CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NỢ CÔNG 1. Định nghĩa và phân loại nợ công Theo Ngân hàng Thế giới (WB), nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ của bốn nhóm chủ thể bao gồm: (i) nợ của Chính phủ và các Bộ, ban, ngành trung ương; (ii) nợ của các cấp chính quyền địa phương; (iii) nợ của Ngân hàng trung ương; (iv) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc Chính phủ là người chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ. Đây cũng là cách định nghĩa của Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) quy định. Còn theo pháp luật Việt Nam, bộ Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14 ngày 23 tháng 11 năm 2017 do Quốc hội ban hành về quản lý nợ công, quy định: Nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.
STT Phân loại nợ công Giải thích Khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong 1 Nợ Chính phủ nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ Khoản nợ do doanh nghiệp, ngân hàng chính Nợ được Chính phủ 2 sách của Nhà nước vay được Chính phủ bảo bảo lãnh lãnh Nợ Chính quyền địa Khoản nợ phát sinh do Ủy ban nhân dân cấp 3 phương tỉnh vay Bảng 1. Phân loại nợ công Về nợ Chính phủ bao gồm: a) Nợ do Chính phủ phát hành công cụ nợ; b) Nợ do Chính phủ ký kết thỏa thuận vay trong nước, nước ngoài; c) Nợ của ngân sách trung ương vay từ quỹ dự trữ tài chính của Nhà nước, ngân quỹ nhà nước, quỹ tài chính hà nước ngoài ngân sách. Về nợ Chính phủ được bao lãnh bao gồm: a) Nợ của doanh nghiệp được Chính phủ được bảo lãnh; b) Nợ của ngân hàng chính sách Nhà nước được Chính phủ bảo lãnh. Về nợ chính quyền địa phương bao gồm: a) Nợ do phát hành trái phiếu chính quyền địa phương; b) Nợ do vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài; c) Nợ của ngân sách địa phương vay từ ngân hàng chính sách của Nhà nước, quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh, ngân quỹ nhàn nước và vay theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Các chỉ số đo lường nợ công 1. Các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia Chỉ tiêu Công thức Ý nghĩa 1. Nợ công so với Giá trị càng cao thì nền kinh tế tổng sản phẩm quốc của quốc gia càng bị ảnh dân (GDP) (%) hưởng bởi nợ công. Nợ nước ngoài của Giá trị càng cao thì nền kinh tế quốc gia so với tổng của quốc gia càng bị ảnh sản phẩm quốc dân hưởng bởi nợ nước ngoài.
Nghĩa vụ trả nợ Giá trị càng cao thì khả năng nước ngoài của quốc thanh toán nợ của quốc gia gia so với tổng kim càng kém. ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ (%) 4. Nghĩa vụ trả nợ Giá trị càng cao thì khả năng của Chính phủ so với trả nợ của Chính phủ càng bị thu ngân sách nhà hạn chế. Phân loại các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia 1.
Mức trần nợ công và ngưỡng an toàn nợ công Mức trần nợ công (hay còn gọi là mức giới hạn nợ công) là mức tối đa cho phép của nợ công mà một quốc gia có thể vay mà không vi phạm các quy định hoặc chính sách tài chính. Đây là một giới hạn quan trọng để đảm bảo rằng quốc gia không sẽ mắc phải các vấn đề tài chính nghiêm trọng và không kiểm soát được trong việc quản lý nợ. Mức trần nợ công có thể được thiết lập bởi chính phủ hoặc các cơ quan quản lý tài chính của một quốc gia (Quốc hội, Bộ Tài chính). Thông thường, mức trần nợ công được xác định dựa trên các yếu tố như khả năng trả nợ, sự ổn định tài chính, mức độ nợ so với GDP và các quy định pháp lý liên quan đến việc vay nợ và quản lý tài chính công.
Khi nợ công vượt quá mức trần, chính phủ có thể gặp khó khăn trong việc vay thêm tiền hoặc phải đối mặt với hạn chế và rủi ro tài chính nghiêm trọng. Việc vượt quá mức trần nợ công có thể dẫn đến gia tăng chi phí vay, giảm đánh giá tín dụng của quốc gia và sự không ổn định tài chính trong kinh tế. Tuy nhiên, các quốc gia có thể điều chỉnh tăng mức trần nợ công để tiếp tục vay nợ nhằm hạn chế chi tiêu chính phủ, tiết kiệm tiền thuế của người dân và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Ngưỡng an toàn nợ công là mức tỷ lệ giới hạn của các chỉ tiêu an toàn nợ công (xem mục 1.1), sát dưới trần nợ công, đòi hỏi phải có giải pháp để bảo đảm kiểm soát các chỉ tiêu này trong mức trần đã được Quốc hội quy định.
Khi chỉ tiêu an toàn nợ công đạt đến ngưỡng cảnh báo về an toàn nợ công, các biện pháp sau có thể được thực hiện: (i) Giảm mức vay về cho vay lại đối với Official Development Assistance (ODA) và vốn vay ưu đãi của Chính phủ; (ii) Giảm hạn mức bảo lãnh Chính phủ; (iii) Giảm mức vay của chính quyền địa phương; (iv) Giảm bội chi ngân sách nhà nước để giảm mức vay nợ của Chính phủ. Tác động của nợ công 1. Tác động tiêu cực của nợ công Nợ công cao có thể dẫn đến một số hệ quả tiềm tàng và ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển và ổn định của một quốc gia. Dưới đây là một số hệ quả chính: a) Tăng gánh nặng tài chính: Nợ công cao đòi hỏi quốc gia phải chi trả số tiền lớn cho lãi suất và tiền lãi hàng năm.
Điều này có thể làm tăng gánh nặng tài chính và góp phần làm suy yếu nguồn lực tài chính của quốc gia, tạo ra hiệu ứng lấn át dẫn tới giới hạn khả năng đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng khác như giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế. b) Giới hạn khả năng vay mượn, suy giảm niềm tin: Mức nợ công cao có thể làm tăng rủi ro tín dụng khiến các tổ chức tài chính và các cơ quan xếp hạng tín dụng đánh giá thấp. Từ đó, quốc gia khó có thể tiếp cận với các khoản vay có lãi suất hợp lý dẫn đến bị hạn chế khả năng vay mượn, đồng thời trở nên kém hấp dẫn và mất niềm tin từ các nhà đầu tư. Vì vậy mà quốc gia đó càng gặp khó khăn trong việc phát triển kinh tế để trả nợ công.
c) Rủi ro về bền vững tài chính: Nợ công cao có thể đe dọa sự bền vững tài chính của quốc gia, khi không còn khả năng trả nợ hoặc chi trả lãi suất gây áp lực lớn cho ngân sách quốc gia. Điều này có thể dẫn đến khả năng mất điều kiện vay mới và tạo ra một vòng xoáy nợ nần không kiểm soát. d) Sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài: Nếu quốc gia có nợ công cao và phụ thuộc nhiều vào vốn vay từ nước ngoài, quốc gia đó có thể trở nên yếu đuối và mất khả năng tự quyết định về chính sách kinh tế. Các tổ chức tài chính quốc tế và nước ngoài có thể áp đặt các điều kiện và hạn chế quyền tự chủ của quốc gia trong việc đưa ra những quyết định kinh tế.
Do đó, nợ công cao có thể gây ra nhiều hệ quả tiêu cực mang tính vòng lặp khó thoát ra nên cần được quản lý một cách cẩn thận để đảm bảo sự ổn định tài chính và phát triển bền vững. Tác động tích cực của nợ công Mặc dù nợ công cao có thể gây ra một số hệ quả tiêu cực, nhưng cũng có thể mang lại một số lợi ích trong một số tình huống: a) Đầu tư và phát triển: Một mức nợ công cao có thể cung cấp nguồn tài trợ để đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, nghiên cứu và phát triển, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Điều này có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo ra các nguồn lực mới và tăng cường khả năng cung cấp công cụ và cơ sở hạ tầng cần thiết cho sự phát triển kinh tế. b) Phục hồi kinh tế: Trong một số trường hợp, việc tăng cường chi tiêu công và tạo ra nợ công để khắc phục khủng hoảng kinh tế có thể giúp kích thích sự phục hồi và tăng trưởng kinh tế.
Việc sử dụng các biện pháp kích thích tài chính như chi tiêu công và chính sách tiền tệ có thể khôi phục niềm tin của thị trường và thúc đẩy hoạt động kinh tế. c) Quản lý rủi ro tài chính: Một mức nợ công đáng chú ý có thể giúp quốc gia quản lý rủi ro tài chính, đặc biệt trong bối cảnh các biến động kinh tế và tài chính toàn cầu. Khi quốc gia đưa ra các chính sách tài chính phù hợp và sử dụng mức nợ công một cách khôn ngoan, nó có thể tạo điều kiện cho sự ổn định tài chính và hỗ trợ hoạt động kinh tế trong thời gian khó khăn. Giải pháp kiểm soát nợ công 1.
Nguyên nhân mất kiểm soát Có nhiều nguyên nhân gây mất kiểm soát về nợ công. Dưới đây là một số nguyên nhân chính: a) Chi tiêu quá mức: Chính phủ có thể chi tiêu quá mức trên thu nhập hiện có, dẫn đến sự tăng nợ để đáp ứng các khoản chi không cần thiết hoặc không bền vững. Việc chi tiêu quá mức có thể do các chính sách quá rộng lượng, chi tiêu không kiểm soát và cung cấp các dịch vụ công quá phạm vi và kém đem lại hiệu quả kinh tế. b) Suy thoái kinh tế: Khi một quốc gia vừa trải qua thời kỳ suy thoái kinh tế, nguồn thu ngân sách của chính phủ giảm, trong khi các yêu cầu chi tiêu như tiền lương công chức, trợ cấp xã hội, các gói kích thích và các dự án quốc gia để phục hồi nên kinh tế có thể tăng.
Điều này dẫn đến sự gia tăng của nợ công. c) Thất bại trong quản lý tài chính, thiếu minh bạch: Nếu chính phủ không thực hiện một quản lý tài chính chặt chẽ, việc thu thuế không hiệu quả, lạm phát không kiểm soát, và việc quản lý các khoản vay không chính xác có thể dẫn đến tình trạng mất kiểm soát về nợ công. Mặt khác, điều này còn dẫn đến nguy cơ lạm dụng, tham nhũng và lãng phí nguồn vốn, gây thất thoát dẫn đến tăng nợ công không cần thiết.