BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ---------- ---------- VŨ THỊ MỸ NGỌC TÁC ĐỘNG TUYẾN TÍNH VÀ PHI TUYẾN TÍNH CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ – BẰNG CHỨNG Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013 123doc LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Tác động tuyến tính và phi tuyến tính của nợ công đến tăng trưởng kinh tế - Bằng chứng ở các nước đang phát triển” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các thông tin dữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và các kết quả trình bày trong luận văn chưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây.
Nếu phát hiện có bất kỳ gian lận nào, tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm trước Hội đồng.HCM, tháng 11 năm 2013 Tác giả luận văn Vũ Thị Mỹ Ngọc 123doc MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục từ viết tắt Danh mục bảng Tóm tắt. Tổng quan những nghiên cứu trước đây. Khung lý thuyết về nợ công và tăng trưởng kinh tế. Bằng chứng thực nghiệm.
Tác động tuyến tính. Tác động phi tuyến. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Hồi quy quan hệ tuyến tính.
Hồi quy quan hệ phi tuyến. Phương pháp nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu. Phân tích đa biến quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng.
Kiểm định tính bền vững của mô hình. 51 Tài liệu tham khảo Phụ lục 123doc DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT OLS Ước lượng bình phương nhỏ nhất FEM Mô hình hiệu ứng cố định REM Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên LSDV Ước lượng bình phương nhỏ nhất với biến giả GMM Phương pháp momen tổng quát 2SLS Ước lượng bình phương nhỏ nhất 2 bước GDP Tổng sản phẩm nội địa TFP Năng suất các yếu tố tổng hợp CPIA Đánh giá thể chế và chính sách quốc gia OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế 123doc DANH MỤC BẢNG Bảng 3. Danh sách các nước đang phát triển trong mẫu nghiên cứu Bảng 3. Danh sách, định nghĩa và nguồn dữ liệu các biến Bảng 4.
Kiểm tra vấn đề đa cộng tuyến Bảng 4. Kết quả hồi quy mô hình tăng trưởng- nợ công (cơ bản) Bảng 4. Kết quả hồi quy mô hình (không có biến CPIA) Bảng 4. Kết quả hồi quy mô hình bằng phương pháp FEM Bảng 4.
Kết quả hồi quy mô hình bằng phương pháp REM Bảng 4. Kiểm định tính bền vững của mô hình phi tuyến dạng ngưỡng khi thêm biến Bảng 4. Kiểm định tính bền vững của mô hình phi tuyến với CPIA khi thêm biến Bảng 4. Kiểm định tính bền vững của mô hình với Collapse 123doc 1 TÁC ĐỘNG TUYẾN TÍNH VÀ PHI TUYẾN TÍNHCỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ- BẰNG CHỨNG Ở CÁC NƢỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cuối năm 2008 đang chồng chất gánh nặng nợ nần lên vai các quốc gia do họ phải đi vay để chi tiêu và cứu trợ kinh tế.
Phản ứng của chính phủ các quốc gia để phó với vấn đề này, và đặc biệt là sự kiện cuối năm 2013 chính phủ Mỹ đã tuyên bố đóng cửa tạm thời do ngân sách cạn kiệt vì các khoản nợ và chi tiêu công, đồng thời phải đề xuất việc tăng trần nợ công lên mức 100% so với GDP, đã khơi lại cuộc tranh luận về vấn đề nợ công cũng như tác động của nó đến tăng trưởng. Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm trước đây hầu hết chỉ mới điều tra tác động của nợ công đến tăng trưởng ở các nước tiên tiến và mới nổi. Bài nghiên cứu của tôi nhằm mục đích bổ sung các bằng chứng hiện có, tập trung kiểm tra và đánh giá ảnh hưởng của nợ công lên tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam và đòi hỏi phải có một phân tích toàn diện hơn, không chỉ dựa trên nợ nước ngoài mà là tổng nợ công. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp các bằng chứng thực nghiệm mới nhất cho cả mối quan hệ tuyến tính và phi tuyến tính lõm (dạng đường cong Laffer- hình chữ U ngược) dựa trên dữ liệu của các nước thu nhập thấp và trung bình trong giai đoạn 1998-2012, chỉ ra rằng khi tỷ lệ nợ công vượt quá 48%, tác động của nó lên tăng trưởng trở thành tiêu cực, thậm chí không có ý nghĩa, đồng thời đóng góp một số gợi ý hữu ích cho chính phủ các quốc gia trong việc định hình một chính sách vay và giảm nợ hợp lý.
GIỚI THIỆU Khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu 2008 đã dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ trong nợ chính phủ ở nhiều quốc gia trên khắp thế giới để đáp ứng lại yêu cầu vực dậy nền kinh tế. Cũng theo đó, cuộc khủng hoảng nợ công bắt nguồn từ Hy Lạp, lan nhanh sang khu vực Châu Âu và đã phủ bóng đen lên hầu hết các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản và ảnh hưởng trên phạm vi toàn thế giới. Khủng hoảng nợ công bắt nguồn từ Hy Lạp đã lan nhanh sang khu vực Châu Âu và đã phủ bóng đen lên hầu hết các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản và ảnh hưởng trên phạm vi toàn thế giới, đưa nhiều quốc gia lâm vào nguy cơ vỡ nợ. Chính vì lẽ đó, nợ công và tầm quan trọng của nó đã đặt ra một số vấn đề quan trọng về quản lý nợ và thâm hụt ngân sách.
Nó không chỉ là vấn đề của riêng Hy Lạp, của các nước khu vực đồng tiền chung Châu Âu hay các nước phát triển, mà thực sự cũng là thách thức lớn đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển vì đây chính là các nước có nhu cầu về vốn rất lớn để đầu tư phát triển. Một câu hỏi được đặt ra là vậy mức vay nợ bao nhiêu là tối ưu cho mỗi quốc gia để đảm bảo an toàn tài chính? Liệu quy mô và sự gia tăng của nợ công có thực sự tác động đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia vay nợ hay không? Nếu câu trả lời là có thì đó là tác động thúc đẩy hay kìm hãm tăng trưởng kinh tế Hiểu r tác động của tổng nợ công đến tăng trưởng kinh tế sẽ giúp nâng cao nhận thức về vai trò cũng như ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực của nó, từ đó có các hính sách quản lý nợ công một cách có hiệu quả góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Mặc dù có sự bùng phát của các nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, nhưng bằng chứng thực nghiệm về vấn đề 123doc 3 này vẫn còn khá hạn chế khi chủ yếu tập trung vào mẫu các nước phát triển cũng như vào vấn đề nợ nước ngoài và các kết quả thu được còn thiếu sự đồng thuận. Với mong muốn mang đến cái nhìn tổng quát về tác động của tổng nợ công và cung cấp kết quả thực nghiệm cho các quốc gia đang phát triển, tôi chọn đề tài nghiên cứu Tác động tuyến tính và phi tuyến tính của nợ công đến tăng trưởng kinh tế - Bằng chứng ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam để một lần nữa kiểm định lại mối quan hệ nợ công-tăng trưởng kinh tế , đặc biệt là tác động phi tuyến tính.
Phần còn lại của bài nghiên cứu được trình bày theo bố cục như sau: Phần hai giới thiệu tổng quan các nghiên cứu trước đây về cả mặt lý thuyết và thực nghiệm. Phần ba mô tả phương pháp nghiên cứu, mô hình kinh tế và thông tin về bộ dữ liệu. Tiếp đó, bài nghiên cứu trình bày và thảo luận các kết quả hồi quy, gồm các kết quả hồi quy chính (4.1) và các kiểm định độ vững mạnh của mô hình (4. Phần cuối cùng tổng kết và đưa ra một số gợi ý chính sách cho các quốc gia trong mẫu nghiên cứu cũng như nêu lên một số hạn chế và gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo.
TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2. Khung lý thuyết về nợ công và tăng trƣởng kinh tế Khái niệm về nợ công: Hiện nay vẫn còn nhiều khái niệm khác nhau về nợ công và vẫn chưa có một định nghĩa chính thức. Nợ công thường được hiểu là nợ của khu vực công. Xác định các khoản nợ công theo nghĩa rộng là các nghĩa vụ nợ của khu vực công bao gồm cả chính quyền trung ương, chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập (với định mức vốn của ngân sách nhà nước hoặc 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước và trong trường hợp họ phá sản, nhà nước phải trả nợ) Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm các nghĩa vụ nợ của chính phủ trung ương và chính quyền địa phương và các khoản nợ của các tổ chức độc lập chính phủ bảo lãnh.
Nợ công thường được phân thành: Nợ công nội địa (các khoản vay từ người cho vay trong nước) và nợ công nước ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước). Tại hầu hết các nước trên thế giới, nợ công được xác định bao gồm nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh. Một số nước, nó cũng bao gồm nợ của chính quyền địa phương (Bungari, Rumani, Việt Nam…), nợ của doanh nghiệp nhà nước phi lợi nhuận (Thái Lan, Macedonia…) Như vậy, quan niệm về nợ công cũng còn tùy thuộc vào thể chế kinh tế- chính trị của mỗi quốc gia. Bàn về lý thuyết về tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế, vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, trong đó có hai quan điểm chủ đạo: Quan điểm truyền thống, đại diện là Keynes: Khi chính phủ vay nợ để bù đắp cho thâm hụt ngân sách do cắt giảm các nguồn thu từ thuế và mức chi tiêu công không thay đổi sẽ tác động đến hành vi tiêu dùng của người dân.
Cụ thể là 123doc 5 làm mức tiêu dùng tăng, từ đó làm tăng tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ, tăng sản lượng, việc làm trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về dài hạn lại làm cho tiết kiệm quốc gia giảm và kèm theo đó là những hệ lụy khác. Quan điểm của David Ricardo (1772-1832): Mức thuế cắt giảm được bù đắp bằng nợ chính phủ sẽ không có tác động đến tiêu dùng như quan điểm về nợ truyền thống, kế cả trong ngắn hạn.