Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam với đề tài "Đảng vận động trí thức trong đấu tranh giải phóng dân tộc từ năm 1930 đến năm 1945" tập trung nghiên cứu toàn diện sự lãnh đạo của Đảng đối với tầng lớp trí thức trong tiến trình đấu tranh giành chính quyền.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trí thức là lực lượng sáng tạo, truyền bá tri thức và là nguồn lực quan trọng đối với sự hưng thịnh của quốc gia dân tộc. Kế thừa truyền thống "hiền tài là nguyên khí quốc gia", ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi trọng vai trò của trí thức. Thực tiễn lịch sử giai đoạn 1930 - 1945 chứng minh đông đảo trí thức yêu nước đã tham gia phong trào cách mạng, bảo vệ Đảng, chuẩn bị lực lượng và góp phần vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Bên cạnh những thành công, công tác vận động trí thức thời kỳ này của một số cấp bộ Đảng từng bộc lộ hạn chế, điển hình là các quan điểm tả khuynh, giáo điều. Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực hiện các nghị quyết của Đảng (như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X, Nghị quyết Đại hội XI) về xây dựng đội ngũ trí thức, việc nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm lịch sử công tác vận động trí thức giai đoạn 1930 - 1945 là yêu cầu cấp thiết.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: Mặc dù đã có nhiều công trình đề cập đến trí thức hoặc phong trào yêu nước, nhưng công tác vận động trí thức thời kỳ 1930 - 1945 của Đảng phần lớn chỉ được phản ánh phân tán, lồng ghép trong các công trình chung, chưa có công trình độc lập nào nghiên cứu có hệ thống dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng. Ngoài ra, việc phân tích sự chuyển biến nhận thức của các cấp bộ Đảng, hoạt động của các tổ chức trí thức đặc thù (như Thanh niên Tiền phong, Trường Thanh niên Tiền tuyến, Hội Truyền bá Quốc ngữ, Đảng Dân chủ Việt Nam) cũng như việc giải quyết các nhận định học thuật chưa thống nhất giữa các tác giả trong và ngoài nước vẫn cần được luận giải thấu đáo.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng trong công tác vận động trí thức thời kỳ 1930 - 1945, từ đó đúc kết một số kinh nghiệm lịch sử.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu có hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và Nguyễn Ái Quốc về trí thức và công tác vận động trí thức ở Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945.
- Luận giải quá trình các cấp bộ Đảng lãnh đạo thực hiện công tác vận động trí thức, sự ra đời và hoạt động của các tổ chức trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng thời kỳ 1930 - 1945.
- Đánh giá khoa học, khách quan vị trí, vai trò và những đóng góp của trí thức trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc thời kỳ 1930 - 1945.
- Khẳng định những thành công, phân tích hạn chế của Đảng trong vận động trí thức thời kỳ 1930 - 1945.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác vận động trí thức của Đảng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thời kỳ 1930 - 1945, bao gồm: chủ trương, chính sách trí vận của Đảng và Nguyễn Ái Quốc; hoạt động lãnh đạo của các cấp bộ Đảng; các tổ chức, phong trào và đóng góp của trí thức.
- Phạm vi thời gian: Giới hạn trọng tâm trong 15 năm (đầu năm 1930 đến tháng 8/1945), có mở rộng khảo sát giai đoạn trước năm 1930 để làm rõ sự đóng góp của trí thức yêu nước đối với quá trình vận động thành lập Đảng.
- Phạm vi không gian: Thực hiện trên phạm vi cả nước, tập trung trọng điểm vào các đô thị lớn tập trung đông đảo trí thức gồm Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn - Chợ Lớn; đồng thời đề cập đến một số hoạt động của trí thức Việt Nam ở nước ngoài.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào quá trình hình thành nhận thức của Đảng về công tác vận động trí thức; các khuynh hướng tư tưởng và sự phân hóa của các nhóm trí thức; sự chuyển biến tư tưởng cùng những đóng góp cụ thể của trí thức vào phong trào giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan và phân loại hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài thành 3 nhóm chính:
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| CÁC NHÓM CÔNG TRÌNH ĐƯỢC TỔNG QUAN |
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu lịch sử Đảng có đề cập đến công tác vận động trí thức 1930-1945 |
| Nhóm 2: Các công trình về lịch sử dân tộc, danh nhân văn hóa, phong trào yêu nước và hồi ký |
| Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu chuyên khảo và học giả quốc tế về trí thức Việt Nam |
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
Các nhóm công trình nghiên cứu trước đây
| Nhóm tài liệu |
Các tác giả, công trình tiêu biểu |
Nội dung và giá trị ghi nhận |
| 1. Lịch sử Đảng |
Hồng Thế Công (Hà Huy Tập) - Sơ thảo Lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương (1933); Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương - Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (sơ thảo), tập I (1920 - 1954); Lịch sử Đảng bộ các địa phương: Thừa Thiên Huế (Tập 1), Hà Nội (1930 - 2000), TP. Hồ Chí Minh (1930 - 1975); Luận án của Nguyễn Thắng Lợi, Lương Quang Hiển. |
Đề cập đến chủ trương của Đảng về công tác vận động quần chúng và trí vận; ghi nhận vai trò của các nhân sĩ, trí thức (Võ Nguyên Giáp, Phan Thanh, Nghiêm Xuân Yêm, Nguyễn Xiển, Vũ Đình Hòe, Bùi Kỷ) và các tổ chức (Tổng Hội Sinh viên Đông Dương, Thanh niên Tiền phong, Trường Thanh niên Tiền tuyến). |
| 2. Lịch sử dân tộc, phong trào và hồi ký |
Huỳnh Văn Tiểng, Bùi Đức Tịnh (Thanh niên Tiền phong...); Nguyễn Thanh Tuấn (Một số vấn đề về trí thức Việt Nam); Phạm Hồng Tung (Lịch sử cuộc vận động vì các quyền dân sinh, dân chủ 1936 - 1939, Nội các Trần Trọng Kim...); Trịnh Nhu, Trần Trọng Thơ; Nguyễn Thị Thanh Thủy; Phạm Thị Huệ; Hồi ký của Đào Duy Anh, Vũ Đình Hòe, Trường Chinh, Trần Huy Liệu, Trần Văn Giàu. |
Phân tích các phong trào học sinh, sinh viên, trí thức (nhóm Hoàng - Mai - Lưu, Hội Truyền bá Quốc ngữ, Section d’Excursion et de Tourisme - SET); làm rõ cuộc đấu tranh tư tưởng ("nghệ thuật vị nghệ thuật" và "nghệ thuật vị nhân sinh"); ghi nhận vai trò của Đảng Dân chủ Việt Nam và các trí thức tiêu biểu (Nguyễn An Ninh, Phạm Ngọc Thạch, Phan Anh, Tạ Quang Bửu). |
| 3. Nghiên cứu chuyên khảo và học giả quốc tế |
William J. Duiker (The Rise of Nationalism in Vietnam 1900 - 1941, Ho Chi Minh - a Life); Yves Gras (L’histoire de la Guerre d’Indochine); Stein Tønnesson (The Vietnamese revolution of 1945...); Daniel Hémery; David G. Marr (Vietnam 1945..., Vietnamese Tradition on Trial, 1920 - 1945); Phạm Tất Dong; Nguyễn Văn Khánh; Nguyễn Quốc Bảo; Phạm Thị Mai Thủy; Chương Thâu; Nguyễn Thu Hải; Trần Viết Nghĩa; Trịnh Văn Thảo. |
Đánh giá sự hình thành tầng lớp trí thức Tây học; vai trò của trí thức trong Đề cương văn hóa Việt Nam (1943), Hội Văn hóa Cứu quốc; hoạt động của ba thế hệ trí thức người Việt. Nêu ra một số nhận định của học giả quốc tế cần tiếp tục trao đổi học thuật. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy các công trình trước đây chủ yếu phản ánh công tác vận động trí thức một cách sơ lược, tản mạn trong bối cảnh chung của phong trào cách mạng, chưa dựng lại toàn diện tiến trình hoạch định và thực thi đường lối trí vận của Đảng giai đoạn 1930 - 1945. Ngoài ra, một số công trình của học giả nước ngoài đưa ra nhận định chưa chuẩn xác: Yves Gras đồng nhất tổ chức Đảng với Mặt trận Việt Minh; Stein Tønnesson nhận định hai nhóm "Giải Phóng" và "Tiền Phong" ở Nam Kỳ giai đoạn 1943 - 1945 là "địch thủ"; David G. Marr cho rằng Cách mạng Tháng Tám chưa phải là một cuộc cách mạng. Luận án đặt trọng tâm giải quyết một cách độc lập, hệ thống tiến trình lãnh đạo của Đảng, phân tích rõ nguyên nhân của những khuyết điểm tả khuynh và đánh giá khách quan các sự kiện, tổ chức trí thức trong giai đoạn 1930 - 1945.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các khái niệm sử dụng
- Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng, về vị trí, vai trò của trí thức trong cách mạng vô sản.
- Quan điểm Mác - Lênin: Trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt (không phải là một giai cấp độc lập, không có hệ tư tưởng riêng), đại biểu cho lao động trí óc phức tạp. Trí thức mang tính hai mặt: là lực lượng quan trọng sáng tạo văn hóa và tổ chức quản lý, nhưng có nhược điểm cố hữu là tính dao động chính trị và chủ nghĩa cá nhân nếu không gắn kết với phong trào của giai cấp công nhân.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh: Nhấn mạnh truyền thống hiếu học của dân tộc ("người sĩ phu chiếm địa vị hàng đầu"); khẳng định trí thức là "bầu bạn cách mệnh của công nông" (tác phẩm Đường cách mệnh, 1927); chủ trương tập hợp rộng rãi tiểu tư sản trí thức vào mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc.
- Khái niệm công cụ:
- Trí thức: Luận án trích dẫn các định nghĩa từ Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học (Liên Xô, 1986), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X (2008), xác định trí thức là những người lao động trí óc có trình độ chuyên môn cao, có tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và ứng dụng tri thức vào tiến bộ xã hội.
- Đội ngũ trí thức: Tập hợp số đông trí thức có sự thống nhất về mặt tổ chức, hành động và mục tiêu nhằm tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án thuộc thể loại nghiên cứu lịch sử (định tính), sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:
- Hai phương pháp chủ đạo: Phương pháp lịch sử (dựng lại tiến trình các sự kiện theo trình tự thời gian khách quan) và phương pháp logic (khái quát bản chất, quy luật và mối quan hệ giữa chủ trương của Đảng với phong trào trí thức).
- Phương pháp bổ trợ: Phương pháp so sánh, phương pháp thống kê tư liệu lịch sử, phương pháp phê phán sử liệu.
- Phương pháp đặc thù của khoa học Lịch sử Đảng: Lấy các văn bản nghị quyết, chỉ thị gốc của Đảng đối chiếu với diễn biến thực tế và hành động của các nhân vật, tổ chức lịch sử để phân tích, đánh giá khách quan.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Nguồn tư liệu gốc: Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, thông tư, báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (trong Văn kiện Đảng Toàn tập), các tác phẩm trong Hồ Chí Minh Toàn tập, tài liệu lưu trữ của các cấp bộ Đảng, đặc biệt là các Xứ ủy (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ).
- Nguồn tư liệu lịch sử địa phương và hồi ký: Hồi ký của các cán bộ lão thành cách mạng và nhân sĩ trí thức; các bộ lịch sử Đảng bộ tỉnh, thành phố; lịch sử chiến tranh nhân dân; địa chí văn hóa.
- Nguồn tài liệu thứ cấp: Các chuyên khảo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, bài viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành (Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Lý luận chính trị, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử), kỷ yếu hội thảo khoa học và các ấn phẩm học thuật trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến trí thức và công tác vận động trí thức của Đảng thời kỳ 1930 - 1945. Tác giả phân tích kết quả đạt được của các học giả đi trước về phương diện lý luận và thực tiễn, đồng thời xác định rõ 4 vấn đề trọng tâm mà luận án tập trung giải quyết: làm sáng tỏ đường lối trí vận của Đảng; đánh giá đúng mức đóng góp của các nhóm trí thức; làm rõ thành công và hạn chế trong công tác lãnh đạo; rút ra bài học kinh nghiệm và phản biện các nhận định học thuật chưa thỏa đáng.
Chương 2: Đảng vận động trí thức từ năm 1930 đến năm 1939
Chương này nghiên cứu đặc điểm của trí thức Việt Nam trước năm 1930 và quá trình Đảng lãnh đạo công tác trí vận qua hai giai đoạn 1930 - 1935 và 1936 - 1939.
- Đặc điểm của trí thức Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX:
- Giàu lòng yêu nước và ý thức dân tộc: Bị thực dân Pháp áp bức, khinh rẻ nên phần lớn trí thức có tinh thần chống thực dân, mong muốn giải phóng dân tộc.
- Sự tồn tại song song giữa trí thức Nho học (cựu học) và trí thức Tây học (tân học): Trí thức Tây học tăng nhanh về số lượng (giữa những năm 1920 có khoảng 5.000 người; cuối những năm 1930 có khoảng 10.000 người; tính từ bậc tiểu học trở lên có khoảng 40 vạn người, bao gồm 12.000 viên chức và sinh viên các trường chuyên nghiệp), tập trung ở các đô thị như Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nam Định, Vinh.
- Là lực lượng tiếp nhận, truyền bá tư tưởng mới: Tiêu biểu là vai trò của trí thức trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (khi mới thành lập, trí thức chiếm 90%, sau này chiếm 40% số hội viên; từ năm 1925 - 1927 đào tạo 75 hội viên). Phong trào "vô sản hóa" năm 1928 do Kỳ bộ Bắc Kỳ (Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh phụ trách) đã rèn luyện đội ngũ cán bộ trí thức - tiểu tư sản, đưa số hội viên từ 300 (năm 1928) lên 1.700 (năm 1929) và gần 3.000 nếu tính cả dự bị. Sự kiện thành lập Chi bộ cộng sản đầu tiên tại số nhà 5D Hàm Long (Hà Nội, 3/1929) có 7/8 thành viên xuất thân từ trí thức.
- Chủ trương và công tác vận động trí thức giai đoạn 1930 - 1935:
- Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc (2/1930): Trong Sách lược vắn tắt và Chương trình tóm tắt, Người chủ trương liên lạc, lôi kéo tiểu tư sản, trí thức đi về phía giai cấp vô sản, đưa họ vào tổ chức phản đế.
- Hạn chế tả khuynh trong Luận cương tháng 10/1930: Dưới ảnh hưởng của khuynh hướng "tả" từ Quốc tế Cộng sản, Luận cương chính trị tháng 10/1930 đánh giá trí thức, học sinh có "xu hướng quốc gia chủ nghĩa", "đại biểu quyền lợi cho giai cấp tư bổn", chỉ tham gia cách mạng lúc đầu rồi thỏa hiệp, từ đó không coi trọng đúng mức vai trò của trí thức.
- Sự điều chỉnh và sai lầm thanh Đảng: Ngày 18/11/1930, Thường vụ Trung ương ban hành Chỉ thị thành lập Hội Phản đế đồng minh để khắc phục tính chất đơn thuần công nông. Tuy nhiên, tháng 4/1931, Xứ ủy Trung Kỳ thực hiện chủ trương "thanh Đảng" với khẩu hiệu giáo điều "thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ". Ngày 20/5/1931, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị phê phán nghiêm khắc chủ trương này là "võ đoán", "quàng xiên chí tướng", yêu cầu tự phê bình sửa sai. Đến dự thảo Cương lĩnh năm 1935, Đảng bước đầu nhìn nhận học sinh nghèo, trí thức thất nghiệp là "lực lượng dự trữ" của cách mạng.
- Phân hóa trí thức dưới tác động của khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933:
| Nhóm trí thức |
Đại biểu tiêu biểu |
Xu hướng và phương thức hoạt động |
| Trí thức theo xu hướng cách mạng |
Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Ngô Gia Tự, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn An Ninh, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn, Phạm Ngọc Thạch, Trần Ngọc Danh, Lê Văn Thử, Trần Văn Giàu... |
Tích cực tham gia các tổ chức của Đảng; hoạt động trên báo chí, nghị trường, diễn thuyết chính trị; lãnh đạo các phong trào đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ và giải phóng dân tộc. |
| Trí thức hợp tác trong chính quyền thực dân |
Huỳnh Thúc Kháng, Đào Duy Anh, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Trương Minh Ký, Lê Hoằng Mưu, Hồ Biểu Chánh, Tân Dân Tử... |
Làm việc trong bộ máy chính quyền nhưng có tinh thần dân tộc, am hiểu đời sống nhân dân lao động; đóng góp qua các công trình văn học, khảo cứu văn hóa, báo chí ôn hòa. |
| Trí thức trung lập |
Hoàng Xuân Hãn, Phạm Khắc Hòe, Thạch Lam, Thế Lữ, Tú Mỡ, Xuân Diệu, Trần Tiêu, Nguyễn Thế Phương... |
Hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, văn học nghệ thuật; không tham gia chính trị trực tiếp nhưng mang tinh thần dân tộc, tiến bộ xã hội. |
- Giai đoạn 1936 - 1939: Đảng khắc phục dần khuynh hướng tả khuynh, chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, tập hợp trí thức vào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, phong trào Đông Dương Đại hội, Đại hội Báo giới và các cuộc vận động tranh cử vào cơ quan hội đồng quản hạt, viện dân biểu.
Chương 3: Đảng vận động trí thức từ năm 1939 đến năm 1945
Chương 3 trình bày quá trình Đảng chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và tập hợp rộng rãi trí thức vào Mặt trận Việt Minh.
- Chuyển hướng chỉ đạo chiến lược: Từ Hội nghị Trung ương 6 (11/1939) đến Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, Đảng xác định mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc phát xít Pháp - Nhật, thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm tập hợp mọi lực lượng yêu nước, trong đó có trí thức.
- Vận động trí thức vào Mặt trận dân tộc thống nhất:
- Lĩnh vực văn hóa - tư tưởng: Năm 1943, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Đề cương văn hóa Việt Nam, xác lập 3 nguyên tắc vận động (dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa), định hướng thành lập Hội Văn hóa Cứu quốc Việt Nam, thu hút đông đảo văn nghệ sĩ, trí thức tham gia cách mạng.
- Thành lập chính đảng của trí thức: Năm 1944, Đảng giúp đỡ các trí thức, sinh viên thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam (do Dương Đức Hiền đứng đầu), đưa tổ chức này gia nhập Mặt trận Việt Minh.
- Phong trào truyền bá Quốc ngữ và học sinh, sinh viên: Vận động trí thức tham gia Hội Truyền bá Quốc ngữ; xây dựng phong trào học sinh, sinh viên qua Tổng Hội Sinh viên Đông Dương, nhóm Hoàng - Mai - Lưu (Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ).
- Vận động trí thức trong các tổ chức công khai: Vận động, chuyển hóa lực lượng trong tổ chức Thanh niên Tiền phong ở Nam Kỳ (gắn liền với vai trò của Phạm Ngọc Thạch) và Trường Thanh niên Tiền tuyến ở Huế (Phan Anh, Tạ Quang Bửu), đưa các học viên (Nguyễn Tấn, Nguyễn Kèn, Lê Khánh Khang) vào Ban Chấp hành Việt Minh Nguyễn Tri Phương, chuẩn bị lực lượng cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
- Nhận xét:
- Thành công: Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức đúng bản chất, khơi dậy tinh thần yêu nước của trí thức; linh hoạt lập ra các tổ chức phù hợp để tập hợp trí thức; xây dựng khối liên minh công - nông - trí vững chắc phục vụ sự nghiệp cứu nước.
- Hạn chế: Một số thời điểm, cấp bộ Đảng còn mắc bệnh giáo điều, tả khuynh, định kiến giai cấp hẹp hòi (như giai đoạn 1930 - 1931 tại Trung Kỳ), đánh giá chưa đúng năng lực cách mạng của trí thức tiểu tư sản.
- Một số kinh nghiệm lịch sử:
- Kinh nghiệm nâng cao nhận thức lý luận, đánh giá đúng vị trí, vai trò và đặc điểm của trí thức trong từng thời kỳ cách mạng.
- Kinh nghiệm kết hợp nhuần nhuyễn nhiệm vụ giai cấp và nhiệm vụ dân tộc, đặt lợi ích tối cao của quốc gia dân tộc lên trên hết để tập hợp trí thức.
- Kinh nghiệm đa dạng hóa hình thức tổ chức, phương thức tập hợp linh hoạt (thông qua hội đoàn văn hóa, giáo dục, báo chí, chính đảng dân chủ).
- Kinh nghiệm chú trọng công tác bồi dưỡng, giác ngộ lý luận, đồng thời lắng nghe, tôn trọng và phát huy năng lực chuyên môn, sáng tạo của trí thức.
