Luận án tiến sĩ đổi mới cơ cấu chi ngân sách nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở chdcnd lào

Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu đổi mới cơ cấu chi ngân sách nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở chdcnd lào, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Học viện Tài chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2014

158
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Giới thiệu và tính cấp thiết của đề tài

Luận án tiến sĩ này tập trung vào việc đổi mới cơ cấu chi ngân sách nhà nước (NSNN) nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội (KT-XH) tại CHDCND Lào. Từ năm 1986, Lào đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, và phát triển KT-XH. Tuy nhiên, cơ cấu chi NSNN hiện tại vẫn còn nhiều bất cập, chưa phân bổ nguồn lực hiệu quả và chưa đảm bảo công bằng xã hội. Đề tài này nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách này thông qua việc đề xuất các giải pháp đổi mới cơ cấu chi NSNN.

1.1. Bối cảnh và thách thức

CHDCND Lào đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển KT-XH, nhưng cơ cấu chi NSNN vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phân bổ nguồn lực hiệu quả. Khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện cơ cấu chi NSNN, dẫn đến việc cắt giảm một số khoản chi và không đạt được mục tiêu phát triển KT-XH.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Luận án nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận về cơ cấu chi NSNN, phân tích tác động của cơ cấu chi NSNN đến phát triển KT-XH giai đoạn 2001-2012, và đề xuất các giải pháp đổi mới cơ cấu chi NSNN cho giai đoạn 2015-2020.

II. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Luận án đã tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quản lý tài chính côngcải cách ngân sách. Các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào việc đổi mới quản lý NSNN, trong khi các nghiên cứu ngoài nước, đặc biệt từ Việt Nam, cung cấp nhiều kinh nghiệm quý báu về cải cách tài chínhphát triển kinh tế.

2.1. Nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào việc đổi mới quản lý NSNN, nhưng chưa có công trình nào chuyên sâu về đổi mới cơ cấu chi NSNN để thúc đẩy phát triển KT-XH. Các bài báo và luận văn thường mang tính tác nghiệp và chưa đủ sâu về lý luận.

2.2. Nghiên cứu ngoài nước

Các nghiên cứu từ Việt Nam, như luận án của Nguyễn Khắc Đức và Bùi Đường Nghiêu, đã cung cấp nhiều kinh nghiệm về đổi mới cơ cấu chi NSNN. Tuy nhiên, các nghiên cứu này cũng có những hạn chế, như chưa gắn kết đổi mới cơ cấu chi NSNN với mục tiêu cụ thể trong phát triển KT-XH.

III. Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, và phân tích kinh tế. Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn, giúp hệ thống hóa lý luận về cơ cấu chi NSNN và đề xuất các giải pháp đổi mới phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường.

3.1. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu đa dạng, bao gồm phân tích lý luận, điều tra thống kê, và phân tích kinh tế. Các phương pháp này giúp làm rõ tác động của cơ cấu chi NSNN đến phát triển KT-XH.

3.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận án góp phần hệ thống hóa lý luận về cơ cấu chi NSNN và đề xuất các giải pháp đổi mới phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường. Nghiên cứu này cũng có giá trị thực tiễn cao, giúp cải thiện hiệu quả quản lý NSNN tại CHDCND Lào.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ đổi mới cơ cấu chi ngân sách nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở chdcnd lào

Trích đoạn nội dung tài liệu

lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và nhận xét của cán bộ hƣớng dẫn. Luận án đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1 : CƠ CẤU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI. Chƣơng 2 : TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CẤU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI Ở CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN 2001-2012. Chƣơng 3 : GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CƠ CẤU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC ĐỂ THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI Ở CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN 2015-2020.

-14- Chƣơng 1 CƠ CẤU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI 1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ PHÁT TIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI 1. Nhận thức chung về phát triển kinh tế Lịch sử phát triển kinh tế cho thấy, mỗi quốc gia đều lựa chọn những con đƣờng phát triển riêng, phù hợp với điều kiện của mỗi nƣớc. Nhìn một cách tổng thể, có thể hệ thống sự lựa chọn đó theo ba con đƣờng nhƣ: Thúc đẩy tăng trƣởng nhanh; coi trọng vấn đề bình đẳng, công bằng xã hội và mô hình phát triển toàn diện.

Các nƣớc phát triển theo khuynh hƣớng tƣ bản chủ nghĩa trƣớc đây thƣờng lựa chọn con đƣờng thúc đẩy tăng trƣởng nhanh. Theo cách lựa chọn này, Chính phủ đã tập trung chủ yếu vào các chính sách đẩy nhanh tốc độ tăng trƣởng kinh tế mà bỏ qua vấn đề xã hội. Các vấn đề bình đẳng, công bằng xã hội và nâng cao chất lƣợng cuộc sống dân cƣ chỉ đƣợc đặt ra khi tăng trƣởng thu nhập đã đạt đƣợc một trình độ khá cao. Thực tế cho thấy nhiều quốc gia thực hiện theo mô hình này đã làm cho nền kinh tế rất nhanh khởi sắc, tốc độ tăng trƣởng bình quân hàng năm rất cao.

Hiện nay, mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. Phát triển kinh tế đƣợc xem nhƣ là quá trình biến đổi cả về lƣợng và về chất; là một sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Theo cách hiểu phát triển kinh tế cả về lƣợng và chất, thì phát triển kinh tế bao gồm: Tăng trƣởng kinh tế và cải biến cơ cấu kinh tế.

Tăng trưởng kinh tế Tăng trƣởng kinh tế là sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên đầu ngƣời. Đây là tiêu thức thể hiện -15- quá trình biến đổi về lƣợng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển. Theo mô hình kinh tế thị trƣờng, thƣớc đo tăng trƣởng kinh tế đƣợc xác định theo các chỉ tiêu thuộc hệ thống tài khoản quốc gia nhƣ sau: a. Tổng giá trị sản xuất (GO - Gross output) là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ đƣợc tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thƣờng là một năm).

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross domestic product) là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia tạo nên trong một thời kỳ nhất định. Tổng thu nhập quốc dân (GNI-Gross national income) là chỉ tiêu xuất hiện trong bảng Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) năm 1993 thay cho chỉ tiêu GNP sử dụng trong bảng SNA năm 1968. Về nội dung thì GNI và GNP là nhƣ nhau, tuy vậy khi sử dụng GNI là muốn nói theo cách tiếp cận từ thu nhập chứ không phải nói theo góc độ sản phẩm sản xuất nhƣ GNP. Thu nhập quốc dân (NI-National income) là phần giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ mới sáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định.

NI chính là tổng thu nhập quốc dân (GNI) sau khi đã loại trừ đi khấu hao vốn cố định của nền kinh tế (DP). NI=GNI-Dp e. Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI-National disposable income) là phần thu nhập của quốc gia dành cho tiêu dùng cuối cùng và tích lũy thuần trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này đƣợc hình thành sau khi thực hiện phân phối thu nhập lần thứ hai, thực chất đó là thu nhập quốc dân (NI) sau khi đã điều chỉnh các khoản thu, chi về chuyển nhƣợng hiện hành giữa các đơn vị thƣờng trú và không thƣờng trú.

Thu nhập bình quân đầu người là có ý nghĩa phản ánh thu nhập, chỉ tiêu GDP và GNI còn đƣợc sử dụng để đánh giá mức thu nhập bình quân trên đầu ngƣời của mỗi quốc gia (GDP/ngƣời, GNI/ngƣời). Chỉ tiêu này phản ánh tăng trƣởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân số. Cải biến cơ cấu kinh tế Cải biến cơ cấu kinh tế là quá trình làm thay đổi tỷ trọng giá trị sản lƣợng của các ngành trong tổng giá trị sản lƣợng của cả nền kinh tế theo định hƣớng của nhà nƣớc. Tùy theo điều kiện KT-XH cụ thể mà Chính phủ của mỗi quốc gia sẽ xác định mục tiêu và lộ trình cải biến cơ cấu kinh tế của quốc gia đó cho phù hợp.

Trong hoàn cảnh hiện nay, mục tiêu cải biến cơ cấu kinh tế của quốc gia ngoài việc phải cân nhắc dựa trên những điều kiện của chính quốc gia đó; còn phải cân nhắc đến các điều kiện KT-XH cụ thể của các nƣớc khác trong khu vực và trên thế giới. Chính vì vậy, cải biến cơ cấu kinh tế đƣợc coi là tiêu thức phản ánh sự biến đổi kinh tế về chất của một quốc gia. Để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nƣớc với nhau, ngƣời ta thƣờng dựa vào dấu hiệu và dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt đƣợc. Cơ cấu kinh tế đƣợc hiểu là tƣơng quan giữa các bộ phận trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lƣợng giữa các bộ phận với nhau.

Các mối quan hệ này đƣợc hình thành trong những điều kiện KT-XH nhất định, luôn luôn vận động và hƣớng vào những mục tiêu cụ thể. Nếu các thƣớc đo tăng trƣởng phản ánh sự thay đổi về lƣợng thì xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế là thể hiện mặt chất kinh tế trong quá trình phát triển. Đánh giá sự phát triển kinh tế cần xem xét một cách toàn diện các góc độ của cơ cấu kinh tế theo các tiêu chí chủ yếu sau: -17- a. Cơ cấu ngành kinh tế Về lý thuyết, cơ cấu ngành kinh tế thể hiện cả mặt định lƣợng và định tính.

Mặt định lƣợng chính là quy mô và tỷ trọng chiếm trong GDP, lao động, vốn của mỗi ngành trong tổng thể kinh tế quốc dân. Ví dụ: Giá trị sản lƣợng ngành công nghiệp chiếm X% trong GDP. Giá trị sản lƣợng ngành nông nghiệp chiếm Y% trong GDP,…mặt định tính thể hiện vị trí và tầm quan trọng của mỗi ngành trong hệ thống kinh tế quốc dân. Các nƣớc đang phát triển có xuất phát điểm thấp, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, tỷ trọng nông nghiệp của các nƣớc này thƣờng chiếm từ 20-30% trong GDP.

Trong khi đó, ở các nƣớc phát triển, tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp chỉ chiếm từ 1-7% trong GDP. Trong quá trình phát triển, cơ cấu ngành kinh tế của mỗi quốc gia đều có sự chuyển đổi theo một xu hƣớng chung là tỷ trọng nông nghiệp có xu hƣớng giảm đi, trong khi đó tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên.Cơ cấu kinh tế theo mức độ đô thị hóa-Thành thị và nông thôn Sự phát triển kinh tế còn đƣợc thể hiện ở cơ cấu kinh tế theo mức độ đô thị hóa-Thành thị và nông thôn. Đây là tiêu chí phản ánh rõ nét nhất, sinh động nhất trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung, của từng địa phƣơng nói riêng. Xu hƣớng chung, ở các nƣớc trình độ phát triển thấp thì mức độ đô thị hóa thấp và ngƣợc lại.

Ở các nƣớc đang phát triển, kinh tế nông thôn thƣờng chiếm tỷ trọng cao. Chỉ tiêu định lƣợng để phản ánh cơ cấu kinh tế theo mức độ đô thị hóa thƣờng đƣợc dùng là tỷ lệ dân số nông thôn so với tổng dân số ở cùng một thời điểm nào đó. Nơi nào tỷ lệ dân số nông thôn cao thì bị coi là kinh tế nông thôn vẫn đang chiếm ƣu thế về cơ cấu. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới (WB), vào cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, 45 nƣớc có mức thu nhập thấp, tỷ trọng dân số nông thôn chiếm 72%, còn 63 nƣớc có mức thu nhập tiếp theo, -18- con số này là 65%.

Trong khi đó, các nƣớc phát triển có hiện tƣợng đối ngƣợc lại, 80% dân số sống ở khu vực thành thị. Một xu hƣớng khá phổ biến của các nƣớc đang phát triển là luôn có một dòng di dân từ nông thôn ra thành thị. Đó là kết quả của cả “lực đẩy” từ khu vực nông thôn bởi sự nghèo khổ cũng nhƣ sự thiếu thốn đất đai ngày càng nhiều và cả “lực hút” từ sự hấp dẫn của khu vực thành thị. Dòng di dân ngày càng lớn đã tạo ra áp lực rất mạnh đối với chính phủ các nƣớc đang phát triển.

Mặt khác, việc thực hiện các chính sách công nghiệp hóa nông thôn, đô thị hóa, phát triển hệ thống công nghiệp, dịch vụ nông thôn làm cho tỷ trọng kinh tế thành thị ở các nƣớc đang phát triển ngày càng tăng lên, tốc độ tăng dân số thành thị cao hơn so với tốc độ tăng trƣởng dân số chung và đó chính là xu thế hợp lý trong quá trình phát triển. Cơ cấu thành phần kinh tế Đây là dạng cơ cấu phản ánh tính chất xã hội hóa về tƣ liệu sản xuất và tài sản của nền kinh tế. Xét về nguồn gốc thì có 2 loại hình sở hữu là sở hữu công cộng và sở hữu tƣ nhân. Nhìn chung các nƣớc phát triển và xu hƣớng ở các nƣớc đang phát triển, khu vực kinh tế tƣ nhân thƣờng chiếm tỷ trọng cao và nền kinh tế phát triển theo con đƣờng tƣ nhân hóa.

Hiện nay đang tồn tại 6 thành phần kinh tế là: Thành phần kinh tế nhà nƣớc, thành phần kinh tế tập thể, thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, thành phần kinh tế tƣ bản tƣ nhân, thành phần kinh tế tƣ bản nhà nƣớc và thành phần kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Đổi mới cơ cấu chi ngân sách nhà nước thúc đẩy kinh tế xã hội tại CHDCND Lào là một nghiên cứu chuyên sâu về việc cải cách cơ cấu chi ngân sách nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại Lào. Luận án tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chi ngân sách, đề xuất các giải pháp đổi mới để tối ưu hóa nguồn lực tài chính, đồng thời đưa ra các khuyến nghị chính sách phù hợp với bối cảnh đặc thù của quốc gia này. Đọc tài liệu này, độc giả sẽ hiểu rõ hơn về vai trò của chi ngân sách trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống xã hội.

Nếu bạn quan tâm đến chủ đề quản lý tài chính và ngân sách, hãy khám phá thêm Luận văn hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn thực tiễn về việc cải thiện hiệu quả quản lý chi ngân sách tại một địa phương cụ thể. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ quản lý tài chính tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh sẽ mang đến những kiến thức chuyên sâu về quản lý tài chính trong bối cảnh hiện đại. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ an ninh tài chính trong điều kiện kinh tế thị trường của Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các thách thức và giải pháp đảm bảo an ninh tài chính trong nền kinh tế thị trường.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan đến tài chính và quản lý ngân sách.