phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu gồm 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chƣơng 2: Cơ sở khoa học về quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập Chƣơng 3: Thực trạng quản lý tài chính tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Chƣơng 4: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh luan an 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. CÁC HƢỚNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Hƣớng nghiên cứu lý luận về tài chính công Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Lý luận về tài chính công là một hướng được nghiên cứu từ rất sớm ở nước ngoài. Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài theo hướng này.
Những công trình nghiên cứu về tài chính công trên thế giới đã tổng thuật chi tiết nội dung nghiên cứu về đặc điểm, chức năng, vai trò của tài chính công. Những nghiên cứu này đã nhận được sự quan tâm của nhiều người. Đặc biệt những công trình nghiên cứu về tài chính công ở Mỹ, Anh (bao gồm sách được xuất bản và các bài viết đăng trên các báo, tạp chí). Lý thuyết về tài chính công được bổ sung, hoàn thiện dần theo thời gian.
Năm 1979, Alan (1979) đã cho tái bản lần thứ sáu cuốn sách của mình về tài chính công. Cuốn “Tài chính công - Lý thuyết và thực tiễn” của ông với những nội dung cơ bản nhất về tài chính công được tác giả bàn khá chi tiết. Một số vấn đề thực tiễn tài chính công ở Anh đã được đưa ra phân tích và lồng ghép vào các nội dung lý thuyết [103]. Ba mươi năm sau, với cùng tên sách là “Tài chính công - Lý thuyết và thực tiễn”, tác giả Holley (2007) cũng cho tái bản lần thứ hai cuốn sách của mình.
Holley đưa ra những vấn đề thực tiễn mới về tài chính công ở Mỹ [107]. Harvey Rosen (2002) xuất bản cuốn sách Tài chính công, Quản lý tài chính công, trong đó tập trung đề cập đến các vấn đề đánh thuế và chi tiêu của Chính phủ. Việc đánh thuế bắt đầu bằng các văn bản quy phạm pháp luật, quản lý thuế, và các biện pháp khác nhằm đảm bảo sự tuân thủ tự nguyện, giảm bớt tình trạng trốn thuế, và đảm bảo rằng việc thu thuế và các biện pháp khuyến khích là nhất quán với quy phạm pháp luật. Một nhiệm vụ then chốt khác là dự toán số thu làm cơ sở cho việc lập kế hoạch ngân sách.
Phần chi tiêu bao quát chu trình ngân sách, bao gồm cả chuẩn bị ngân sách, các biện pháp kiểm soát nội bộ, kế toán, kiểm toán nội bộ và kiểm toán từ bên ngoài, mua sắm, chế độ báo cáo và kiểm tra [105]. luan an 9 Nghiên cứu của các tác giả trong nước Tại Việt Nam, tài chính công cũng được nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm. Tác giả Vũ Văn Hóa đã xuất bản Giáo trình tài chính công, trong đó đề cập đến những vấn đề cơ bản của tài chính công như hệ thống khái niệm, đặc điểm, ngân sách nhà nước; tài chính các đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước; các quỹ tài chính công ngoài ngân sách nhà nước; tín dụng nhà nước và quản lý nợ công. Cuốn sách cung cấp những kiến thức cơ bản về tài chính công, góp phần định hướng khung lý thuyết về tài chính công [34].
Nhóm tác giả Sử Đình Thành và Bùi Thị Mai Hoài đã xuất bản cuốn sách Tài chính công và phân tích chính sách thuế, trong đó trình bày một số nội dung cơ bản về: Những nguyên lý phân tích tài chính công; Ngoại tác; Hàng hóa công; Đánh giá chi tiêu công: Phân tích lợi ích và chi phí; Lựa chọn công; Phân cấp tài khóa; Giáo dục… Thông qua cuốn sách này, các tác giả tập trung phân tích những vấn đề kinh tế học hiện đại được vận dụng vào lĩnh vực tài chính công, chẳng hạn, hiệu ứng của chính sách tài chính công và thuế tác động đến tiết kiệm và đầu tư, hành vi người tiêu dùng, cung lao động, sự giàu có, tài sản và thương mại. Tác giả Dương Thị Bình Minh xuất bản cuốn sách Tài chính công, trong đó vừa kế thừa có chọn lọc những kiến thức lý luận hiện đại về quản lý tài chính công của các nước có nền kinh tế phát triển, vừa trình bày và phân tích có hệ thống toàn bộ nội dung về luật pháp, chính sách, các công cụ quản l trong lĩnh vực tài chính công ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó tác giả rút ra những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quản lý tài chính công cho phù hợp với nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường [81]. Hƣớng nghiên cứu về quản lý tài chính công Nghiên cứu của các tác giả ngoài nước Quản lý tài chính công là một trong những vấn đề được các nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm.
Có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về quản l tài chính công, trong đó một số công trình điển hình như: Trong cuốn Quản lý tài chính công, Howard A. Frank trình bày những nội dung cơ bản về quản lý tài chính công. Tác giả đã phân tích 5 vấn đề cơ bản về bối luan an 10 cảnh, tài chính công, hệ thống hưu trí, đo lường hiệu suất và ngân sách, và quan điểm quốc tế [106]. Cuốn sách Quản lý tài chính Trung Quốc của tác giả Hạng Hoài Thành, trong đó đề cập một cách rất toàn diện các vấn đề quản l tài chính công như quản lý dự toán ngân sách, Kho bạc nhà nước, chi tiêu công, bảo hiểm xã hội, thuế và phí, nợ quốc gia, vốn nhà nước tại doanh nghiệp…Ngoài ra, học giả còn trình bày quản lý kế toán, giám sát tài chính, tin học hóa trong quản lý tài chính và một vấn đề đáng quan tâm là quản lý tài chính công trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế.
Từ năm 1998 đến nay, Trung Quốc đã thúc đẩy thực hiện cải cách chế độ quản lý dự toán, lấy cải cách dự toán ngành và phân loại thu chi dự toán làm nội dung chủ yếu và là trọng điểm của cải cách tài chính. Đây cũng là bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam khi hiện nay, công tác quản lý dự toán chưa được chú trọng, công tác quản lý chỉ tập trung vào khâu chấp hành và quyết toán; Chương 7, tác giả đề cập đến quản lý thu thuế. Trung Quốc đã hình thành thể chế quản lý thu thuế “quyền thu thuế tập trung, phân quyền có mức độ, thống nhất và phân chia kết hợp, phân cấp quản l ”. Nội dung cụ thể như sau: Quyền lập pháp thu thuế thuộc Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Ủy ban Thường vụ Đại hội, nhưng các cơ quan này cũng có thể trao quyền cho Quốc vụ viện tiến hành lập pháp.
Quốc vụ viện phụ trách đặt ra pháp quy hành chính thu thuế, công bố và thực thi điều lệ thu thuế, quyết định tăng giảm mục thuế, điều chỉnh thuế suất và thẩm xét chính sách giảm, miễn thuế [94]. Wolfgang Streeck và Daniel Mertens trong cuốn sách “Thắt chặt tài chính và luan an 11 đầu tư công: Có cần thiết phải đối lập?” đề cập đến cơ cấu chi đầu tư công trong điều kiện ngân sách hạn chế trên cơ sở việc khảo sát thực tế đầu tư công của ba nước: Mỹ, Đức và Thuỵ Điển giai đoạn 1981 - 2007. Chi đầu tư công của các quốc gia này có xu hướng tăng cao trong cả giai đoạn 1981 - 2007 và chủ yếu tăng đầu tư về nghiên cứu và phát triển, giáo dục, hỗ trợ cho gia đình, chính sách thị trường lao động. Hai tác giả đã tiến hành đánh giá năng lực của Chính phủ trong điều kiện thắt lưng buộc bụng tài chính để chuyển các NLTC vốn đã hạn hẹp sang tài trợ cho cho các chương trình định hướng tương lai nhằm thực hiện mục tiêu xã hội công bằng và hiệu quả hơn.
Những dữ liệu tại Đức, Thuỵ Điển và Mỹ trong những năm 1981-2007 là cơ sở để khám phá những động lực cho chính sách chi tiêu với sự kỳ vọng rằng những nỗ lực củng cố mục tiêu công bằng và hiệu quả hơn [117]. Bộ Chiến lược và Tài chính Hàn Quốc trong Mô đun kinh nghiệm phát triển 2012 của Hàn Quốc: Kinh nghiệm về quản lý hệ thống thông tin tài chính của Hàn Quốc - cấu trúc, vận hành và kết quả cho rằng: tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí là nguyên tắc căn bản trong quản lý, sử dụng inh phí Ngân sách nhà nước của nhiều nước trên thế giới. Từ năm 1961, Luật Quản lý tài chính của Hàn Quốc đã có một số quy định nhằm điều chỉnh về vấn đề này. Tính tới nay, Luật Quản lý tài chính đã được sửa đổi, bổ sung 25 lần để có thể cụ thể hoá hơn nữa các quy định, giúp đảm bảo tính minh bạch, công khai; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng nhằm nâng cao hiệu quả thực thi Luật [111].
Về việc bố trí kinh phí NSNN cho các dự án, chương trình, đơn vị, cơ quan chủ trì thực hiện phải thuyết minh nhằm làm sáng tỏ lợi ích và mục tiêu về kinh tế - xã hội cũng như các ảnh hưởng tới những vấn đề khác liên quan nhằm giúp có căn cứ để bố trí kinh phí thực hiện. Việc giám sát thực hiện được chú trọng đến công tác giải ngân để đảm bảo theo đúng kế hoạch, đồng thời, việc đánh giá ết quả của các dự án, chương trình so với mục tiêu đã đề ra đều được thực hiện hằng năm. Bên cạnh đó, trong các trường hợp chậm giải ngân hay kết quả không đạt được như mục tiêu đề ra thì sẽ bị cắt giảm kinh phí, thậm chí dừng thực hiện chương trình, dự án kém hiệu quả. Kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy kiểm soát tốt việc thực hiện các chương trình, dự án như trên sẽ hạn chế được tình trạng lãng phí NSNN.
Ngoài ra, luan an 12 trong tổ chức thực hiện, việc tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị đồng thời có chế tài xử lý triệt để các hành vi vi phạm trong thực hiện quy trình lập, phân bổ, quản lý, sử dụng NSNN là giải pháp quan trọng cho việc tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí [111].