Chương I : Giới Thiệu Chương II : Tổng Quan Về Lý Thuyết Chương III : Khảo Sát Mối Quan Hệ Giữa Nợ Công và Tăng Trưởng Kinh Tế Việt Nam 1986 – 2013 Chương IV: Phân Tích Thực Nghiệm Chương V : Kết Luận và Khuyến Nghị Trang 3 CHƢƠNG II TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 4.LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ. Tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng một cách bền vững luôn là mục tiêu và khát vọng của tất cả các quốc gia trong mọi thời đại. Có lẻ một trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhất và dai dẳng nhất trong kinh tế học là tìm hiểu các nhân tố khiến nền kinh tế tăng trưởng. Có tăng trưởng kinh tế mới có thể tạo tiền đề cho sự phát triển của đất nước, nâng cao mức sống của người dân một quốc gia.
Khái niệm tăng trƣởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng. Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc. Quy mô và tốc độ tăng trưởng là “cặp đôi” trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế.
Mặt số lượng biểu thị chiều rộng của tăng trưởng, được thể hiện thông qua các chỉ tiêu đánh giá quy mô và tốc độ tăng trưởng của thu nhập. Mặt chất lượng của tăng trưởng được thể hiện qua các tiêu chuẩn sau: (1) tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn, tránh được những tác động của các cú sốc từ bên ngoài; (2) Tăng trưởng theo chiều sâu, thể hiện thông qua sự đóng góp cao và không ngừng gia tăng của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP); (3) Đảm bảo nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; (4) Tăng trưởng kết hợp với bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển môi trường bền vững; (5) Hỗ trợ đổi mới thể chế dân chủ; (6) Đạt mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội, giảm đói nghèo và nâng cao đời sống của người dân. Tăng trưởng kinh tế diễn ra khi đường giới hạn khả năng sản xuất của một nước (PPF) dịch chuyển ra phía ngoài. Một sự gia tăng trong cung dài hạn được minh họa bằng sự dịch chuyển ra ngoài của đường PPF.1 Tăng trƣởng và đƣờng PPF trong dài hạn.
Các chỉ số đo lƣờng tăng trƣởng Theo hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng bao gồm: - Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): là tổng giá trị tính bằng tiền của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó trong một thời gian nhất định (thường là một năm). - Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): là tổng giá trị tính bằng tiền của những hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra từ các yếu tố sản xuất của mình trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Tăng trưởng kinh tế có thể được biểu thị bằng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một gia đoạn cụ thể. Như vậy, mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch về quy mô của nền kinh tế giữa hai kỳ mà chúng ta cần so sánh.
- Tốc độ tăng trƣởng kinh tế (y): được tính là phần trăm chênh lệch giữa quy mô GDP của một nền kinh tế ở hiện tại với quy mô GDP của nó ở thời kỳ trước đó. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (y) được thể hiện bằng đơn vị %. Công thức toán học xác định (y): y = dY/Y x 100% = (Yt – Yt-1)/ Yt-1 x 100% Trong đó: Yt là quy mô GDP của nền kinh tế vào năm t Yt-1 là quy mô của nền kinh tế năm t-1 y là tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm Trang 5 4. Tăng trƣởng kinh tế và các mô hình lý thuyết Để giải thích nguồn gốc tăng trưởng kinh tế các nhà kinh tế học dùng các mô hình kinh tế.
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả tập trung vào các mô hình sau đây. Mô hình tăng trƣởng kinh tế của J.Keynes (1936) Theo Keynes, để đảm bảo sự cân bằng kinh tế, khắc phục thất nghiệp và khủng hoảng thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết, mà cần phải có sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế để tăng tổng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất, đầu tư để đảm bảo việc làm và tăng thu nhập. Keynes cho rằng ngân sách nhà nước là một công cụ hữu hiệu trong việc kích thích đầu tư tư nhân cũng như tiêu dùng của chính phủ. Ông đi đến kết luận : Chính phủ phải thực hiện điều tiết bằng các chính sách kinh tế, những chính sách này nhằm tăng cầu tiêu dùng.
Ông cũng cho rằng Chính phủ có vai trò to lớn trong việc sử dụng những chính sách kinh tế: chính sách thuế, chính sách tiền tệ, lãi suất. nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Những chính sách can thiệp của chính phủ theo Ông đề nghị bao gồm : - Chính phủ sử dụng ngân sách để kích thích đầu tư (thông qua các đơn đặt hàng của Chính phủ, trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp). - Áp dụng nhiều biện pháp để tăng lợi nhuận, giảm lãi suất.
- Tăng khối lượng tiền trong lưu thông, lạm phát có mức độ. - Coi trọng hệ thống thuế, áp dụng thuế thu nhập lũy tiến để làm cho phân phối công bằng hơn. - Coi trọng đầu tư của Chính phủ vào khu vực công cộng, trợ cấp thất nghiệp,…như là một loại bơm trợ lực khi đầu tư tư nhân giảm sút. Như vậy trong mô hình tăng trưởng kinh tế của Keynes, chi tiêu công đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế – thông qua chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên của Chính phủ.
Mô hình tăng trƣởng kinh tế của Harrod và Domar (1940s) Mô hình xem xét quan hệ giữa tăng trưởng và nhu cầu về vốn, coi đầu ra của bất kỳ đơn vị kinh tế nào cũng đều phụ thuộc vào vốn đầu tư dành cho nó. Mô hình này sử dụng hệ số ICOR để đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế. Hệ số ICOR (hệ số gia tăng vốn và đầu ra) nói lên để tăng một đơn vị sản lượng cần có thêm Trang 6 bao nhiêu đơn vị tiết kiệm (cũng có nghĩa là phải có bao nhiêu đơn vị đầu tư tăng thêm). Hệ số này cũng cho biết trình độ kỹ thuật của sản xuất.
Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế phụ thuộc vào vốn đầu tư dành cho nó, quá trình đầu tư của chính phủ cho nền kinh tế chính là chi tiêu công bên cạnh đầu tư tư nhân nhằm cung cấp vốn để thúc đẩy tăng trưởng. Mô hình tăng trƣởng kinh tế của Cobb-Douglas (1946) Mô hình này cho rằng tổng mức cung (Y) của nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của sản xuất : lao động (L), vốn sản xuất (K), tài nguyên thiên nhiên được sử dụng (R), khoa học công nghệ (A). Nói cách khác hàm sản xuất có dạng: Y= F (L,K,R,A ) (1.1) Lý thuyết trên chọn hàm sản xuất dạng Cobb-Douglas để thể hiện tác động của các yếu tố đến tăng trưởng kinh tế : Y = AKαLβRγ (1.3) Trong đó : g : là tốc độ tăng trưởng GDP k,l,r : là tốc độ tăng trưởng các yếu tố đầu vào a : là phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học công nghệ. Hàm sản xuất Cobb – Douglas cho biết có 4 yếu tố cơ bản tác động đến tăng trưởng kinh tế và cách thức tác động là khác nhau giữa các yếu tố K,L,R và yếu tố A.
Lý thuyết cũng cho rằng khoa học công nghệ có vai trò quan trọng nhất đối với phát triển kinh tế. Để tác động vào các yếu tố trên và để phát triển khoa học công nghệ thì chi tiêu công giữ vai trò định hướng và hỗ trợ về chính sách và tài chính để tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học. Lý thuyết này đưa ra một gợi ý về mặt chính sách: chính phủ phải nhìn nhận vai trò chủ chốt trong nghiên cứu khoa học cơ bản, do vậy cần thiết dành ra một khoản chi cho nghiên cứu khoa học bên cạnh các khoản chi quản lý hành chính, chuyển giao và đầu tư. Mô hình tăng trƣởng kinh tế của P.Samuelson (1948) Lý thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và “cú huých từ bên ngoài” của P.
Samuelson được xây dựng dựa trên sự đảm bảo của 4 nhân tố: nhân lực, tài nguyên, vốn, kỹ thuật. Tuy nhiên ở các nước đang phát triển các nhân tố này đều khan hiếm Trang 7 nên gặp trở ngại lớn trong việc kết hợp giữa chúng, dẫn tới “cái vòng luẩn quẩn” của sự nghèo khổ. Để tăng trưởng và phát triển kinh tế, cần có “cú huých” từ bên ngoài để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn ấy. Điều này nghĩa là phải có đầu tư từ nước ngoài vào các nước đang phát triển.
Muốn vậy các nước nghèo phải tạo điều kiện thuận lợi bằng các chính sách kinh tế và sử dụng các công cụ tài chính nhằm kích thích sự tích cực đầu tư tư bản nước ngoài qua đó thúc đẩy kinh tế phát triển. Một hình thức khác của cú huých là nợ của chính phủ. Khi nguồn lực trong nước khai thác không đủ, cần phải vay từ nước ngoài. Tuy nhiên, nợ là một con dao hai lưỡi.
Nếu vay quá mức và kiểm soát đầu ra của nợ kém hiệu quả sẽ gây nhiều hậu quả lâu dài và khó khắc phục. Mô hình tăng trƣởng mới của Romo Rucas và Scost (1980s) Mô hình kết hợp giữa tri thức và tư bản nhân lực, coi tiến bộ kỹ thuật là nhân tố quyết định đối với tăng trưởng kinh tế, mậu dịch quốc tế và tiền tệ quốc tế là động cơ của tăng trưởng kinh tế. Các yếu tố này kết hợp với nhau sẽ thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế phát triển. Kết luận rút ra từ việc nghiên cứu các mô hình: - Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào các yếu tố: vốn, tài nguyên, lao động, kỹ thuật công nghệ, quan hệ phụ thuộc quốc tế và được vận hành trong cơ chế thị trường.
- Các mô hình kinh tế trước Keynes đều không đề cao vai trò của Chính phủ trong phát triển kinh tế, vì kinh tế thế giới chủ yếu là nền kinh tế tự cung tự cấp hoặc nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh.