năng sinh lời, hoặc nguồn vốn tăng trưởng quá nhanh so với quy mô hoạt động và khả năng quản lý.
Các giải pháp để giải tỏa tình trạng thặng dư thanh khoản bao gồm: mua các chứng khoán (chính phủ) làm dự trữ thứ cấp, cho vay trên thị trường liên ngân hàng…. Thiếu hụt thanh khoản là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy ngân hàng đang ở trong tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng. Hậu quả tiếp theo có thể khiến ngân hàng mất dần các khoản tiền gửi cũ vì áp lực rút tiền ngày càng gia tăng, không thể thu hút thêm các khoản tiền gửi mới do sự dè dặt của công chúng đối với ngân hàng, một số ngân hàng thì ở trong tình thế cho vay hỗ trợ một cách miễn cưỡng vì phải huy động vốn với lãi suất cao hơn lãi suất cho vay, càng làm suy giảm hơn nữa lợi nhuận ngân hàng. Ngân hàng không có đủ vốn để hoạt động, phải sử dụng các biện pháp bù đắp bao gồm: bán dự trữ thứ cấp, vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng, vay tái chiết khấu từ ngân hàng trung ương,….
Theo Aspachs và cộng sự (2005), có ba cơ chế mà các ngân hàng có thể sử dụng để chống lại cuộc khủng hoảng thanh khoản: (i) Các ngân hàng có bộ đệm của tài sản lưu động ở phía bên tài sản của bảng cân đối. Một bộ đệm đủ lớn của các tài sản như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng trung ương và các ngân hàng khác, chứng khoán nợ do chính phủ và chứng khoán tương tự làm giảm xác suất khi nhu cầu thanh khoản đe dọa sự tồn tại của các ngân hàng.(ii) chiến lược thứ hai được kết nối với nguồn vốn của bảng cân đối. Các ngân hàng có thể dựa vào thị trường liên ngân 10 hàng, nơi họ vay từ các ngân hàng khác trong trường hợp có nhu cầu thanh khoản. Tuy nhiên, chiến lược này có liên kết chặt chẽ với rủi ro thanh khoản của thị trường.
(iii) Các chiến lược cuối cùng cũng liên quan đến nguồn vốn của bảng cân đối. Các ngân hàng trung ương thường đóng vai trò như một người cho vay cuối cùng để cung cấp hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp cho các ngân hàng thiếu thanh khoản và cung cấp thanh khoản trong trường hợp thiếu hụt thanh khoản trên toàn hệ thống.3 Đo lường khả năng thanh khoản của ngân hàng 2.1 Phương pháp khe hở tài trợ Khe hở tài trợ là chênh lệnh giữa số dư bình quân của các khoản cho vay và số dư bình quân vốn huy động. Phương pháp này với hai thực tế đơn giản là: Khả năng thanh khoản của ngân hàng tăng khi tiền gửi tăng và cho vay giảm. Khả năng thanh khoản giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng.
Ngân hàng ước lượng nhu cầu thanh khoản của các tháng, quý trong năm. Khi nguồn tạo ra thanh khoản và nhu cầu sử dụng thanh khoản không cân bằng với nhau, ngân hàng sẽ đối mặt với khe hở tài trợ. Khe hở tài trợ = Tổng dư nợ tín dụng trung bình - Tổng nguồn vốn huy động trung bình Nếu khe hở tài trợ là dương thì ngân hàng buộc phải bù đắp bằng các khoản tiền mặt và các tài sản có tính thanh khoản hoặc vay nợ trên thị trường tiền tệ.2 Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn Với phương pháp này, ngân hàng tiến hành theo 2 bước. Đầu tiên, chia các khoản tiền gửi và các nguồn khác thành các loại trên cơ sở ước lượng xác suất (khả năng) rút tiền của khách hàng.