Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Quá trình thực hiện vai trò tư bản tài chính của Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam (1875-1955)" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Dương Tô Quốc Thái, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Hà Minh Hồng, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62.13) tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2020).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ngân hàng Đông Dương (Banque de l'Indochine) là định chế tài chính đặc quyền do tư bản tài chính Pháp thành lập ngày 21/01/1875 và chính thức mở chi nhánh đầu tiên tại Sài Gòn vào ngày 19/04/1875. Tổ chức này được Chính phủ Pháp trao cho ba đặc quyền căn bản: độc quyền phát hành giấy bạc, kinh doanh thương mại (cho vay tín dụng, chiết khấu thương phiếu, dịch vụ ngân hàng) và đầu tư tài chính (tham gia góp vốn sáng lập công ty, mua bán cổ phiếu, trái phiếu chính phủ).

Trong lịch sử Việt Nam trước thời kỳ Pháp thuộc, qua các triều đại phong kiến, đất nước chưa từng có một hệ thống ngân hàng, chế độ tín dụng hay nền tài chính hiện đại. Nền kinh tế mang nặng tính tự cung tự cấp, tình trạng cho vay nặng lãi diễn ra phổ biến ở nông thôn với mức lãi suất từ 200% đến 300%/năm (theo báo cáo của Chuẩn đô đốc Pierre Gustave Roze gửi Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp). Khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, sự ra đời của Ngân hàng Đông Dương đã tạo ra bước ngoặt về cấu trúc tài chính - tín dụng, đồng thời trở thành công cụ đắc lực phục vụ quá trình mở rộng chiến tranh xâm lược và khai thác thuộc địa.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Các công trình sử học trước đây phần lớn tập trung nghiên cứu các khía cạnh chính trị, quân sự, ngoại giao hoặc chỉ đề cập sơ lược đến tiền tệ, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện, hệ thống về quá trình thực hiện vai trò của tập đoàn tư bản tài chính Ngân hàng Đông Dương trong suốt chiều dài lịch sử từ năm 1875 đến năm 1955. Nhiều đánh giá trước đây còn mang tính chủ quan hoặc thiếu nguồn tư liệu lưu trữ xác thực để chứng minh mối liên hệ giữa các chiến dịch quân sự, chính sách khai thác thuộc địa với hoạt động tín dụng, phát hành tiền tệ của ngân hàng này.

Mục đích nghiên cứu

Tác giả xác định 5 mục đích nghiên cứu chính:

  1. Khôi phục lại bức tranh toàn diện về những hoạt động của Ngân hàng Đông Dương tại Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc; làm rõ các vai trò của ngân hàng trong thời kỳ thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai, khai thác thuộc địa và các giai đoạn trước, trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
  2. Đưa ra những nhận định, đánh giá khách quan về sự ra đời, phát triển cũng như vai trò của Ngân hàng Đông Dương tại Việt Nam.
  3. Bổ sung vào kho tàng khoa học xã hội và nhân văn một nguồn tư liệu mới về Ngân hàng Đông Dương và các vai trò chính yếu của tổ chức này trong thời kỳ thực dân Pháp cai trị Việt Nam.
  4. Cung cấp nguồn tài liệu xác thực cho các độc giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tiếp tục đi sâu tìm hiểu về hoạt động của Ngân hàng Đông Dương.
  5. Đặt cơ sở dữ liệu và phương pháp luận cho việc nghiên cứu các lĩnh vực liên quan như tài chính, tín dụng, tiền tệ, thuế khóa và ngân hàng ở các giai đoạn lịch sử kế tiếp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu:
    • Quá trình ra đời, cơ cấu tổ chức, vốn điều lệ và vai trò tài trợ tài chính của Ngân hàng Đông Dương trong thời kỳ Pháp tiến hành chiến tranh xâm lược, đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai và bình định Việt Nam (1875-1896).
    • Hoạt động phát hành giấy bạc, kinh doanh thương mại, đầu tư tài chính và vai trò chi phối của Ngân hàng Đông Dương trong hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp (1897-1929).
    • Hoạt động và vai trò của Ngân hàng Đông Dương trước khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933), trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) và giai đoạn thực dân Pháp tái chiếm, can thiệp tài chính đến khi rút khỏi Việt Nam (1945-1955).
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Lãnh thổ Việt Nam thời Pháp thuộc, bao gồm cả ba xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.
    • Thời gian: Từ năm 1875 (thành lập chi nhánh đầu tiên tại Sài Gòn) đến năm 1955 (thực dân Pháp chấm dứt sự hiện diện quân sự và Ngân hàng Đông Dương rút khỏi Việt Nam).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tình hình nghiên cứu trong nước

Tác giả đã tiến hành điểm luận các nhóm công trình nghiên cứu trong nước:

  • Nhóm công trình lịch sử tổng quát: Đinh Xuân Lâm (2005) trong Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập 2) trình bày về chính sách khai thác thuộc địa và chính sách đầu tư của tư bản Pháp; Nguyễn Thế Anh (2008) trong Việt Nam thời Pháp đô hộ cung cấp bảng số liệu và danh mục các công ty do Ngân hàng Đông Dương trực tiếp kiểm soát; các bộ sách sự kiện lịch sử của Dương Kinh Quốc, Dương Trung Quốc và Viện Sử học; công trình của Trương Bá Cần (2011) về ngoại giao củng cố cơ sở Nam Kỳ (1862-1874); Nguyễn Xuân Thọ (2016); Nguyễn Đình Tư (2016).
  • Nhóm công trình chuyên sâu về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng:
    • Phạm Quang Trung (1997) với Lịch sử Tín dụng nông nghiệp Việt Nam (1875-1945) phân tích vai trò ngân hàng dành cho các thuộc địa Viễn Đông và hoạt động cho vay mùa vụ.
    • Nguyễn Anh Huy (2010) với Lịch sử Tiền tệ Việt Nam sơ truy và lược khảo trình bày các chế độ tiền tệ (ngân bản vị, kim bản vị, bản vị franc) và nghiệp vụ phát hành giấy bạc.
    • Phạm Thăng (1995) với Tiền tệ Việt Nam theo dòng lịch sử (Tập 1) khảo cứu các kỳ phát hành giấy bạc, mệnh giá, kích thước, chữ ký trên đồng bạc Đông Dương.
    • Tổ nghiên cứu lịch sử ngân hàng thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1976) trong Lịch sử Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1951-1976), sơ thảo (Tập 1) nêu rõ ba thủ đoạn bóc lột của Ngân hàng Đông Dương: độc quyền phát hành giấy bạc, kinh doanh thương mại chèn ép Ngân khố và trục lợi từ chênh lệch hối đoái.
    • Tập hồi ký 40 mùa sen nở (1991) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với hồi ức của Trần Dương, Đặng Đình Hòe, Trần Huy Bá, Nguyễn Khắc Cư về đấu tranh tiền tệ sau năm 1945.
    • Lê Đình Chân (1972, 1973) với các tác phẩm Lịch sử Tiền tệ nước nhà, Lịch sử tiền tệ thế giới, Tài chính Công toàn tập phân tích các nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, dài hạn và quan hệ giữa ngân khố với ngân hàng trung ương.
    • Đỗ Thị Mỹ Hiền (2017) với luận án tiến sĩ Hoạt động của Ngân hàng Đông Dương tại Việt Nam từ năm 1875 đến năm 1945 tại Đại học Vinh.
    • Phan Hạ Uyên (1973) với công trình lưu hành nội bộ Lịch sử Tiền tệ Đông Dương và Ngân hàng Đông Dương từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX phân tích sâu về mạng lưới, cơ cấu vốn và mối quan hệ với các công ty tư bản.
    • Võ Văn Sen (2005) trong Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam (1954-1975) chỉ ra vai trò của Ngân hàng Đông Dương trong việc chuyển dịch vốn và tài sản của tư bản Pháp về nước giai đoạn 1945-1954.
    • Trần Dương và Phạm Thọ (1960) trong Lưu thông tiền tệ ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Viện Kinh tế (1966) trong Kinh tế Việt Nam từ cách mạng tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi (1945-1954); Nguyễn Bích Huệ (1968); Nguyễn Anh Tuấn (1968); Hồ Tuấn Dung (2003); Vũ Văn Hiền (1949); Phạm Thị Hồng Hà (2017); Lê Quốc Sử (1998).
    • Các bài báo khoa học chuyên ngành của Văn Tạo (1956), Phan Gia Bền (1958), Nguyễn Công Bình (1955), Lê Công Truyền (1972), Lê Đình Chân (1962, 1972), Lương Hữu Định (2009), Đào Hùng (2009), Ngô Văn Hòa và Phạm Quang Trung (2009), Hà Minh Hồng và Dương Tô Quốc Thái (2013), Dương Tô Quốc Thái (2013, 2015).

Tình hình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

  • Marc Meuleau (1990) với công trình Des Pionniers en Extrême-Orient: Histoire de la Banque de l’Indochine (1875-1975) dày 713 trang (bản dịch của René Ngọc Nhân), khai thác từ kho lưu trữ của Banque Indosuez, phản ánh lịch sử hình thành, cơ cấu quản trị, mạng lưới quốc tế và hoạt động tài trợ chiến tranh, bình định của ngân hàng.
  • Albert Sabés (1931) với tác phẩm Le Renouvellement du privilège de la banque de l'Indochine phân tích chế độ tiền tệ, cơ cấu Hội đồng Quản trị và Công ước ngày 22/11/1929 về gia hạn đặc quyền ngân hàng.
  • Jean Pierre Aumiphin (1994) trong Sự hiện diện Tài chính và Kinh tế của Pháp ở Đông Dương (1859-1939) khảo sát vốn đầu tư công và tư, đánh giá Ngân hàng Đông Dương là định chế tài chính phục vụ sự bóc lột của chủ nghĩa đế quốc.
  • Paul Bernard (1934) với Le problème économique Indochinois phân tích tác động của cuộc đại khủng hoảng 1929-1933 đối với ngân sách và vai trò của hệ thống tín dụng Đông Dương.
  • Paul Doumer (1905/2015) trong Hồi ký Xứ Đông Dương (L’Indo-Chine française) ghi nhận hiện trạng thiếu hụt vốn đầu tư và các giải pháp vay nợ tài chính để xây dựng cơ sở hạ tầng.
  • Philippe Devillers (2006) trong Người Pháp và người Annam - Bạn hay Thù ?; các nghiên cứu của Robert Elie, Loye, Simoni H., Détieux Marcel, André Touzet, Henri Guermeur.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, đồng thời định vị là công trình đầu tiên khảo cứu chuyên biệt và toàn diện quá trình thực hiện vai trò tư bản tài chính của Ngân hàng Đông Dương xuyên suốt từ năm 1875 đến năm 1955. Luận án đi sâu giải quyết ba vấn đề lịch sử then chốt còn bỏ ngỏ:

  1. Vai trò của Ngân hàng Đông Dương với tư cách "kẻ tài trợ tài chính" chính cho các chiến dịch quân sự xâm lược Bắc Kỳ và bình định phong trào kháng chiến của nhân dân Việt Nam (1875-1896).
  2. Cơ chế chi phối toàn diện nền kinh tế thuộc địa của ngân hàng thông qua phát hành giấy bạc, cung ứng tín dụng cho chính quyền Liên bang Đông Dương và khu vực tư nhân (1897-1929).
  3. Những biến động về vai trò và các hành động chuyển dịch tài sản của Ngân hàng Đông Dương trước các biến cố kinh tế - chính trị giai đoạn 1930-1955.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên hệ thống phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là lý luận về chủ nghĩa đế quốc, sự hình thành tư bản tài chính từ sự dung hợp giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp, cùng các cơ chế thống trị kinh tế của chủ nghĩa thực dân.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, khách quan toàn bộ tiến trình ra đời, hoạt động, biến đổi tổ chức và sự rút lui của Ngân hàng Đông Dương theo đúng trình tự thời gian và không gian lịch sử (1875-1955).
  • Phương pháp lôgíc: Nghiên cứu bản chất, quy luật vận động nội tại, phân tích các mối liên hệ tất yếu giữa biến động chính trị - quân sự với các chính sách tài chính, tiền tệ và hoạt động tín dụng của ngân hàng.
  • Các phương pháp bổ trợ: Kết hợp phương pháp so sánh, đối chiếu tư liệu, phương pháp thống kê, phân tích định lượng các chuỗi số liệu tài chính (vốn điều lệ, lượng tiền lưu hành, dự trữ kim khí, tỷ giá hối đoái, chỉ số giá cả sinh hoạt, danh mục đầu tư công ty vô danh).

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Tài liệu lưu trữ quốc gia:
    • Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP.HCM): Phông Thống đốc Nam Kỳ (các hồ sơ N0IA4/094(2), N0IA4/094(7), N0IA4/101(1) về các khoản vay nông nghiệp BIC); Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (1948-1955) với các hồ sơ tiêu biểu: Hồ sơ 2018 (lưu hành giấy bạc 1$ kiểu Mỹ 1951), Hồ sơ 2019 (thu hồi tiền kẽm 1$ 1951), Hồ sơ 2020 (đổi giấy bạc cũ 1951), Hồ sơ 2048 (lỗ tiệm cầm đồ và bán bất động sản 1950-1951), các Hồ sơ 2185 đến 2190 (phiên họp Hội đồng Quản trị Viện Phát hành tiền tệ Việt - Lào - Campuchia 1951-1952), Hồ sơ 2191 (văn bản Tòa Công sứ Anh 1952), Hồ sơ 2193 (quy định thành lập và quản lý ngân hàng 1950-1952), Hồ sơ 2331 (sụt giá đồng bạc 1953), Hồ sơ 2456-2458 và 2561.
    • Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I và III: Sách văn bản quy phạm pháp luật 1945-1995, tư liệu tổ chức bộ máy thuộc địa (1862-1945), tư liệu Nam Bộ kháng chiến tập II; các Sắc lệnh số 15-SL (17/9/1947) và Sắc lệnh số 92/SL (25/5/1952) của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
  • Tài liệu sách báo và thư viện: Nguồn tài liệu tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM (Phòng Hạn chế đọc), các niên giám thống kê Nam Kỳ, báo chí thời kỳ thuộc địa (Le Moniteur Universel, La Patrie, La Gazette de France), các công báo, tập san kinh tế và văn kiện lưu trữ bằng tiếng Pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chương này thực hiện tổng thuật chi tiết toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến Ngân hàng Đông Dương và chế độ tiền tệ thời kỳ thuộc địa. Tác giả phân loại các khuynh hướng tiếp cận:

  • Khuynh hướng nhìn nhận Ngân hàng Đông Dương là công cụ tài chính của chủ nghĩa thực dân nhằm bóc lột thuộc địa.
  • Khuynh hướng nghiên cứu nghiệp vụ kỹ thuật thuần túy về phát hành giấy bạc, đúc tiền xu và quản lý bản vị tiền tệ.
  • Khuynh hướng mô tả lịch sử doanh nghiệp và cơ cấu tổ chức quản trị.

Từ đó, chương 1 khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu Ngân hàng Đông Dương dưới góc độ một tập đoàn tư bản tài chính chi phối tổng thể tiến trình lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 1875-1955.

Chương 2: Sự ra đời của Ngân hàng Đông Dương và vai trò của nó trong thời kỳ chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam (1875 - 1896)

Chương 2 luận giải hoàn cảnh lịch sử dẫn đến sự thành lập Ngân hàng Đông Dương. Sau khi chiếm Sài Gòn, ngày 22/02/1860, Đô đốc Page tuyên bố mở cửa thương cảng Sài Gòn cho tàu buôn quốc tế nhằm tìm kiếm ngân sách phục vụ chiến tranh. Trong 4 tháng, thương nhân Hoa kiều đã thu mua chuyển về Chợ Lớn gần 100.000 thùng thóc; giá gạo tăng từ 40 lít ăn 1 quan tiền lên 3 quan tiền (~1 franc vàng).

Theo thống kê của Charles Lemire, thuế cảng thu được là 5.000 francs (năm 1860) và 20.000 francs (năm 1862) với mức thuế cố định 2 francs/tôn-nô. Đô đốc De la Grandière báo cáo thu nhập Nam Kỳ năm 1864 đạt 2.709.000 francs (gồm thuế trực thu 1.000 francs, thuế gián thu 1.709 francs, địa ốc 206.000 francs và các khoản khác). Luro ghi nhận thu nhập thuộc địa tăng từ 6.000 francs (1864) lên hơn 14 triệu francs (1874).

Bảng: Thống kê cơ sở kinh doanh tại Nam Kỳ theo Niên giám năm 1864 của Đô đốc De la Grandière

Loại hình cơ sở kinh doanh / dịch vụ Số lượng cơ sở
Cơ sở xuất nhập cảng 06
Văn phòng đại diện thương nghiệp 07
Cửa hàng bán đồ nội thất, hàng hóa Paris, rượu, đồ hộp 16
Cửa hàng gia vị 05
Cửa hàng đồ đồng và sắt 01
Tiệm đồng hồ 01
Cửa hàng dược 02
Hàng thịt 01
Tiệm cà phê, tiệm ăn 03
Tiệm cung cấp vật dụng nghề biển 02
Phòng dịch vụ quầy chiết khấu ngân hàng thương nghiệp 02
Phòng dịch vụ du lịch 01
Xưởng dệt tơ lụa chạy bằng máy hơi nước 01
Khu nhượng địa dùng làm công trường khai thác 02
Phòng khai thác công trình kiến trúc 04

(Nguồn: Luận án trích dẫn từ Trương Bá Cần, 2011, tr. 47-48)

Ngày 21/01/1875, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh thành lập Ngân hàng Đông Dương; chi nhánh đầu tiên mở tại Sài Gòn ngày 19/04/1875. Cổ đông sáng lập thuộc hai liên minh ngân hàng lớn: Ngân hàng Chiết khấu Quốc gia Pháp và Ngân hàng Tín dụng, Kỹ nghệ và Thương mại Pháp.

Về vai trò trong chiến tranh xâm lược (1882-1896):

  • Ngân hàng Đông Dương là đơn vị tài trợ tài chính chủ yếu giúp thực dân Pháp mở rộng chiến tranh đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai (1882-1885).
  • Ngân hàng đóng vai trò hậu thuẫn tài chính để chính quyền thực dân thực hiện các chiến dịch bình định phong trào khởi nghĩa vũ trang của nhân dân Việt Nam trên khắp cả nước (1886-1896).

Chương 3: Hoạt động của Ngân hàng Đông Dương và vai trò chi phối của nó trong quá trình thực dân Pháp khai thác thuộc địa ở Việt Nam (1897 - 1929)

Chương 3 phân tích hoạt động và quyền lực chi phối của ngân hàng trong thời kỳ hai cuộc khai thác thuộc địa:

  • Sự phát triển quy mô: Vốn điều lệ gia tăng liên tục; kết nạp các tập đoàn, công ty công nghiệp và thương mại lớn của Pháp; mở rộng chi nhánh ra các đô thị lớn tại Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ.
  • Các mảng hoạt động cốt lõi:
    • Độc quyền phát hành giấy bạc: Thực hiện chuyển dịch từ chế độ ngân bản vị sang kim bản vị và gắn chặt với đồng franc Pháp. Luận án thống kê biến động tiền tệ qua các bảng số liệu: Bảng 3.1 (lưu thông và tồn quỹ kim khí 1913-1920), Bảng 3.7 (lượng tiền giấy lưu hành 1876-1930), Bảng 3.15 (kim khí dự trữ và tiền giấy lưu hành 1914-1939).
    • Kinh doanh thương mại và tín dụng nông nghiệp: Cho vay mùa vụ, chiết khấu thương phiếu và cung cấp vốn cho hệ thống Nông phố ngân hàng (CPA) giai đoạn 1928-1944 (Bảng 3.8, 3.9, 3.10).
    • Đầu tư tài chính: Nắm giữ cổ phần chi phối trong hàng loạt công ty vô danh thuộc các ngành khai mỏ, đồn điền cao su, công nghiệp chế biến, giao thông vận tải (Bảng 3.11, 3.13, 3.14, 3.16).
  • Ba vai trò chi phối nền kinh tế:
    1. Giữ vai trò trung tâm phát hành tiền tệ cho Liên bang Đông Dương.
    2. Là nhà cung cấp vốn lớn nhất cho các doanh nghiệp tư nhân sản xuất kinh doanh tại Đông Dương.
    3. Là nhà tài trợ tín dụng lớn nhất cho Chính quyền Liên bang Đông Dương thông qua việc phát hành và bảo lãnh các đợt công thải, công trái xây dựng hạ tầng cơ sở từ năm 1896 đến năm 1939 (Bảng 3.17).

Chương 4: Hoạt động của Ngân hàng Đông Dương và vai trò của nó ở Việt Nam trước, trong và sau Chiến tranh thế giới lần thứ II (1930 - 1955)

Chương 4 khảo sát hoạt động của ngân hàng trong các biến động chính trị - quân sự phức tạp:

  • Giai đoạn 1930-1939: Sự tham gia của các cựu quan chức Chính phủ Pháp và ngạch Thanh tra Tài chính vào Hội đồng Quản trị; điều chỉnh vốn điều lệ theo Công ước ngày 22/11/1929 và Sắc lệnh ngày 31/03/1931; thực hiện các biện pháp tín dụng nhằm xử lý hậu quả của cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đối với ngành lúa gạo và cao su tại Đông Dương.
  • Giai đoạn 1940-1945: Hoạt động trong bối cảnh phát xít Nhật chiếm đóng Đông Dương; xử lý các yêu cầu cung ứng tiền mặt cho quân đội Nhật, biến động phát hành tiền giấy (Bảng 4.8, 4.9), quản lý chỉ số giá bán sỉ và sinh hoạt của người bản xứ và người Âu (Bảng 4.10, 4.11).
  • Giai đoạn 1946-1955:
    • Tài trợ cho quân đội viễn chinh Pháp quay trở lại tái chiếm Việt Nam.
    • Tiến hành các hoạt động tài chính can thiệp: ngưng xuất tiền cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phát hành tiền 100 đồng mẫu mới in tại Calcutta; ngày 17/11/1945 Cao ủy d'Argenlieu tuyên bố vô giá trị các loại giấy bạc 500 đồng in tại nhà in Viễn Đông từ ngày 09/03/1945 đến 23/09/1945 và ép đổi giấy bạc cũ với giá 70% giá trị.
    • Vốn điều lệ tăng từ 157 triệu francs lên 2 tỷ francs; tiền lãi ròng tăng từ 49 triệu francs (1946) lên 638 triệu francs (1954).
    • Chuyển giao đặc quyền phát hành cho Viện Phát hành tiền tệ Quốc gia Liên kết Việt - Lào - Campuchia (1951-1952) và thực hiện các nghiệp vụ chuyển kiều hối, rút vốn tư bản Pháp về nước trước khi chấm dứt hoạt động tại Việt Nam năm 1955.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 5 đóng góp khoa học mới:

  1. Tái hiện hệ thống hoạt động tài trợ chiến tranh (1875-1896): Khôi phục bức tranh toàn diện về các hoạt động của Ngân hàng Đông Dương và chứng minh vai trò cung cấp tài chính trực tiếp cho các chiến dịch quân sự đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai và bình định các cuộc khởi nghĩa trên cả nước.
  2. Làm rõ bản chất lũng đoạn của tư bản tài chính Pháp: Phân tích cơ chế thao túng kinh tế - chính trị - xã hội thông qua sự kết hợp giữa vốn điều lệ khổng lồ, mạng lưới chi nhánh rộng khắp, quyền lực phát hành tiền tệ và liên minh giữa giới tài phiệt với các quan chức ngạch Thanh tra Tài chính Pháp.
  3. Làm sáng tỏ mối liên hệ giữa chiến tranh, chính trị và tài chính: Luận giải mối liên hệ mật thiết giữa các sự kiện quân sự, chính trị với các công cụ kinh tế (phát hành công trái, tín dụng, điều tiết tiền tệ), giải đáp câu hỏi về nguồn tài trợ kinh tế cho bộ máy cai trị thực dân.
  4. Đánh giá toàn diện, hai mặt về tác động kinh tế: Bên cạnh việc vạch rõ bản chất bóc lột tìm kiếm siêu lợi nhuận của tư bản tài chính thuộc địa, luận án chỉ ra tác động khách quan của Ngân hàng Đông Dương trong việc du nhập hệ thống ngân hàng hiện đại kiểu châu Âu, thúc đẩy phát triển giao thông vận tải, hạ tầng kỹ thuật và kích thích thương mại hàng hóa tại Việt Nam.
  5. Bổ sung nguồn tư liệu lưu trữ và lấp khoảng trống lịch sử: Cung cấp khối lượng lớn tư liệu gốc từ các trung tâm lưu trữ, góp phần hoàn thiện bức tranh lịch sử kinh tế, tài chính, tín dụng và ngân hàng thời kỳ cận - hiện đại của Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn tư liệu gốc về Ngân hàng Đông Dương bị phân tán ở nhiều trung tâm lưu trữ trong và ngoài nước (Pháp, Việt Nam, Lào, Campuchia); nhiều hồ sơ bị hủy hoại do chiến tranh, thời gian hoặc bị tiêu hủy theo lệnh của chính quyền thuộc địa; một số tài liệu thống kê chuyên sâu về các phi vụ chuyển vốn sau năm 1950 chưa thể tiếp cận trọn vẹn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối sánh hoạt động của Ngân hàng Đông Dương tại Việt Nam với các chi nhánh ở Lào, Campuchia, Trung Quốc và các thuộc địa khác của Pháp; nghiên cứu sâu sự chuyển tiếp của hệ thống tài chính - ngân hàng từ thời kỳ Pháp thuộc sang giai đoạn 1954-1975 ở hai miền Nam - Bắc Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng, Quan hệ Quốc tế.
    • Các nhà nghiên cứu lưu trữ học, các chuyên gia nghiên cứu chính sách tài chính - tiền tệ và các cơ quan quản lý nhà nước về ngân hàng.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Danh mục các hồ sơ lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II liên quan đến Phông Thống đốc Nam Kỳ và Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (1948-1955).
    • Chuỗi bảng thống kê về lượng tiền lưu thông, kim khí dự trữ, chỉ số giá cả và lãi suất cho vay nông nghiệp qua các thời kỳ lịch sử.
    • Khung phân tích về sự kết hợp giữa tư bản tài chính ngân hàng với bộ máy chính trị thuộc địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Chi nhánh đầu tiên của Ngân hàng Đông Dương được thành lập vào ngày tháng năm nào và xuất phát từ bối cảnh kinh tế nào?

Chi nhánh đầu tiên của Ngân hàng Đông Dương được thành lập tại Sài Gòn vào ngày 19/04/1875 (sau Sắc lệnh thành lập ngân hàng ngày 21/01/1875 của Tổng thống Pháp). Sự ra đời này xuất phát từ bối cảnh thương cảng Sài Gòn được mở cửa tự do từ ngày 22/02/1860, giao thương lúa gạo phát triển mạnh nhưng nền tài chính Nam Kỳ yếu kém, nạn cho vay nặng lãi hoành hành với lãi suất lên tới 200% - 300%/năm khiến Soái phủ Nam Kỳ đề xuất thành lập ngân hàng tín dụng lãi suất thấp để phục vụ thương mại và cai trị.

2. Ngân hàng Đông Dương nắm giữ những đặc quyền kinh tế nào tại Đông Dương?

Ngân hàng Đông Dương nắm giữ ba đặc quyền căn bản do Chính phủ Pháp ban hành:

  • Đặc quyền phát hành giấy bạc: Kiểm soát nguồn cung ứng tiền tệ lưu thông trên toàn cõi Đông Dương.
  • Đặc quyền kinh doanh thương mại: Cung cấp tín dụng ngắn hạn và dài hạn cho các tổ chức, cá nhân phát triển sản xuất, nông nghiệp, công thương nghiệp và chiết khấu thương phiếu.
  • Đặc quyền đầu tư tài chính: Tham gia sáng lập doanh nghiệp, góp vốn vào các công ty vô danh và mua bán trái phiếu, công thải của chính quyền thuộc địa.

3. Luận án chỉ ra vai trò của Ngân hàng Đông Dương như thế nào trong cuộc chiến tranh xâm lược Bắc Kỳ của thực dân Pháp?

Luận án xác định Ngân hàng Đông Dương là "kẻ tài trợ tài chính chính" cho thực dân Pháp mở rộng cuộc chiến tranh đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai (1882-1885) và là "người hậu thuẫn tài chính" quan trọng để quân đội viễn chinh Pháp tiến hành các chiến dịch bình định các phong trào khởi nghĩa vũ trang của nhân dân Việt Nam trên khắp cả nước trong giai đoạn 1886-1896.

4. Sau năm 1945, Ngân hàng Đông Dương đã có những động thái tài chính nào gây khó khăn cho chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa?

Ngân hàng Đông Dương đã thực hiện các biện pháp: từ chối xuất tiền chi tiêu cho Chính phủ mới; phát hành loại giấy bạc 100 đồng kiểu mới in ở Calcutta nhằm tung ra lượng tiền không kiểm soát qua Ngân khố; ngày 17/11/1945, Cao ủy d'Argenlieu tuyên bố vô giá trị loại giấy bạc 500 đồng in tại nhà in Viễn Đông (từ 09/03/1945 đến 23/09/1945) và bắt buộc đổi giấy bạc 500 đồng phát hành trước ngày 09/03/1945 trong 7 ngày với 70% giá trị.

5. Sự gia tăng vốn điều lệ và lợi nhuận của Ngân hàng Đông Dương trong giai đoạn chiến tranh 1945-1954 được văn bản ghi nhận như thế nào?

Theo số liệu trích dẫn trong luận án từ công trình của Trần Dương và Phạm Thọ (1960), trong giai đoạn 1945-1954, vốn điều lệ của Ngân hàng Đông Dương đã tăng từ 157 triệu francs lên đến 2 tỷ francs. Lợi nhuận ròng của ngân hàng tăng từ 49 triệu francs (năm 1946) lên 638 triệu francs (năm 1954), tức tăng gấp 13 lần, đồng thời ngân hàng đóng vai trò chuyển dịch phần lớn tài sản, kiều hối của tư bản Pháp về nước trước khi rút khỏi Việt Nam.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Tô Quốc Thái là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, phục dựng có hệ thống quá trình hình thành, xác lập và thực thi vai trò tư bản tài chính của Ngân hàng Đông Dương tại Việt Nam trong giai đoạn 1875-1955. Dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ phong phú kết hợp với phương pháp nghiên cứu lịch sử và lôgíc, tác giả đã làm sáng tỏ cơ chế thao túng toàn diện của tập đoàn tư bản này đối với chiến tranh xâm lược, khai thác thuộc địa và chuyển dịch vốn tài phiệt. Công trình không chỉ vạch rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản tài chính thuộc địa mà còn đánh giá khách quan các tác động kinh tế hai mặt, đóng góp nguồn dữ liệu khoa học cho ngành Lịch sử Việt Nam và lịch sử tài chính - tiền tệ.