PHẦN MỞ ĐẦU I. Kinh tế Việt Nam 20 năm sau mở cửa đã đạt đƣợc nhiều thành tựu to lớn, từ nền kinh tế bao cấp, trì trệ bị bao vây cấm vận, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, đến hôm nay, sau 20 năm đổi mới, dƣới sự lãnh đạo của Đảng, nền kinh tế nƣớc ta đã có những bƣớc tiến vững vàng, tạo đà cho thế kỷ phát triển mới của đất nƣớc. Từ năm 1996 đến năm 2000 đất nƣớc đã đạt đƣợc nhịp độ tăng trƣởng cao. Tốc độ tăng trƣởng GDP bình quân của 10 năm (1990-2000) đạt 7,5%; năm 2000 so với năm 1990, GDP tăng hơn 2 lần.
Trong 5 năm (2001-2005) của nhiệm kỳ Đại hội IX, GDP bình quân tăng gần 7,5%; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể, nguồn lực phát triển trong các thành phần kinh tế đã đƣợc huy động khá hơn; nhiều lợi thế so sánh trong từng ngành, từng vùng đã đƣợc phát huy. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế đƣợc cải thiện. Việt Nam đã tham gia hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế trên các cấp độ và trong các lĩnh vực kinh tế then chốt (nhƣ thƣơng mại dịch vụ, lao động, đầu tƣ, khoa học và công nghệ. Đặc biệt là, nƣớc ta đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), WTO, đã không ngừng mở rộng các quan hệ kinh tế song phƣơng và tiến tới tham gia liên kết kinh tế toàn cầu.
Đến năm 2005, nƣớc ta đã có quan hệ thƣơng mại với 221 nƣớc và vùng lãnh thổ, ký 90 hiệp định thƣơng mại song phƣơng, trong đó, nổi bật là Hiệp định Thƣơng mại với Mỹ, tạo điều kiện mở rộng giao lƣu hàng hoá với nƣớc ngoài và sẵn sàng ra nhập tổ chức thƣơng mại quốc tế. Trong giai đoạn nền kinh tế thị trƣờng từng bƣớc toàn cầu hóa, việc mở rộng mối quan hệ giao thƣơng với các quốc gia khác là việc cần thiết. Các vấn đề về thanh toán, so sánh, định giá, đánh giá về mặt giá trị và hiệu quả kinh tế ngày càng trở nên phức tạp và cần phải có một đại lƣợng để quy đổi. Vì thế tỷ giá hối đoái trở thành một phần không thể thiếu trong các mối quan hệ giữa các quốc gia.
Tính cấp thiết của đề tài 2 Việc nghiên cứu về tỷ giá hối đoái là việc làm không thể thiếu trong giai đoạn hiện nay. Trong thời gian vừa qua, sau hơn một năm tỷ giá hối đoái có vẻ yên ắng đã có nhiều biến động gây ảnh hƣởng không ít đến các doanh nghiệp, các tổ chức cũng nhƣ toàn nền kinh tế. Theo ông Nguyễn Quang Huy - Vụ trƣởng Vụ Quản lý Ngoại hối (NHNN) cho rằng: Điều hành tỷ giá luôn là bài toán khó, đặc biệt là trong một nền kinh tế có độ mở lớn và hội nhập sâu nhƣ Việt Nam. Khi định đƣa ra bất cứ chính sách nào về tỷ giá, phải cân nhắc nhiều yếu tố, trong đó có 5 yếu tố chủ chốt: thứ nhất, định hƣớng điều hành của Chính phủ; thứ hai, định hƣớng điều hành chính sách tiền tệ; thứ ba, các yếu tố vĩ mô nhƣ diễn biến lạm phát, xuất nhập khẩu, nợ nƣớc ngoài, đầu tƣ nƣớc ngoài, cán cân thanh toán quốc tế.; thứ tƣ, diễn biến thị trƣờng quốc tế, thị trƣờng tiền tệ, ngoại hối trong nƣớc, đặc biệt là diễn biến cung cầu ngoại tệ; và đƣa ra kỳ vọng, đặc biệt kỳ vọng lạm phát.
Xuất phát từ các vấn đề lý luận và diễn biến thực tiễn đó tác giả đã tiến hành lựa chọn đề tài ”Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá tại Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU A. Tình hình nghiên cứu nƣớc ngoài Kazi Mohammed Kamal Uddin, G. Azmal Ali Quaosar, Dulal Chandra Nandi (2013), Các nhân tố tác động đến sự biến động của tỷ giá của Bangladesh - thời kì hội nhập Nghiên cứu đánh giá các yếu tố quyết định tỷ giá giữa đồng đô la Mỹ và Bangladesh bằng phƣơng pháp tiền tệ.
Dữ liệu theo tháng từ tháng 1/1984 đến tháng 4/2012 đƣợc dùng để kiểm tra biến động tỷ giá của hai đồng tiền này trong ngắn hạn và dài hạn. Nghiên cứu cho thấy tỷ giá thực tế và các biến kinh tế vĩ mô có mối quan hệ với nhau. Nó cho thấy rằng lƣợng tiền giao dịch và sự gia tăng gánh nặng trả nợ làm giảm giá trị thực tế của đồng tiền, trong khi tăng dự trữ ngoại hối làm tăng giá trị thực tế của đồng tiền. Hơn nữa, sự bất ổn chính trị có tác động tiêu cực đến giá trị của đồng nội tệ.
Tom Bernhardsen, Oistein Roisland (2000), Các nhân tố tác động đến tỷ giá đồng Krone 3 Nghiên cứu này xem xét việc tỷ giá của đồng krone và đồng Mark Đức bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố nhƣ giá dầu và biến động thị trƣờng tài chính quốc tế. Nghiên cứu đƣợc thực hiện trong giai đoạn 1993 – 2000. Trong dài hạn, tỷ giá Krone chịu sự phụ thuộc vào giá dầu và sự khác biệt về giá giữa Na Uy và các nƣớc khác. Trong ngắn hạn, tỷ giá Krone cũng bị ảnh hƣởng bởi bất ổn tài chính liên quốc gia và sự khác biệt giữa lãi suất với các nƣớc khác.
ShabanaParveen Hazara, Abdul Qayyum Khan, Muammad Ismail (2012), Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá ở Pakistan Nghiên cứu đƣợc tiến trong giai đoạn 1975 – 2010. Các biến số chính đƣợc sử dụng để kiểm tra tác động là lạm phát, tốc độ tăng trƣởng, nhập khẩu và xuất khẩu và biến động tỷ giá. Nghiên cứu cho thấy rằng lạm phát là yếu tố chính ảnh hƣởng đến tỷ giá ở Pakistan. Kết quả còn cho thấy rằng biến quan trọng thứ hai tác động đến tỷ giá là tốc độ tăng trƣởng kinh tế, trong khi đơn đặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu đứng hạng thứ ba và thứ tƣ.
Magdalena Kąkol, Katarzyna Twarowska (2014), Các yếu tố quyết định sự thay đổi của tỷ giá đồng Zloty Ba Lan và đồng EURO Số liệu nghiên cứu đƣợc lấy từ năm 2000-2013 và phƣơng pháp hồi quy OLS đã đƣợc sử dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy số dƣ tài khoản tài chính và tỷ lệ lạm phát là những yếu tố quan trọng nhất quyết định mức độ tỷ giá EUR / PLN. Lãi suất thị trƣờng là yếu tố quan trọng thứ ba xác định mức tỷ giá Zloty và đồng Euro. Các biến quan trọng thứ tƣ mang lại sự thay đổi trong tỷ giá Zloty là thâm hụt ngân sách, trong khi tăng trƣởng kinh tế và tài khoản vãng lai là ít quan trọng hơn.
Dựa trên những bằng chứng rõ ràng là ở Ba Lan chính sách tài khóa và tiền tệ đóng một vai trò quan trọng trong việc ảnh hƣởng đến sự thay đổi tỷ giá Zloty. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Phạm Thị Hoàng Anh, Lương Thị Thu Hà (2012), Cán cân thương mại Việt Nam – Trung Quốc trong bối cảnh quốc tế hoá Nhân Dân tệ Để đánh giá tác động của tỷ giá tới cán cân thƣơng mại Việt Nam - Trung Quốc về mặt định lƣợng, nhóm tác giả sử dụng mô hình hồi quy đơn trong đó biến phụ thuộc bao gồm: Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Trung Quốc (EX), kim ngạch nhập 4 khẩu từ Trung Quốc (IM), và cán cân thƣơng mại song phƣơng giữa hai quốc gia (EXIM). Về tác động của tỷ giá tới giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc: Mối quan hệ giữa tỷ giá và giá trị xuất khẩu thay đổi trong ngắn hạn, dài hạn và sự vận động của chúng tuân theo qui luật của hiệu ứng tuyến J. Trong ngắn hạn là mối quan hệ ngƣợc chiều, trong dài hạn mối quan hệ đƣợc chỉ ra ở đây là thuận chiều.
Về tác động của tỷ giá tới giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc: Trong ngắn hạn, mối quan hệ đƣợc chỉ ra ở đây là thuận chiều, trong dài hạn, mối quan hệ ngƣợc chiều Về tác động của tỷ giá tới cán cân thƣơng mại của Việt Nam trong ngắn hạn, khi tỷ giá và mức thâm hụt của cán cân thƣơng mại có mối quan hệ cùng chiều, trong dài hạn, mối quan hệ này lại là ngƣợc chiều. Hạ Thị Thiều Dao, Phạm Thị Tuyết Trinh (2010), Mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thanh toán Nhóm tác giả xem xét mối quan hệ qua lại giữa tỷ giá và BOP của Việt Nam, giai đoạn từ năm 1999 -2009. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ xuất khẩu trên nhập khẩu và tỷ giá thực có mối quan hệ cùng chiều. Điều này cho thấy tình trạng thâm hụt lớn của CCTM Việt Nam hiện nay có một phần nguyên nhân từ việc định giá cao VND so với các đồng tiền khác.
Trong các giải pháp kiểm soát tình trạng nhập siêu, điều chỉnh giảm giá VND là một giải pháp đáng cân nhắc. Phạm Hồng Phúc (2009), Tỷ giá thực và cán cân thương mại Việt Nam Nghiên cứu tiến hành đánh giá những tác động của tỷ giá đối với xuất nhập khẩu. Dữ liệu tỷ giá USD/VND và trị giá xuất nhập khẩu đƣợc lấy theo quý từ quý 1 năm 1999 đến quý 4 năm 2008. Kết quả hồi quy cho thấy tỷ giá thực đa phƣơng và tỷ lệ xuất khẩu trên nhập khẩu có mối quan hệ đồng biến.
ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU: A. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là tỷ giá của Việt Nam và các nhân tố ảnh hƣởng đến tỷ giá bao gồm: Lạm phát, Tốc độ tăng trƣởng, giá trị xuất khẩu, giá trị nhập khẩu. Phạm vi nghiên cứu 5 Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ, nghiên cứu tập trung xem xét diễn biến tỷ giá và các nhân tố tác động đến tỷ giá Việt Nam. Thời gian nghiên cứu: số liệu phục vụ cho nghiên cứu đƣợc lấy từ ngày 01/01/2002 đến ngày 31/12/2013.
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU A. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá các nhân tố tác động đến tỷ giá Việt Nam giai đoạn 2002 - 2013 - Khuyến nghị các giải pháp ổn định tỷ giá B. Câu hỏi nghiên cứu: (1) Thực trạng về sự biến động tỷ giá tại Việt Nam giai đoạn 2002 – 2013 nhƣ thế nào? (2) Các nhân tố nào ảnh hƣởng đến tỷ giá? Mức độ ảnh hƣởng đó nhƣ thế nào? (3) Làm thế nào để ổn định tỷ giá? C.