- Kinh nghiệm thường xuyên tự phê bình, kịp thời uốn nắn, khắc phục các quan điểm tả khuynh, biệt phái, hẹp hòi trong nội bộ Đảng đối với trí thức.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN |
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| Về khoa học: |
| - Làm sáng tỏ đường lối, chính sách trí vận của Đảng và Nguyễn Ái Quốc (1930-1945). |
| - Khắc phục khoảng trống lịch sử về vai trò độc lập của công tác vận động trí thức. |
| - Phản biện các quan điểm chưa chuẩn xác của học giả quốc tế (Yves Gras, Stein Tønnesson, D. Marr).|
| |
| Về thực tiễn: |
| - Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ CNH, HĐH. |
| - Cung cấp tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. |
| - Góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trí thức trẻ hiện nay. |
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
- Về mặt khoa học:
- Hệ thống hóa toàn diện quá trình hình thành, phát triển chủ trương và sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng về công tác vận động trí thức trong 15 năm đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945).
- Khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh và Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930); làm rõ quá trình Đảng khắc phục các sai lầm giáo điều, tả khuynh (Luận cương 10/1930, chủ trương thanh Đảng 1931 ở Trung Kỳ) để đi đến đường lối đại đoàn kết dân tộc đúng đắn trong Mặt trận Việt Minh.
- Cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá đúng đắn, khách quan vai trò lịch sử của các tổ chức trí thức như Thanh niên Tiền phong, Trường Thanh niên Tiền tuyến, Đảng Dân chủ Việt Nam.
- Phản biện các luận điểm thiếu căn cứ của một số học giả nước ngoài liên quan đến phong trào cách mạng Việt Nam năm 1945.
- Về mặt thực tiễn:
- Góp phần xóa dần những "khoảng trống" trong lịch sử Đảng thời kỳ 1930 - 1945.
- Cung cấp các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo cho việc xây dựng cơ chế, chính sách quy tụ, trọng dụng và phát huy tiềm năng sáng tạo của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay theo định hướng Nghị quyết Trung ương 7 khóa X.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Theo phạm vi xác định trong văn bản, luận án tập trung chủ yếu vào không gian các đô thị lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn - Chợ Lớn) và giới hạn mốc thời gian đến tháng 8/1945; một số tư liệu lưu trữ địa phương và tư liệu nước ngoài chưa được khai thác đồng đều do điều kiện tiếp cận.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục mở rộng nghiên cứu công tác vận động trí thức của Đảng trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo (kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954, kháng chiến chống Mỹ 1954 - 1975 và thời kỳ Đổi mới).
- Đi sâu khảo cứu chuyên biệt các nhóm trí thức cụ thể (trí thức khoa học - kỹ thuật, văn nghệ sĩ, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Chính trị học, Xã hội học.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu: Giảng dạy và nghiên cứu các chuyên đề về Lịch sử Đảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác dân vận và mặt trận dân tộc thống nhất.
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách: Cán bộ làm công tác Tuyên giáo, Dân vận, Mặt trận Tổ quốc, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật trong việc tham mưu xây dựng chính sách đối với trí thức.
Các phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống tổng quan tài liệu (Chương 1); Phân tích sự chuyển biến nhận thức của Đảng đối với trí thức từ Cương lĩnh tháng 2/1930 đến Luận cương tháng 10/1930 và các chỉ thị sửa sai năm 1931 (Chương 2); Quá trình tổ chức, vận động trí thức trong Mặt trận Việt Minh (Chương 3); Hệ thống 5 bài học kinh nghiệm lịch sử (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Nguyên nhân nào dẫn đến sự khác biệt về quan điểm đối với trí thức giữa Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930) và Luận cương chính trị (10/1930)?
Trả lời: Trong Cương lĩnh đầu tiên (2/1930), Nguyễn Ái Quốc chủ trương tranh thủ, lôi kéo tiểu tư sản, trí thức vào phe vô sản vì Người xuất phát từ thực tiễn xã hội thuộc địa, nơi mọi tầng lớp đều bị đế quốc áp bức. Ngược lại, Luận cương tháng 10/1930 của Ban Chấp hành Trung ương lâm thời do Trần Phú chủ trì chịu ảnh hưởng trực tiếp từ khuynh hướng "tả" của Quốc tế Cộng sản (coi tiểu tư sản trí thức là đại biểu cho lợi ích của giai cấp tư sản, có xu hướng thỏa hiệp), dẫn đến nhận thức giáo điều, nhấn mạnh đấu tranh giai cấp mà xem nhẹ khả năng cách mạng của trí thức.
