CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN AN NINH TÀI CHÍNH TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN AN NINH TÀI CHÍNH TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Những công trình nghiên cứu bàn về khái niệm, nội dung, các nhân tố ảnh hưởng tới an ninh tài chính trong điều kiện kinh tế thị trường Tác giả Tào Hữu Phùng (2004) trong “An ninh tài chính quốc gia. Lý luận – Cảnh báo – Đối sách” [46] đã phân tích làm rõ nhiều nội dung lý luận về an ninh tài chính trong phát triển và hội nhập quốc tế.
Tác giả đã xây dựng định nghĩa về an ninh tài chính, đó là mộ trạng thái tài chính ổn đinh, an toàn, vững mạnh và không bị khủng hoảng. Từ đó tác giả phân tích nội hàm, bản chất của an ninh tài chính. Theo tác giả, an ninh tài chính có thể được phân theo cấp hay pham vi quản lý, theo lĩnh vực, theo phạm vi địa lý, theo tính chất hay theo mức độ. Trong công trình nghiên cứu của mình tác giả đã xây dựng khung lý luận làm cơ sở nghiên cứu, đánh giá an ninh tài chính và đảm bảo an ninh tài chính, xây dựng hệ thống các tiêu thức chuẩn mực nghiên cứu và đánh giá an ninh tài chính, hệ thống các công cụ đảm bảo an ninh tài chính, cơ sở xác định hành lang an toàn và khả năng bảo đảm an ninh tài chính: an ninh tài chính vĩ mô, an ninh tài chính khu vực doanh nghiệp, an ninh tài chính trong khu vực tín dụng – ngân hàng, an ninh tài chính trong lĩnh vực đầu tư, an ninh tài chính trong lĩnh vực tài chính đối ngoại, an ninh tài chính đối với luân chuyển các luồng vốn trên thị trường tài chính.
Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích những cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa, tự do hóa đối với an ninh tài chính quốc gia. Theo tác giả toàn cầu hóa và tự do hóa là tất yếu khách quan, song bí quyết thành công là phải hội nhập có điều kiện, bước đi và lộ trình phù hợp. Đối với an ninh tài chính, mặt trái của toàn cầu hóa và tự do hóa kinh tế - tài chính là: dễ gây ra khủng hoảng tài chính nếu tự do hóa không luan an 9 được tiến hành theo những bước hợp lý và thiếu đồng bộ với những chính sách kinh tế vĩ mô khác; thị trường tài chính trong nước có thể bị thao túng bởi các thế lực bên ngoài, tội phạm tài chính có thể xuất hiện nhiều và phức tạp hơn. Tác giả đã tổng kết 5 nguy cơ chủ yếu mà toàn cầu hóa và tự do hóa kinh tế - tài chính tạo ra đối với an ninh tài chính là: (1) nguy cơ mất giá nội tệ do chính sách tỷ giá hối đoái không hợp lý và nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng chuyển vốn ra nước ngoài; (2) nguy cơ tiền tháo chạy do thiếu các biện pháp kiểm soát dòng vốn ngắn hạn; (3) nguy cơ vỡ nợ do sử dụng tiền vay ngắn hạn vào đầu tư dài hạn; (4) nguy cơ lây nhiễm khi nền kinh tế quốc gia chịu những cú sốc tài chính từ bên ngoài, nhất là những cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ.
Nguy cơ này cao hay thấp phụ thuộc vào “sức đề kháng” của mỗi nước dựa vào thực lực kinh tế - tài chính và mức độ đúng đắn của các chính sách kinh tế vĩ mô; (5) nguy cơ mất chủ quyền khi chính phủ có thể phải hy sinh một số mục tiêu chiến lược để đối phó với các nguy cơ khi thực hiện tự do hóa tài chính, đồng thời giảm khả năng độc lập trong hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội, nhất là khi xảy ra khủng hoảng tài chính. Phan Thị Bích Nguyệt (2006) trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Kiểm soát an ninh tài chính nhằm giảm thiểu rủi ro quốc gia trong tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam”[44] đã chỉ ra rằng, muốn đảm bảo an ninh tài chính thì cần phải nắm bắt được các nguyên nhân sâu xa gây ra bất ổn tài chính để từ đó có thể áp dụng hàng loạt các giải pháp một cách liên tục và có hệ thống. Tác giả cũng nhấn mạnh cần phải kiểm soát an ninh tài chính trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, vì quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là tự do hóa tài chính các nước sẽ phải đối mặt với rủi ro tài chính ngày càng cao và khủng hoảng tài chính trở thành mối đe dọa thường trực. Từ đó, tác giả phân tích những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế tới an ninh tài chính trên các lĩnh vực: tác động tới nguồn thu NSNN, tới cán cân vãng lai, rủi ro với các khoản nợ nước ngoài không kiểm soát… Tào Khánh Hợp (2008) trong “An ninh tài chính nhà nước của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” [21] đã có những phân tích về khái niệm an ninh tài chính nói chung.
Trong đó, tác giả đã đưa ra được khái niệm an ninh tài chính mà theo đó đã được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình và thường xuyên trích dẫn trong các luan an 10 công trình nghiên cứu. Theo tác giả, an ninh tài chính có thể được hiểu là sự ổn định, an toàn và phát triển vững mạnh của nền tài chính quốc gia. Từ đó tác giả phân tích rõ các thuật ngữ ổn đinh, an toàn, phát triển vững mạnh để làm rõ nội hàm của khái niệm an ninh tài chính. Phí Trọng Hiển (2009) trong “Ổn định tài chính”: các quan điểm và phương pháp tiếp cận hiện nay [18] đã tiếp cận an ninh tài chính dưới thuật ngữ “ổn định tài chính”.
