CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT LẠM PHÁT VÀ MÔ HÌNH P-STAR 3. Định nghĩa lạm phát và cách đo lường “Lạm phát (inflation) là sự tăng lên của mức giá cả chung theo thời gian” (Mankiw, 2003). Định nghĩa này cũng ngụ ý rằng lạm phát không phải là hiện tượng giá của một vài hàng hoá hay nhóm hàng hoá nào đó tăng lên. Và nó cũng không phải là hiện tượng giá cả chung tăng lên “một lần”.
Nếu sự tăng lên một lần của giá cả thì hiện tượng này chỉ dừng là lại một cú sốc về giá chứ chưa phải là lạm phát. Lạm phát là sự tăng giá “liên tục”. Ngay từ đầu, định nghĩa này cũng đã tạo ra những câu hỏi cần được trả lời thấu đáo. Thế nào là giá cả chung? Thế nào là tăng một lần? Để giảm bớt sự tranh luận thế nào là nhóm hàng cá biệt hoặc thế nào là sự tăng lên một lần hay liên tục, các nhà kinh tế thống kê đề xuất ra các loại lạm phát mang tính “chính xác” với định nghĩa của nó hơn như là lạm phát cơ bản (core inflation) hay lạm phát cơ sở (underlying inflation).
Với các chỉ số lạm phát này, bằng các phương pháp thống kê khác nhau, các nhà thống kê tìm cách loại trừ đi các biến động nhất thời như các cú sốc về giá dầu, yếu tố thời tiết …để thấy được xu hướng cơ bản và ổn định của giá cả.1 Về mặt tính toán, lạm phát là phần trăm thay đổi của chỉ số giá chung trong nền kinh tế theo từng giai đoạn, nó có thể là tháng, quí hoặc năm. 1 Có thể tham khảo bài “Better measures of core inflation” của Julie K. Smith, bài trình bày tại Hội thảo Đo lường Giá cả cho Chính sách tiền tệ (Price Measuring ofr Monetary Policy) tổ chức tại Federal Reserve Bank of Dallas ngày 24-25/5/2007 tại: http://www.org/news/research/2007/07price. Trong luận văn này, khái niệm lạm phát hiểu một cách tổng quát là sự tăng lên của mức giá chung.
Khi đề cập đến lạm phát cụ thể của Việt Nam thì lạm phát tính theo CPI và lạm phát tính theo GDPdeflator được sử dụng. Hiện tại ở Việt Nam chưa công bố các chỉ số lạm phát cơ bản. 6 Để đo lường mức giá chung này, các nhà thống kê xây dựng hai chỉ số giá để đo lường. Thứ nhất là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và thứ hai là GDP điều chỉnh (GDPdeflator).
Cả hai chỉ số này đều tính toán mức giá trung bình (có trọng số) của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế. Sự khác biệt duy nhất giữa hai loại chỉ số này là quan điểm của rổ hàng hoá làm trọng số tính toán. CPI là một tỷ số phản ánh giá của một rổ hàng hoá trong nhiều năm so với chính giá của rổ hàng đó ở một năm nào đó. Thống kê gọi đó là năm cơ sở hay năm gốc (based year).
Nghĩa là, rổ hàng hoá được lựa chọn để tính giá là không thay đổi trong nhiều năm. Chỉ số giá này phụ thuộc vào năm được chọn làm gốc và sự lựa chọn rổ hàng hoá tiêu dùng. CPI có một số nhược điểm cơ bản. Thứ nhất, mức độ bao phủ của chỉ số giá này chỉ giới hạn đối với một số hàng hoá tiêu dùng và do vậy không phản ảnh biến động giá của hàng hoá tư bản.