2. Đảng đã giải quyết sai lầm "thanh Đảng" của Xứ ủy Trung Kỳ năm 1931 như thế nào?
Trả lời: Tháng 4/1931, Xứ ủy Trung Kỳ ban hành chủ trương "thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ", loại bỏ các đảng viên xuất thân trí thức, nhà giàu ra khỏi Đảng. Ngày 20/5/1931, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị của Trung ương gửi Xứ ủy Trung Kỳ về vấn đề thanh Đảng Trung Kỳ, nghiêm khắc phê phán đây là "ý nghĩ mơ hồ, một chỉ thị võ đoán và là một lối hành động quàng xiên chí tướng", đồng thời yêu cầu Xứ ủy Trung Kỳ nghiêm túc kiểm điểm, tự phê bình để sửa sai và bảo vệ cơ sở cách mạng.
3. Tỷ lệ trí thức trong tổ chức tiền thân Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và phong trào "vô sản hóa" năm 1928 được luận án ghi nhận ra sao?
Trả lời: Theo số liệu trong luận án, khi mới thành lập (6/1925), Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên có 90% hội viên là trí thức, sau này thành phần công nông tăng lên thì trí thức vẫn chiếm 40%. Tháng 9/1928, Kỳ bộ Bắc Kỳ giao cho Ngô Gia Tự và Nguyễn Đức Cảnh phụ trách phong trào "vô sản hóa", đưa cán bộ trí thức - tiểu tư sản vào hầm mỏ, đồn điền rèn luyện. Nhờ đó, số lượng hội viên đã tăng từ 300 người (năm 1928) lên 1.700 người (năm 1929) và đạt gần 3.000 người nếu tính cả hội viên dự bị.
4. Luận án phân chia trí thức Việt Nam giai đoạn khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 thành các nhóm nào?
Trả lời: Luận án phân chia trí thức thời kỳ này thành 3 nhóm cơ bản:
- Nhóm trí thức theo xu hướng cách mạng: Gồm các trí thức trẻ nhiệt huyết (Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Ngô Gia Tự, Nguyễn An Ninh, Phạm Ngọc Thạch, Trần Văn Giàu...).
- Nhóm trí thức hợp tác trong chính quyền thực dân: Gồm những người làm việc trong bộ máy cai trị nhưng có lòng yêu mến dân tộc, đóng góp qua văn học, báo chí (Huỳnh Thúc Kháng, Đào Duy Anh, Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu...).
- Nhóm trí thức trung lập: Gồm các nhà giáo, văn nghệ sĩ không tham gia chính trị nhưng có tinh thần dân tộc (Hoàng Xuân Hãn, Phạm Khắc Hòe, Thạch Lam, Thế Lữ, Tú Mỡ, Xuân Diệu...).
5. Luận án đã phản biện những nhận định thiếu chính xác nào của các học giả nước ngoài?
Trả lời: Luận án chỉ ra và phản biện 3 nhận định chưa thỏa đáng:
- Nhận định của Yves Gras khi nhầm lẫn, đồng nhất tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương với Mặt trận Việt Minh.
- Nhận định của Stein Tønnesson khi cho rằng hai nhóm tổ chức Đảng ở Nam Kỳ giai đoạn 1943 - 1945 ("Giải Phóng" và "Tiền Phong") là "địch thủ" của nhau.
- Nhận định của David G. Marr khi cho rằng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam chưa phải là một cuộc cách mạng thực sự.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Đảng vận động trí thức trong đấu tranh giải phóng dân tộc từ năm 1930 đến năm 1945" là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo có hệ thống về công tác trí vận của Đảng thời kỳ tiền khởi nghĩa. Bằng nguồn tư liệu phong phú và phương pháp nghiên cứu lịch sử - logic chặt chẽ, luận án đã làm rõ quá trình hình thành, điều chỉnh chủ trương của Đảng, khẳng định những đóng góp to lớn của đội ngũ trí thức trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Công trình không chỉ giải quyết các khoảng trống học thuật trong lịch sử Đảng mà còn đúc kết những kinh nghiệm thực tiễn quý báu đối với việc xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ trí thức trong sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay.