Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Tổng quan về chính sách tiền tệ và tỷ suất sinh lợi chứng khoán, các nghiên cứu thực nghiệm. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ TỶ SUẤT SINH LỢI CHỨNG KHOÁN, CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Chương này sẽ trình bày tổng quan các lý thuyết liên quan đến đề tài và tóm tắt một số nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của chính sách tiền tệ lên tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu.1 Tổng quan lý thuyết 2.1 Chính sách tiền tệ 2.1 Khái niệm Chính sách tiền tệ là hệ thống biện pháp của một nhà nước trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ, nhằm điều hành khối lượng cung và cầu tiền tệ bằng các biện pháp như phát hành tiền, chống lạm phát, dự trữ pháp định và quản lý dự trữ ngoại tệ, tái chiết khấu các kì phiếu và lãi suất, chính sách lãi suất.
để đáp ứng kịp thời nhu cầu giao dịch, ổn định sức mua của đồng tiền, phát triển sản xuất, kinh doanh trong một giai đoạn nhất định. Là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách và cơ chế quản lí kinh tế của nhà nước, trên cơ sở vận dụng đúng đắn quy luật của sản xuất hàng hoá và quy luật lưu thông tiền tệ để tổ chức tốt quá trình chu chuyển tiền tệ. Chính sách tiền tệ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của sản xuất - kinh doanh, thực hiện sự kiểm tra có hiệu lực của nhà nước ở tầm vĩ mô cũng như ở tầm vi mô. Chính sách tiền tệ là một hệ thống các biện pháp do ngân hàng trung ương thực hiện nhằm tác động lên mức độ hoạt động kinh tế.
Mục tiêu hàng đầu của ngân hàng trung ương ở nhiều nước là kiểm soát lạm phát và giám sát hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động của cơ quan này cũng ảnh hưởng đến các khía cạnh khác của nền kinh tế, như mức GDP thực, thất nghiệp, tỉ giá hối đoái và lãi suất.2 Nội dung Nói đến tiền là nói đến sự ổn định của tiền, mà sự ổn định của tiền liên quan mật thiết và chịu sự ràng buộc bởi hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng. Thông qua các thao tác của mình, Ngân hàng Trung ương (NHTW) có thể làm thay đổi tiền tệ trên tất cả các mặt: lưu lượng, chi phí, giá trị. Toàn bộ các thao tác có liên quan đến tiền của NHTW luôn nằm trong hệ thống những ý đồ mang tính chiến lược mà người ta gọi là chính sách tiền tệ.
Nếu chính sách tài chính tập trung vào thành phần, kết cấu các mức chi phí, thuế khóa của Nhà nước, thì chính sách tiền tệ quốc gia lại tập trung vào việc giải quyết khả năng thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm:. tế, tạo điều kiện thúc đẩy thị trường tiền tệ, thị trường vốn theo những quỹ đạo đã định. các tổ chức tín dụng khác. hợp lý nhằm ổn định và thúc đẩy kinh tế đối ngoại, hướng tới mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hóa.
Nội dung quan trọng nhất của chính sách tiền tệ là việc cung ứng tiền cho nền kinh tế. Việc cung ứng tiền có thể thông qua con đường tín dụng, cũng có thể thông qua hoạt động của thị trường mở (mua bán giấy tờ có giá), thị trường hối đoái (mua bán ngoại tệ) và để điều tiết mức tiền cung ứng, NHTW các nước sử dụng các công cụ khác nhau như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc. Chính vì thế mà chính sách tiền tệ tác động đến nền kinh tế là một điều hiển nhiên, bởi nó được sinh ra là để điều tiết tiền tệ, mà sự vận động của tiền tệ trong nền kinh tế lại như máu lưu thông trong cơ thể con người. Không khó khăn nếu muốn chứng minh về vấn đề này, nhất là trong giai đoạn gần đây – chính phản ứng của thị trường đối với những thay đổi của chính sách tiền tệ sẽ là biểu hiện rõ 9 nhất về những tác động của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế.
Những thông tin hàng ngày, hàng giờ về sự suy giảm và khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ “đại dịch” về cho vay bất động sản ở Mỹ là minh chứng rõ nhất cho thấy những tác động từ chính sách tiền tệ không chỉ mang lại sự tăng trưởng kinh tế mà còn có thể mang lại hiểm họa cho cả thế giới. Tình hình kinh tế Việt Nam trong thời gian gần đây, ngoài những nguyên nhân khách quan, chủ quan, trong nước, ngoài nước thì trong đó, chính sách tiền tệ cũng đóng một vai trò không kém phần quan trọng.3 Công cụ của chính sách tiền tệ Nhóm công cụ lãi suất Lãi suất thể hiện chính sách tiền tệ của một quốc gia là mở rộng hay thu hẹp. Theo lý thuyết kinh tế, lãi suất có quan hệ ngược chiều với hoạt động sản xuất, lãi suất giảm kích thích nền kinh tế phát triển. Fama (1990) cho rằng một sự sụt giảm lãi suất sẽ làm giảm chi phí vay của doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất, qua đó gia tăng dòng tiền tương lai của doanh nghiệp vì thế giá chứng khoán sẽ tăng và ngược lại.
Mặt khác Asprem (1989) cho rằng lãi suất là suất sinh lợi an toàn cho nhà đầu tư gởi tiết kiệm so với các kênh đầu tư khác, nó có tương quan dương với tỷ lệ chiết khấu yêu cầu, do đó sẽ có tương quan âm với tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán. Các bằng chứng thực nghiệm đã ủng hộ quan điểm trên, cho thấy một mối quan hệ ngược chiều giữa lãi suất và tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán. * Công cụ tái cấp vốn: là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các Ngân hàng thương mại. Khi cấp một khoản tín dụng cho Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ.
* Công cụ lãi suất tín dụng: đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất. Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải 10 pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định. Nhóm công cụ điều chỉnh cung tiền/ tỷ lệ dự trữ bắt buộc * Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ. * Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán (cho vay) của các Ngân hàng thương mại.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng Là công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với một hạn mức tín dụng được quy định, ngân hàng nhà nước thông qua hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại, điều tiết tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế. Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ.
Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại hối. Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữ của đất nước. Chính sách tiền tệ với những công cụ khác nhau mà ngân hàng trung ương vận dụng cũng nhằm đạt được mục đích chung cho nền kinh tế.
Tác động của mỗi công cụ lên các mục tiêu có quan hệ có khi đồng biến, có khi nghịch biến với nhau. Việc sử dụng công cụ nào với mục tiêu nào trong giai đoạn nào là một nghệ thuật 11 của người làm chính sách, bởi mối quan hệ đa cộng tuyến giữa các công cụ có thể xuất hiện và làm chính sách mất tác dụng.2 Tỷ suất sinh lợi của chứng khoán Moyer và các cộng sự (1987) lưu ý rằng trong thực tế, tỷ suất sinh lợi định kỳ của chứng khoán j có thể được tính bằng cách sử dụng phương trình tuyến tính như sau: Rj=aj+bjRm+ej (2.1) Trong đó: Rj: tỷ suất sinh lợi của chứng khoán j aj: hằng số được xác định bằng hàm hồi quy bj: được tính bằng beta lịch sử của chứng khoán j Rm: tỷ suất sinh lợi của các chỉ số thị trường ej: sai số ngẫu nhiên Từ phương trình hồi quy trên cho thấy tỷ suất sinh lợi của chứng khoán j trong khoảng thời gian t chịu ảnh hưởng bởi tỷ suất sinh lợi của các chỉ số thị trường Rm. Khi dữ liệu đã được vẽ thành đồ thị với đường hồi quy thì ta có thể tính toán được hằng số a và hệ số hồi quy b. Hệ số hồi quy có thể được tính theo phương pháp “rise over run”.
Ví dụ, theo hình 2.1, khi rm tăng từ 0 lên 10% (run) thì ri tăng từ - 8,9% lên 7,1% (rise) và hệ số hồi quy b được tính như công thức sau: Rise Y 7,1 ( 8,9) 16,0 b beta 1,6 (2.2) Run X 10,0 0, o 10,0 Ta có thể ước tính tỷ suất sinh lợi của chứng khoán j dựa vào tỷ suất sinh lợi của các chỉ số thị trường Rm theo phương trình hồi quy 12 Hình 2.1: Đồ thị phương trình hồi quy Chính sách tiền tệ có thể được sử dụng để xác định lãi suất ngắn hạn trong mô hình định giá tài sản vốn ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty.