Tổng quan luận án

Công trình “Quản trị công, nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển” do nghiên cứu sinh Võ Thị Thùy Vân thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Hồng Thắng tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, mã số 9340201, bảo vệ năm 2019).

Luận án xuất phát từ bối cảnh các quốc gia đang phát triển thường đối mặt với tình trạng khan hiếm nguồn vốn tích lũy nội bộ, năng suất lao động thấp và tỷ lệ tiết kiệm không đủ để đáp ứng nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng lẫn chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Để bù đắp khoảng trống này, việc vay nợ nước ngoài được xem là một kênh huy động vốn cần thiết. Tuy nhiên, việc gia tăng nợ nước ngoài không đi kèm với hiệu quả quản lý đã dẫn đến nhiều cuộc khủng hoảng nợ trong lịch sử, điển hình như khủng hoảng nợ Mỹ Latinh thập niên 1980 (bắt đầu từ Mexico năm 1982, lan sang Argentina, Brazil, Ecuador), khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, khủng hoảng nợ tại Nga năm 1998, Argentina năm 2001 và khủng hoảng nợ công châu Âu năm 2009. Thực tế cho thấy gánh nặng nợ vay khu vực công có nguy cơ chuyển dịch thành nghĩa vụ thuế trong tương lai, gây áp lực lên phúc lợi xã hội và kìm hãm đầu tư tư nhân.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định từ việc các công trình trước đây đa phần khảo sát độc lập tác động của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế hoặc tác động của quản trị công lên nợ công, trong khi số lượng nghiên cứu tích hợp đồng thời mối quan hệ giữa bộ ba: nợ nước ngoài, chất lượng quản trị công và tăng trưởng kinh tế còn hạn chế. Đặc biệt, nghiên cứu nền tảng của Qayyum và cộng sự (2014) dù đã thiết lập khung phân tích lý thuyết nhưng các thực nghiệm kế thừa như Qayyum & Haider (2012) chưa đưa biến tương tác giữa nợ nước ngoài và chất lượng quản trị công vào mô hình tăng trưởng, chỉ tiếp cận 3 chỉ số quản trị công thay vì bộ 6 chỉ số toàn diện của Ngân hàng Thế giới, đồng thời chưa phân định mẫu nghiên cứu theo các mức thu nhập khác nhau.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung chính:

  1. Phân tích và đánh giá tác động của quản trị công lên nợ nước ngoài tại các quốc gia đang phát triển.
  2. Đánh giá tác động của quản trị công lên mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển thông qua biến tương tác.

Để đạt được hai mục tiêu trên, luận án giải quyết các câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Có tồn tại mối quan hệ tương quan và tác động từ quản trị công lên quy mô nợ nước ngoài hay không, và mức độ tác động ra sao?
  2. Quản trị công đóng vai trò gì đối với mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế? Tác động biên của nợ nước ngoài lên tăng trưởng có thay đổi khi chất lượng quản trị công biến thiên hay không?
  3. Có sự khác biệt nào về vai trò của quản trị công và nợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế giữa nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp và nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao hay không?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ tương tác giữa quản trị công, nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế.
  • Phạm vi không gian: Mẫu tổng thể gồm 65 quốc gia đang phát triển, được phân tách thành 2 mẫu phụ gồm 25 quốc gia có thu nhập trung bình thấp và 26 quốc gia có thu nhập trung bình cao theo phân loại của Ngân hàng Thế giới.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2000 – 2014.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhánh nội dung chính:

Thứ nhất, nhánh nghiên cứu về tác động của quản trị công lên nợ: Về mặt lý thuyết, Oatley (2010) mở rộng mô hình lựa chọn công của Mancur Olson (1996), chỉ ra rằng thể chế chính trị ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP; các chính phủ độc đoán có xu hướng vay nợ nước ngoài nhiều hơn nhưng đầu tư ít hơn vào hàng hóa công cộng so với các nền dân chủ. Faure (2015) xây dựng mô hình lý thuyết động chỉ ra tham nhũng làm suy giảm nguồn thu thuế và gây méo mó chi tiêu công. Về mặt thực nghiệm, Feld & Kirchgässner (2001) phân tích 134 đô thị Thụy Sĩ năm 1990, kết luận cơ chế dân chủ trực tiếp giúp hạn chế tích lũy nợ công. Grechyna (2012) nghiên cứu dữ liệu mảng các nước OECD giai đoạn 1995–2010 bằng GMM, khẳng định tham nhũng trong khu vực công làm gia tăng nợ. Cooray & Schneider (2013) nghiên cứu 126 quốc gia giai đoạn 1996–2012 bằng OLS, hiệu ứng cố định (FE) và GMM, chứng minh khu vực kinh tế phi chính thức làm gia tăng tác hại của tham nhũng lên nợ chính phủ. Heylen và cộng sự (2013) nghiên cứu 21 nước OECD (1981–2008), nhấn mạnh hiệu quả khu vực công củng cố kỷ luật tài khóa. González-Fernández & González-Velasco (2014) khảo sát các vùng tự trị Tây Ban Nha (2000–2012), ghi nhận tham nhũng làm tăng nợ công. Benfratello và cộng sự (2015) phân tích 166 quốc gia (1995–2013) bằng FE và GMM, xác nhận tham nhũng làm tăng nợ chính phủ qua kênh chi tiêu công. Tarek & Ahmed (2017) khảo sát 17 quốc gia MENA (1996–2015), chỉ ra ổn định chính trị, chất lượng luật lệ và pháp quyền yếu kém làm gia tăng nợ công. Ngược lại, Gennaioli và cộng sự (2009) khi nghiên cứu 56 quốc gia mới nổi và phát triển (1981–2005) nhận thấy định chế tài chính trong nước giúp duy trì kỷ luật tiếp cận vốn quốc tế.

Thứ hai, nhánh nghiên cứu về tác động của nợ nước ngoài và quản trị công lên tăng trưởng kinh tế: Chowdhury (1994) kiểm định dữ liệu bảng các nước đang phát triển châu Á – Thái Bình Dương (1970–1988), cho rằng nợ nước ngoài không phải nguyên nhân chính gây suy thoái kinh tế. Amoateng & Amoako-Adu (1996) tìm thấy quan hệ nhân quả hai chiều giữa trả nợ và tăng trưởng tại châu Phi (1971–1990). Jayaraman & Lau (2009) áp dụng đồng liên kết Johansen cho Sri Lanka (1950–2006), cho thấy nợ nước ngoài có tác động dương dài hạn lên tăng trưởng. Drine & Nabi (2010) sử dụng mô hình tăng trưởng nội sinh trên 27 nước đang phát triển (1970–2005), nhận thấy nợ nước ngoài vừa tăng hiệu quả sản xuất vừa làm phình to khu vực phi chính thức. Ở chiều ngược lại, các nghiên cứu phát hiện tác động tiêu cực của nợ nước ngoài chiếm đa số: Ali & Mustafa (2012) dùng VAR và VECM trên dữ liệu Pakistan (1970–2010); Ramzan & Ahmad (2014) dùng ARDL và ECM cho Pakistan (1970–2009); Abdullahi và cộng sự (2015) và Adamu & Rasiah (2016) dùng ARDL cho Nigeria; Shah & Pervin (2012) dùng ECM cho Bangladesh (1974–2010); Mohamed (2013) dùng mô hình tân cổ điển cho Tunisia (1970–2010); Doğan & Bilgili (2014) dùng mô hình chuyển đổi Markov cho Thổ Nhĩ Kỳ (1974–2009); Fosu (1999) khảo sát 35 quốc gia cận Sahara châu Phi. Về tương tác giữa nợ và thể chế, Asiedu (2002, 2003) và Asiedu & Villamil (2000) chứng minh việc xóa nợ trong chương trình Các quốc gia nghèo mắc nợ cao (HIPC) chỉ phát huy hiệu quả khi thể chế đạt một ngưỡng chất lượng tối thiểu. Easterly (2002) và Depetris Chauvin & Kraay (2005) khẳng định giảm nợ không cải thiện tăng trưởng nếu chất lượng chính sách và quản trị công kém.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù Qayyum và cộng sự (2014) đã thiết lập mô hình tăng trưởng Ramsey–Cass–Koopmans cho nền kinh tế mở kết nối bộ ba biến số, song các nghiên cứu thực nghiệm chưa kết hợp đầy đủ 6 chỉ số quản trị công toàn cầu (WGI) của Kaufmann và cộng sự (2011), chưa sử dụng biến tương tác nhân (Nợ nước ngoài × Quản trị công) để lượng hóa vai trò điều tiết của quản trị công, đồng thời thường sử dụng mô hình FE, RE hoặc ECM (như Qayyum & Haider, 2012; Ouedraogo, 2015) vốn không triệt tiêu triệt để hiện tượng nội sinh và tự tương quan chuỗi. Luận án khắc phục các hạn chế này bằng cách đưa biến tương tác vào mô hình động và sử dụng phương pháp GMM Arellano-Bond sai phân hai bước, đồng thời phân tách thành các nhóm thu nhập để kiểm định tính phi đồng nhất.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

Luận án vận dụng hệ thống các lý thuyết kinh tế phát triển và kinh tế vĩ môn nền tảng:

  • Lý thuyết “Cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó” và “Cú huých từ bên ngoài” (Samuelson & Nordhaus, 1976): Các nước đang phát triển thiếu hụt 4 yếu tố tăng trưởng (vốn tài chính, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực). Mức sống thấp dẫn đến tích lũy và tiết kiệm thấp, năng suất lao động kém, tạo thành vòng luẩn quẩn đòi hỏi nguồn lực ngoại sinh (vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI) làm cú huých ban đầu.
  • Mô hình hai khoảng cách của Chenery & Strout (1966): Tăng trưởng kinh tế bị giới hạn bởi “Khoảng cách đầu tư – tiết kiệm” và “Khoảng cách thương mại” (thâm hụt cán cân thương mại). Nợ nước ngoài đóng vai trò bù đắp hai khoảng trống này.
  • Mô hình ba khoảng cách của Bacha (1990), Solimano (1990) và Taylor (1994): Bổ sung thêm “Khoảng cách thâm hụt ngân sách” của khu vực công, chỉ ra sự cần thiết của dòng vốn vay nước ngoài để tài trợ bội chi ngân sách khi thị trường tài chính nội địa chưa phát triển.
  • Lý thuyết nguy cơ bẫy nợ (Debt Overhang Hypothesis - DOH) của Krugman (1988) và Sachs (1989): Khi mức nợ vượt quá khả năng chi trả kỳ vọng của nền kinh tế, nghĩa vụ trả nợ hoạt động như một khoản thuế tiềm ẩn đánh vào sản lượng và lợi nhuận đầu tư trong tương lai, làm nản lòng các nhà đầu tư trong nước và quốc tế.
  • Đường cong Laffer nợ (Patillo và cộng sự, 2002): Thể hiện mối quan hệ phi tuyến hình chữ U ngược giữa tổng nợ và tăng trưởng. Khi nợ ở mức vừa phải (nhánh dốc lên), nợ thúc đẩy tích lũy vốn; khi vượt qua đỉnh tối ưu (nhánh dốc xuống), nợ kìm hãm tăng trưởng.
  • Lý thuyết ràng buộc thanh khoản (Liquidity Constraint Hypothesis - LCH) và Lý thuyết về tác động trực tiếp của nợ (Direct Effect of Debt Hypothesis - DEDH): LCH cho rằng nghĩa vụ thanh toán lãi và gốc làm cạn kiệt nguồn lực sẵn có cho đầu tư hiện tại; DEDH cho rằng gánh nặng nợ làm giảm trực tiếp năng suất của nguồn vốn hiện hữu.
  • Mô hình tăng trưởng Ramsey–Cass–Koopmans cho nền kinh tế mở (Qayyum và cộng sự, 2014): Chứng minh quản trị công hoạt động như chất xúc tác làm tăng năng suất biên của các yếu tố đầu vào, kiểm soát thất thoát vốn vay và gia tăng tích lũy.

Về khái niệm và thang đo:

  • Nợ nước ngoài: Luận án sử dụng khái niệm của Ngân hàng Thế giới (WB, 2010) và IMF (2013), xác định là tổng dư nợ nghĩa vụ hiện tại của người cư trú đối với người không cư trú, đòi hỏi thanh toán gốc kèm hoặc không kèm lãi. Tiêu chuẩn đánh giá mức độ nợ áp dụng theo bảng phân loại của IMF (1989):
Phân loại mức độ nợ Nợ / GDP (%) Nợ / Xuất khẩu (%) Chi phí trả nợ / Xuất khẩu (%) Chi phí trả nợ / GDP (%) Lãi vay / Xuất khẩu (%)
Nợ quá nhiều > 50 > 275 > 30 > 4 > 20
Nợ vừa phải 30 – 50 165 – 275 18 – 30 4 12 – 20
Nợ ít < 30 < 165 < 18 < 4 < 12
  • Quản trị công: Sử dụng quan điểm thể chế của North (1990) và Ngân hàng Thế giới (WB, 2002). Luận án lượng hóa bằng Bộ chỉ số Quản trị Toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) do Kaufmann, Kraay & Mastruzzi (2011) xây dựng, bao gồm 6 biến thành phần với thang điểm từ xấp xỉ -2,5 đến +2,5:
    1. Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability).
    2. Ổn định chính trị và không có bạo lực (Political Stability and Absence of Violence).
    3. Hiệu quả của chính phủ (Government Effectiveness).
    4. Chất lượng quy định (Regulatory Quality).
    5. Nhà nước pháp quyền / Tuân thủ pháp luật (Rule of Law).
    6. Kiểm soát tham nhũng (Control of Corruption).
  • Tăng trưởng kinh tế: Đo lường bằng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người theo định nghĩa của Kuznets (1955) và Ngân hàng Thế giới.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thực hiện phương pháp định lượng kinh tế lượng bảng qua các bước:

  1. Kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu bảng.
  2. Kiểm định đồng liên kết Westerlund để kiểm tra mối quan hệ dài hạn giữa quản trị công và nợ nước ngoài trên mẫu tổng thể và các mẫu phụ.
  3. Kiểm định nhân quả Granger bảng để xác định chiều hướng tác động giữa quản trị công và nợ nước ngoài.
  4. Phương pháp ước lượng chính: Phương pháp Moment Tổng quát sai phân hai bước của Arellano và Bond (Two-step Difference GMM - D-GMM). Phương pháp này sử dụng các biến trễ của biến nội sinh làm biến công cụ, giúp xử lý triệt để hiện tượng nội sinh phát sinh từ mối quan hệ hai chiều giữa nợ, quản trị và tăng trưởng, cũng như tương quan giữa biến trễ của biến phụ thuộc với sai số mô hình.
  5. Kiểm định chẩn đoán: Kiểm định tự tương quan Arellano-Bond AR(1) và AR(2); kiểm định tính hợp lệ của biến công cụ bằng kiểm định Sargan/Hansen.
  6. Kiểm tra tính bền vững: Sử dụng phương pháp ước lượng tác động cố định với biến công cụ (Instrument Variable Fixed Effects - IV-FE).

Nguồn dữ liệu và hệ thống biến

Toàn bộ dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ cơ sở dữ liệu Chỉ số Phát triển Thế giới (World Development Indicators - WDI) và Bộ chỉ số Quản trị Toàn cầu (WGI) của Ngân hàng Thế giới trong giai đoạn 2000 – 2014 đối với 65 quốc gia đang phát triển.

Hệ thống các biến trong mô hình thực nghiệm:

  • Biến phụ thuộc: Quy mô nợ nước ngoài (% GDP) trong mô hình 1; Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người trong mô hình 2.
  • Biến giải thích cốt lõi: Nợ nước ngoài (% GDP), 6 chỉ số quản trị công (WGI), Biến tương tác nhân giữa nợ nước ngoài và quản trị công (Nợ nước ngoài × WGI).
  • Các biến kiểm soát kinh tế vĩ mô: Đầu tư trong nước (% GDP), Nguồn thu thuế (% GDP), Lực lượng lao động, Độ mở thương mại (% GDP), Tỷ lệ lạm phát, Chỉ số cơ sở hạ tầng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu tổng quan

Chương 1 thiết lập tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu dựa trên bối cảnh toàn cầu hóa và các đợt khủng hoảng nợ quốc tế. Tác giả chỉ ra rằng nguồn lực huy động trong nước tại các nước đang phát triển rất hạn chế, dẫn đến phụ thuộc vào nợ nước ngoài. Chương này công bố mục tiêu nghiên cứu gồm việc phân tích tác động của quản trị công lên nợ nước ngoài và làm rõ vai trò điều tiết của quản trị công trong mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Tác giả phác thảo phương pháp nghiên cứu định lượng áp dụng phương pháp ước lượng GMM Arellano-Bond sai phân hai bước trên mẫu 65 quốc gia đang phát triển giai đoạn 2000–2014, chia thành hai nhóm thu nhập trung bình thấp (25 quốc gia) và thu nhập trung bình cao (26 quốc gia). Bố cục toàn bộ luận án được xác định gồm 5 chương.

Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu về quản trị công, nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế

Chương 2 cung cấp nền tảng khái niệm và khung lý thuyết chi tiết. Tác giả định nghĩa nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn IMF (1989, 2013) và WB (2010); định nghĩa quản trị công theo trường phái tân cổ điển, kinh tế học thể chế (Veblen, Hamilton, Coase, North, Williamson, Schmid) và Ngân hàng Thế giới; phân tích các công cụ đo lường gồm Freedom House, BERI, ICRG, Polity IV và WGI. Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên:

  • Lý thuyết vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó và cú huých bên ngoài (Samuelson & Nordhaus, 1976).
  • Mô hình hai khoảng cách (Chenery & Strout, 1966) và mô hình ba khoảng cách (Bacha, 1990; Solimano, 1990; Taylor, 1994).
  • Lý thuyết nguy cơ bẫy nợ (Krugman, 1988; Sachs, 1989), đường cong Laffer nợ (Patillo và cộng sự, 2002), lý thuyết ràng buộc thanh khoản và tác động trực tiếp của nợ.
  • Khung lý thuyết của Oatley (2010) giải thích cách thức thể chế chính trị tác động lên tích lũy nợ nước ngoài.
  • Khung lý thuyết Ramsey–Cass–Koopmans cho nền kinh tế mở kết nối bộ ba nợ, quản trị và tăng trưởng của Qayyum và cộng sự (2014). Chương này cũng tổng lược hàng loạt nghiên cứu thực nghiệm quốc tế, qua đó chỉ ra khoảng trống về sự thiếu vắng biến tương tác nợ – quản trị và sự cần thiết phải phân tách nhóm thu nhập.

Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 xây dựng hai phương trình kinh tế lượng:

  1. Mô hình tác động của quản trị công lên nợ nước ngoài: Biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP; biến giải thích chính là các chỉ số quản trị công WGI cùng các biến kiểm soát vĩ mô.
  2. Mô hình tăng trưởng kinh tế: Biến phụ thuộc là tăng trưởng GDP bình quân đầu người; các biến giải thích gồm biến trễ của tăng trưởng, nợ nước ngoài, chất lượng quản trị công, biến tương tác (Nợ nước ngoài × Quản trị công), và các biến kiểm soát (đầu tư trong nước, nguồn thu thuế, lao động, độ mở thương mại, lạm phát, cơ sở hạ tầng). Chương này giải trình quy trình ước lượng: kiểm định nghiệm đơn vị bảng, kiểm định đồng liên kết Westerlund, kiểm định nhân quả Granger bảng, và áp dụng kỹ thuật ước lượng Two-step Difference GMM nhằm kiểm soát nội sinh. Các ma trận thống kê mô tả (Bảng 3.1 đến 3.6 trong văn bản) được trình bày chi tiết cho mẫu tổng thể và từng mẫu phụ.

Chương 4: Vai trò của quản trị công trong mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế

Chương 4 báo cáo kết quả thực nghiệm từ các mô hình đã xây dựng:

  • Phần 4.1 trình bày kết quả tác động của quản trị công lên nợ nước ngoài: Kiểm định đồng liên kết Westerlund xác nhận tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa quản trị công và nợ nước ngoài trên mẫu tổng thể (Bảng 4.3), mẫu thu nhập trung bình cao (Bảng 4.6) và mẫu thu nhập trung bình thấp (Bảng 4.9). Kiểm định nhân quả Granger (Bảng 4.4, 4.5, 4.7, 4.8, 4.10, 4.11) xác định mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa các thành phần quản trị công và quy mô nợ nước ngoài. Ước lượng D-GMM (Bảng 4.12, 4.13, 4.14) cho thấy các khía cạnh quản trị công có ảnh hưởng đáng kể đến quy mô tích lũy nợ nước ngoài nhưng mức độ tác động khác nhau giữa các nhóm quốc gia.
  • Phần 4.2 trình bày kết quả ước lượng mô hình tăng trưởng kinh tế: Kết quả ước lượng D-GMM mô hình cơ sở và mô hình mở rộng có biến tương tác được trình bày tại Bảng 4.17 (mẫu tổng thể), Bảng 4.18 (mẫu thu nhập trung bình thấp) và Bảng 4.19 (mẫu thu nhập trung bình cao). Kết quả chỉ ra sự phân hóa rõ rệt: Ở mẫu tổng thể và mẫu thu nhập trung bình cao, quản trị công tác động dương đến tăng trưởng kinh tế, trong khi nợ nước ngoài và biến tương tác mang dấu âm có ý nghĩa thống kê. Ngược lại, ở mẫu thu nhập trung bình thấp, nợ nước ngoài và biến tương tác lại có tác động thúc đẩy tăng trưởng, trong khi quản trị công mang dấu âm. Kiểm định tính bền vững bằng mô hình IV-FE (Bảng 4.20) cho kết quả đồng nhất với ước lượng GMM ban đầu.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Chương 5 tóm tắt các phát hiện thực nghiệm cốt lõi của nghiên cứu. Dựa trên kết quả định lượng, tác giả đề xuất hai nhóm hàm ý chính sách: nhóm chính sách điều hành nợ gắn với cải cách quản trị công, và nhóm chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua kiểm soát nợ và hoàn thiện thể chế. Đồng thời, chương này chỉ rõ các hạn chế nghiên cứu về mặt dữ liệu, khoảng thời gian và chỉ ra các định hướng mở rộng cho những nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới của luận án

  1. Đóng góp về mặt học thuật và lý luận: Luận án bổ sung bằng chứng thực nghiệm vào khung phân tích của Qayyum và cộng sự (2014) bằng cách đưa biến tương tác giữa nợ nước ngoài và 6 chỉ số quản trị công WGI vào hàm sản xuất thực nghiệm dạng động. Điều này giúp giải thích cơ chế dẫn truyền của thể chế đối với hiệu quả biên của dòng vốn nợ vay nước ngoài.
  2. Đóng góp về mặt phương pháp: Luận án áp dụng phương pháp ước lượng Two-step Difference GMM (Arellano-Bond), kiểm soát được hiện tượng nội sinh tiềm ẩn giữa nợ, quản trị và tăng trưởng tốt hơn so với các mô hình FE, RE, ECM trong các nghiên cứu trước. Luận án kết hợp kiểm định đồng liên kết Westerlund và kiểm định nhân quả Granger trên cấu trúc dữ liệu bảng.
  3. Đóng góp về mặt phát hiện thực nghiệm: Luận án làm sáng tỏ tính chất phi đồng nhất giữa các nhóm thu nhập tại các quốc gia đang phát triển:
    • Tại mẫu tổng thể (65 quốc gia) và mẫu thu nhập trung bình cao (26 quốc gia): Nâng cao chất lượng quản trị công trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; tuy nhiên nợ nước ngoài và biến tương tác giữa nợ với quản trị công lại có tác động kìm hãm tăng trưởng, phản ánh tình trạng bẫy nợ (debt overhang).
    • Tại mẫu thu nhập trung bình thấp (25 quốc gia): Nợ nước ngoài và biến tương tác đóng vai trò tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong khi chất lượng quản trị công lại ghi nhận hệ số âm. Điều này cho thấy tại các quốc gia thu nhập thấp, nhu cầu bù đắp thiếu hụt vốn cấp bách lấn át các yêu cầu cải cách thể chế ngắn hạn.
    • Luận án xác nhận các biến kiểm soát kinh tế vĩ mô gồm đầu tư trong nước, nguồn thu thuế, lực lượng lao động, độ mở thương mại, lạm phát và cơ sở hạ tầng đều là những yếu tố quyết định có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng kinh tế.

Tổng hợp kết quả tác động qua các mẫu nghiên cứu được thể hiện trong bảng sau:

Biến số / Mẫu nghiên cứu Mẫu tổng thể (65 quốc gia) Mẫu thu nhập trung bình cao (26 quốc gia) Mẫu thu nhập trung bình thấp (25 quốc gia)
Quản trị công (WGI) Tác động dương (+) lên tăng trưởng Tác động dương (+) lên tăng trưởng Tác động âm (-) lên tăng trưởng
Nợ nước ngoài (% GDP) Tác động âm (-) lên tăng trưởng Tác động âm (-) lên tăng trưởng Tác động dương (+) lên tăng trưởng
Biến tương tác (Nợ × WGI) Tác động âm (-) lên tăng trưởng Tác động âm (-) lên tăng trưởng Tác động dương (+) lên tăng trưởng
Các biến kiểm soát có ý nghĩa Đầu tư trong nước, thu thuế, lao động, độ mở thương mại, lạm phát, hạ tầng Đầu tư trong nước, thu thuế, lao động, độ mở thương mại, lạm phát, hạ tầng Đầu tư trong nước, thu thuế, lao động, độ mở thương mại, lạm phát, hạ tầng

Gợi ý và chính sách đề xuất

  • Chính sách quản lý nợ nước ngoài: Các quốc gia đang phát triển cần kiểm soát quy mô nợ nước ngoài trong ngưỡng an toàn, tránh để nợ vượt ngưỡng rơi vào nhánh dốc xuống của đường cong Laffer nợ. Cần gắn kết các quyết định vay nợ với kế hoạch tài khóa trung hạn và khả năng trả nợ thực tế của nền kinh tế.
  • Chính sách phân bổ theo nhóm thu nhập:
    • Đối với các quốc gia thu nhập trung bình thấp: Cần tiếp tục tranh thủ nguồn vốn vay ưu đãi nước ngoài để đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật và nâng cao năng lực sản xuất nhằm giải quyết hai khoảng cách “tiết kiệm – đầu tư” và “thương mại”.
    • Đối với các quốc gia thu nhập trung bình cao: Phải đặt trọng tâm vào việc nâng cao kỷ luật tài khóa và cải thiện môi trường quản trị công, tinh gọn bộ máy và kiểm soát tham nhũng để giảm thiểu các chi phí phát sinh từ gánh nặng nợ.
  • Chính sách vĩ mô hỗ trợ: Tăng cường huy động nguồn thu thuế nội địa để giảm phụ thuộc nợ nước ngoài; thúc đẩy đầu tư tư nhân trong nước; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; kiểm soát lạm phát và duy trì độ mở thương mại hợp lý.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi thời gian: Luận án chỉ thu thập và phân tích dữ liệu giai đoạn 2000–2014 do tính sẵn có của các chỉ số quản trị công và thống kê nợ nước ngoài tại thời điểm thực hiện nghiên cứu.
  • Về mẫu nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu dừng lại ở 65 quốc gia đang phát triển do một số quốc gia bị khuyết dữ liệu chuỗi thời gian đối với các chỉ số WGI hoặc số liệu chi tiết về cơ cấu nợ.
  • Về cơ cấu nợ: Chưa phân tách chi tiết thành các cấu phần nợ song phương, nợ đa phương, nợ thương mại hoặc nợ ngắn hạn và nợ dài hạn trong các phương trình hồi quy tăng trưởng.

Hướng nghiên cứu trong tương lai:

  • Cập nhật chuỗi dữ liệu bảng cho giai đoạn sau năm 2014 để kiểm định tính ổn định của các hệ số hồi quy trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động.
  • Mở rộng phân tích cơ cấu nợ nước ngoài theo kỳ hạn và chủ nợ để đánh giá cụ thể mức độ rủi ro của từng loại nợ đối với tăng trưởng kinh tế.
  • Xem xét ngưỡng nợ tối ưu (threshold model) kết hợp với các chỉ số thể chế cụ thể để xác định điểm đảo chiều chính xác trên đường cong Laffer nợ.

Giá trị tham khảo

Nội dung và kết quả của luận án có giá trị tham khảo cho các đối tượng:

  • Cơ quan hoạch định chính sách kinh tế và quản lý nợ công (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Tham khảo cơ sở thực nghiệm về mối quan hệ giữa thể chế và nợ vay để xây dựng chiến lược vay và trả nợ nước ngoài; nhận diện sự khác biệt giữa các giai đoạn phát triển kinh tế khi tiếp nhận dòng vốn nợ.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Kinh tế học phát triển: Tham khảo cách thức vận dụng phương pháp ước lượng Two-step Difference GMM trên dữ liệu bảng động để xử lý biến nội sinh, cũng như quy trình kiểm định đồng liên kết Westerlund và nhân quả Granger bảng.
  • Các tổ chức tài chính quốc tế và các cơ quan tài trợ phát triển: Tham khảo căn cứ đánh giá điều kiện quản trị công khi thiết lập các chương trình cho vay ưu đãi hoặc cơ cấu lại nợ cho các nước đang phát triển.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án lựa chọn phương pháp ước lượng GMM Arellano-Bond sai phân hai bước thay vì mô hình hiệu ứng cố định (FE) hay hiệu ứng ngẫu nhiên (RE)?
Mối quan hệ giữa nợ nước ngoài, quản trị công và tăng trưởng kinh tế tồn tại hiện tượng nội sinh do mối quan hệ tác động qua lại hai chiều và sự hiện diện của biến trễ tăng trưởng kinh tế trong mô hình. Các phương pháp OLS, FE hay RE không thể loại trừ hoàn toàn hiện tượng nội sinh và tự tương quan chuỗi sai số, dẫn đến các ước lượng bị chệch. Phương pháp Two-step Difference GMM sử dụng các biến trễ của biến nội sinh làm biến công cụ, giải quyết được đồng thời hiện tượng nội sinh và tự tương quan trong dữ liệu bảng động.

2. Kết quả nghiên cứu về tác động của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế giữa nhóm thu nhập trung bình thấp và nhóm thu nhập trung bình cao khác nhau như thế nào?
Kết quả thực nghiệm cho thấy sự đối lập: Ở nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao, nợ nước ngoài và biến tương tác giữa nợ với quản trị công có tác động âm lên tăng trưởng kinh tế (xuất hiện bẫy nợ). Ngược lại, ở nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp, nợ nước ngoài và biến tương tác lại có hệ số dương có ý nghĩa thống kê, phản ánh nợ vay nước ngoài vẫn đóng vai trò là nguồn lực quan trọng bù đắp thiếu hụt vốn để thúc đẩy tăng trưởng.

3. Luận án sử dụng thước đo nào để đại diện cho chất lượng quản trị công?
Luận án sử dụng Bộ chỉ số Quản trị Toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) do Kaufmann, Kraay & Mastruzzi (2011) xây dựng và được Ngân hàng Thế giới công bố, bao gồm 6 biến thành phần: Tiếng nói và giải trình, Ổn định chính trị, Hiệu quả của chính phủ, Chất lượng luật pháp, Kiểm soát tham nhũng và Tuân thủ pháp luật, với dải điểm chuẩn hóa từ khoảng -2,5 đến +2,5.

4. Khung phân tích lý thuyết chính mà luận án dựa vào để kết nối bộ ba nợ nước ngoài, quản trị công và tăng trưởng là gì?
Luận án dựa vào khung phân tích lý thuyết phát triển từ mô hình tăng trưởng Ramsey–Cass–Koopmans cho nền kinh tế mở của Qayyum và cộng sự (2014). Khung phân tích này tích hợp nợ nước ngoài, viện trợ và chất lượng thể chế vào một cấu trúc thống nhất, trong đó quản trị công đóng vai trò kiểm soát việc sử dụng nợ và chi tiêu công, từ đó tác động đến quỹ đạo tích lũy vốn và tăng trưởng dài hạn.

5. Kết quả kiểm tra tính bền vững của các mô hình kinh tế lượng được thực hiện bằng phương pháp nào?
Để đảm bảo các kết luận thực nghiệm không bị phụ thuộc vào một kỹ thuật ước lượng duy nhất, tác giả đã tiến hành kiểm tra tính bền vững bằng phương pháp ước lượng tác động cố định với biến công cụ (IV-FE). Các kết quả thu được từ mô hình IV-FE cho thấy chiều hướng tác động và mức ý nghĩa thống kê của các biến cốt lõi tương đồng với kết quả từ mô hình GMM Arellano-Bond sai phân hai bước ban đầu.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Võ Thị Thùy Vân đã hoàn thành việc đánh giá thực nghiệm mối quan hệ giữa quản trị công, nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế trên mẫu 65 quốc gia đang phát triển giai đoạn 2000–2014. Bằng phương pháp ước lượng GMM Arellano-Bond sai phân hai bước, công trình đã chứng minh vai trò điều tiết rõ nét của quản trị công đối với tác động của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế, đồng thời chỉ ra sự phân hóa có ý nghĩa giữa nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp và thu nhập trung bình cao. Các kết quả định lượng cung cấp cơ sở thực chứng để các nhà điều hành chính sách tại các nền kinh tế đang phát triển tái cơ cấu quản lý nợ nước ngoài đồng bộ với lộ trình cải cách thể chế công.