Trong đó tác giả đi sâu phân tích tính phức tạp, phạm vi bao trùm của khái niệm ổn định tài chính, tác giả cũng chỉ ra không có khái niệm về “ổn định tài chính tuyệt đối” cũng giống như không tồn tại con người có sức khỏe ổn định tuyệt đối. Do đó, xem xét khái niệm ổn định tài chính, theo tác giả chỉ nên đặt ra ở mức độ tương đối. Trong nghiên cứu này tác giả phân tích 3 phương pháp tiếp cận với ổn định tài chính gồm: phương pháp tiếp cận chính diện (Xác định ổn định tài chính), phương pháp tiếp cận phản diện (Xác định mất ổn định tài chính) và phương pháp tiếp cận hỗn hợp. Theo tác giả, khi nghiên cứu về ổn định tài chính cần chú ý đến các đặc tính: sự đa dạng về tình trạng ổn định (không thể định nghĩa ở một dấu hiệu duy nhất), tính tương đối của ổn định tài chính, nền tảng niềm tin đối với hệ thống tài chính, khả năng hấp thụ các cú sốc của hệ thống tài chính… Cùng với đó, tác giả cũng phân tích mối tương quan giữa trách nhiệm thực thi và phạm trù ổn định tài chính.
Theo đó, với những cách định nghĩa khác nhau – theo nghĩa hẹp và rộng - về ổn định tài chính thì trách nhiệm của các nhà hoạch định, của ngân hàng trung ương có những sự thay đổi. Tác giả cũng phân tích làm rõ mối quan hệ giữa khái niệm ổn định tài chính và các khái niệm kinh tế khác như: ổn định tiền tệ, khủng hoảng tài chính, rủi ro hệ thống, tính vững chắc tài chính, tính mỏng manh của hệ thống tài chính và khả năng chống đỡ của hệ thống tài chính với các tác động và cú sốc bên ngoài, từ đó làm rõ hơn về khái niệm ổn định tài chính. Phan Thị Bích Nguyệt (2017) trong “Hội nhập quốc tế và sự cần thiết của kiểm soát an ninh tài chính”[43] đã chỉ ra rằng một hệ thống tài chính ổn định có thể trở nên bất ổn nếu các chính sách kinh tế vĩ mô không bền vững, các thỏa thuận dàn xếp về tỷ giá thiếu tính tin cậy, giám sát tài chính yếu kém, tính minh bạch tài chính luan an 11 không đầy đủ, kỷ luật thị trường trong khu vực ngân hàng và doanh nghiệp lỏng lẻo. Do vậy, muốn đảm bảo nền tài chính an toàn, bền vững, cần nắm bắt được các nguyên nhân sâu xa gây ra những bất ổn để có giải pháp ngăn chặn kịp thời các nguy cơ gây tổn hại cho hệ thống tài chính trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế.
Tác giả đã phân tích tác động của tự do hóa thương mại và tự do hóa tài chính đối với an ninh tài chính quốc gia, từ đó chỉ ra những yêu cầu về kiếm soát tài chính tại Việt Nam. Trong công trình này, tác giả cũng xây dựng được hệ thống các tiêu chuẩn, chỉ tiêu đánh giá an ninh tài chính: chỉ tiêu về nợ nước ngoài của quốc gia, khả năng đề kháng của doanh nghiệp, mức rủi ro trong hoạt động của hệ thống ngân hàng, tác động của thị trường tài chính… Jean-Pierre Allegret, Bernard Courbis, Philippe Dulbecco (2003) trong “Financial Liberalization and Stability of the Financial System in Emerging Markets: the institutional dimension of financial crises” [78] (Tự do hóa tài chính và sự ổn định của hệ thống tài chính ở các thị trường mới nổi: khía cạnh thể chế của các cuộc khủng hoảng tài chính) đã chỉ ra kể từ cuối những năm 80, các nền kinh tế mới nổi đã bắt đầu quá trình tự do hóa tài chính. Theo các tác giả, quá trình tự do hóa tài chính cũng đi kèm với sự gia tăng đáng kể số cuộc khủng hoảng ngân hàng, điều này đặt ra câu hỏi về sự phù hợp trong con đường mà các nước đã thực hiện. Theo đó, các tác giả đã nghiên cứu tự do hóa tài chính và bất ổn ngân hàng tiếp cận dưới góc độ thể chế.
Thứ nhất, việc bãi bỏ những quy định về khung lãi suất dẫn đến tăng mặt bằng lãi suất. Do sự không phù hợp về kỳ hạn liên quan đến chức năng chuyển đổi kỳ hạn của các trung gian ngân hàng, hoạt động của trung gian này có thể xấu đi khi bãi bỏ các quy định dẫn đến tăng chi phí tái cấp vốn ngân hàng. Đồng thời, lãi suất trên tài sản (lãi suất dài hạn) không phản ứng nhanh do thời hạn dài hơn. Thứ hai, tự do hóa tài chính đi kèm với mở cửa hệ thống tài chính.
Đối với các ngân hàng, việc mở cửa hệ thống tài chính có tác dụng mang lại khả năng huy động vốn trên thị trường chứng khoán nước ngoài: đó là hiện tượng sai lệch tiền tệ, trong đó các khoản tín dụng được cấp được đảm bảo bằng các cam kết tiền tệ ngắn hạn. Hiện tượng này là một yếu tố làm suy yếu trong trường hợp dòng vốn chảy ra luan an 12 ngoài.