Thứ hai, trọng số cố định dựa vào tỷ phần chi tiêu đối với một số hàng hoá cơ bản của người dân thành thị mua vào năm gốc và do vậy nó không phải ảnh đúng và đầy đủ những cơ cấu chi tiêu khác nhau trong toàn xã hội, đặc biệt ở những xã hội có sự phân tán nông thôn – thành thị. Thứ ba, bởi vì trọng số của rổ hàng hoá là cố định ở một năm “gốc”, do vậy không phản ánh sự biến đổi trong cơ cấu hàng hoá tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong phân bổ chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hoá khác nhau theo thời gian. GDPdeflator, thì ngược lại với CPI, là một tỷ số phản ánh giá của một rổ hàng hoá trong nhiều năm so với giá của chính rổ đó nhưng với giá của năm gốc. Như vậy, rổ hàng hoá được lựa chọn để tính giá là có sự khác biệt trong giai đoạn tính toán.
Về cơ bản, sự khác biệt giữa các rổ hàng hoá trong các thời điểm tính giá là không nhiều bởi vì cơ cấu tiêu dùng của dân chúng thường mang tính ổn định trong ngắn hạn. GDPdeflator là loại chỉ số có mức bao phủ rộng nhất. Nó bao gồm tất cả các hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế và trọng số tính toán được điều chỉnh tuỳ thuộc vào mức độ đóng góp tương ứng của các loại hàng hoá và dịch vụ 7 vào giá trị gia tăng. Về mặt khái niệm, đây là chỉ số đại diện tốt nhất cho việc tính toán tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, chỉ số giá này không phản ánh trực tiếp sự biến động trong giá hàng nhập khẩu cũng như sự biến động của tỷ giá hối đoái. Nhược điểm chính của chỉ số giá này là không thể hiện được sự thay đổi của chất lượng hàng hoá khi tính toán tỷ lệ lạm phát. Hơn nữa, về mặt thống kê chỉ số giá này thường được tính toán chậm hơn so với CPI và có thể phản ảnh trễ diễn biến giá của nền kinh tế vì nó được tính toán căn cứ vào GDP thực và GDP danh nghĩa, mà kết quả thống kê của hai loại GDP này trong nền kinh tế thường được công bố trễ từ một quí đến một năm (tuỳ vào cơ quan thống kê của từng quốc gia). Bởi vì tính chất khác biệt như trên, về mặt lý thuyết, CPI thường phóng đại mức giá sinh hoạt.
Còn đối với GDPdeflator thì ngược lại, nghĩa là có khuynh hướng đánh giá thấp mức giá này (Chung, 2002).2 Chính vì sự thiếu hoàn hảo của cả hai chỉ số, một chỉ số trung bình nhân của cả CPI và GDPdeflator được đề nghị và gọi là chỉ số Fisher (Fisher Index) theo tên của nhà kinh tế học Irving Fisher.3 Ba chỉ số trên là giá trị cơ sở, các cơ quan thống kê của các nước có thể ước tính chỉ số giá theo một số đặc điểm khác nhau nhằm phục vụ cho những phân tích khác nhau của nền kinh tế. Ví dụ như chỉ số giá tiêu dùng ở nông thôn, thành thị, chỉ số giá bán buôn, chỉ số giá công nghiệp, chỉ số giá nhập khẩu,… Tóm lại, với một định nghĩa đơn giản, song về thực nghiệm thì có nhiều cách để đo lường lạm phát và nó tuỳ thuộc vào chỉ số giá chung nào của nền kinh tế được áp dụng. Cho dù bằng phương pháp nào đi chăng nữa thì vẫn có những hạn chế hoặc về phương pháp luận lẫn thực hành. Để giảm bớt hai sai lầm này, việc phân tích lạm phát phải dựa trên nhiều chỉ số đối chứng khác nhau và trong một bối cảnh thời gian 2 Phạm Chung và Trần Văn Hùng, 2002, Kinh tế Vĩ mô Phân tích, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
3 Phụ lục I trình bày công thức tính toán 3 chỉ số giá vừa nêu. 8 tương đối dài để tránh các nhận định nhất thời. Đồng thời sự thiếu tin cậy này cũng là một phần nguyên nhân của các cuộc tranh luận không chỉ trong vấn đề tính toán mà còn làm cho các phân tích căn nguyên của lạm phát trở nên phức tạp.2 bên dưới chúng tôi tiếp tục trình bày sự tranh luận này. Quan điểm các trường phái kinh tế vĩ mô về nguyên nhân lạm phát Có lẽ, định nghĩa lạm phát đơn giản bao nhiêu thì giải thích nguyên nhân dẫn đến lạm phát lại phức tạp bấy nhiêu.
Về mặt lý thuyết, giá cả tổng quát trong nền kinh tế là giá cân bằng giữa tổng cung và tổng cầu hàng hoá và dịch vụ. Và do vậy, một sự tăng lên liên tục của giá có thể bắt nguồn từ sự tăng lên liên tục của tổng cầu hoặc tổng cung và cũng có thể là cả hai. Nếu giá cả tăng lên bắt nguồn từ sự tăng lên của phía cầu nhanh hơn phía cung thì gọi là lạm phát cầu kéo (demand-pull inflation); và ngược lại nếu chi phí của các doanh nghiệp tăng lên do tiền lương tăng, lãi suất, thuế hoặc giá cả đầu vào nhập khẩu tăng…khi đó tổng cung bị sụt giảm, hàng hoá thiếu hụt và làm giá tăng lên thì gọi là lạm phát chi phí đẩy (cost-push inflation). Trên thực tế, không phải lúc nào cũng dễ dàng để phân biệt đâu là sự tăng lên của lạm phát bắt nguồn từ chi phí đẩy hay là cầu kéo.
Hơn nữa, lạm phát hầu hết là sự biến động của kết quả tổng hợp từ phía cung lẫn phía cầu. Điều này dẫn đến sự cần thiết phải phân tích nhân tố tạo ra lạm phát ở các hướng có tính khả thi cao hơn, đặc biệt đối với khả năng cung cấp những công cụ cho chính sách kiểm soát lạm phát. Cùng là chủ đề lạm phát, nhiều trường phái kinh tế khác nhau có cách tiếp cận khác nhau. Chẳng hạn, có sự khác biệt giữa lạm phát trong ngắn hạn và dài hạn; lạm phát giữa nền kinh tế đóng so với nền kinh tế mở; lạm phát trong cơ cấu thị trường cạnh tranh hoàn hảo hay độc quyền; lý thuyết lạm phát với giả định thông tin là hoàn hảo hay không hoàn hảo ….
Các mục bên dưới, chúng tôi trình bày những nội dung chính về sự tranh luận có liên quan đến lạm phát của các nhóm trường phái kinh tế vĩ mô từ cổ điển đến hiện đại. Một cách tổng quát, có bốn nhóm tiếp cận để giải thích lạm phát: nhóm thứ 9 nhất, lạm phát bắt nguồn chủ yếu là từ tiền tệ; nhóm thứ hai là lạm phát bắt nguồn từ những nhân tố phi tiền tệ; nhóm thứ ba là lạm phát bắt nguồn từ kỳ vọng và nhóm cuối cùng, thứ tư, là lạm phát bắt nguồn từ các yếu tố kinh tế chính trị. Cũng nên lưu ý rằng, trong từng nhóm này lại có những quan điểm tranh luận khác nhau. Chẳng hạn như, mặc dù cùng đồng ý với nhau khối tiền hay tốc độ tăng cung tiền trong nền kinh tế là nguyên nhân chính tạo ra lạm phát.
Nhưng giữa các nhà kinh tế trong nhóm Tân cổ điển (neo-classical) lại giải thích cơ chế lan truyền khác với nhóm của những nhà kinh tế gọi là trường phái tiền tệ (monetarism). Lạm phát là một hiện tượng của tiền tệ. Quan điểm của Cổ điển và Tân cổ điển Những nhà kinh tế học Cổ điển (classical) và Tân cổ điển (neo-classical)4 sử dụng thuyết số lượng tiền (quantity theory of money) để giải thích cho lạm phát.