Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam ở thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện nay" do sinh viên Nguyễn Thị Ái Vân thực hiện tại Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Phạm Văn Tuyên. Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Giáo dục Chính trị, tiếp cận vấn đề dưới góc độ lý luận chính trị, triết học Mác - Lênin và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ bối cảnh cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đang phát triển với tốc độ nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, làm thay đổi sâu sắc lực lượng sản xuất và nâng cao năng suất lao động xã hội. Trong tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam, xây dựng nền tảng kinh tế - xã hội vững chắc đòi hỏi phải phát huy cao độ mọi nguồn lực, trong đó nhân tố trung tâm là nguồn lực con người và trí tuệ dân tộc. Đại hội VI của Đảng (12/1986) đã khẳng định sự cần thiết phải có quan điểm đúng đắn, chính sách và biện pháp hiệu quả nhằm xây dựng toàn diện tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa, đồng thời chỉ ra yêu cầu xóa bỏ những "quan điểm hẹp hòi" đối với đội ngũ này. Thực tiễn phát triển khoa học - công nghệ tại Việt Nam thời gian qua tuy đã đạt được nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn bộc lộ khoảng cách so với khu vực và thế giới; cơ chế quản lý kinh tế và cơ chế quản lý khoa học chưa phối hợp đồng bộ để tạo môi trường gắn kết hữu cơ giữa nghiên cứu với sản xuất. Do đó, việc nghiên cứu vị trí, vai trò của trí thức là một đòi hỏi cấp thiết cả về mặt lý luận tư tưởng lẫn thực tiễn chỉ đạo công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Nghiên cứu và xác định đúng đắn vị trí, vai trò của tầng lớp trí thức Việt Nam trong cơ cấu xã hội - giai cấp thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, làm rõ đặc trưng, đặc điểm, địa vị xã hội, quan hệ xã hội và sự phân định ranh giới của tầng lớp này.
  2. Làm sáng tỏ vai trò nền tảng và động lực của khoa học - công nghệ cũng như sứ mệnh của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
  3. Phân tích thực trạng đội ngũ trí thức và tiềm lực khoa học - công nghệ nước nhà, từ đó đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm phát triển khoa học - công nghệ và nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng đội ngũ trí thức trong giai đoạn mới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ với đội ngũ trí thức và vai trò của đội ngũ trí thức trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
  • Phạm vi không gian: Thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo cứu từ khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới (từ năm 1986) đến những năm đầu thế kỷ XXI (mốc khảo sát số liệu thực tế đến giai đoạn 2000 - 2004).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận chính trị - triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh:

  • Khung lý thuyết: Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, các quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, vai trò của sản xuất vật chất và sự chuyển hóa của khoa học thành "lực lượng sản xuất trực tiếp". Vận dụng quan điểm của V.I. Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí của trí thức trong khối liên minh công - nông - trí thức và công cuộc kiến thiết quốc gia.
  • Hệ thống văn kiện pháp lý và chủ trương của Đảng: Tác giả khai thác trực tiếp Nghị quyết 14 của Ban Chấp hành Trung ương (Khóa IV, 1979); Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị (Khóa VI, các năm 1981 và 1991); Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị (Khóa VI, 1987); Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, VI, VII, VIII, IX; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991); Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (Khóa VII, 1992); Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khóa VII); Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (Khóa VIII, 1996); Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khóa VIII); Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (Khóa IX); Báo cáo Hội nghị Trung ương 9 (Khóa IX); Chỉ thị số 35/CT-TW (1988) của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chỉ thị số 14/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, đề tài kế thừa kết quả nghiên cứu trong các tác phẩm chuyên khảo của Tổng Bí thư Đỗ Mười, PGS.TS. Nguyễn Văn Khánh, GS.VS. Phạm Tất Dong, cùng các bài viết lý luận trên Tạp chí Cộng sản của tác giả Hoàng Văn Phong, Chu Tuấn Nha.
  • Phương pháp nghiên cứu: Tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp lý luận, phương pháp lịch sử - lôgíc, phương pháp so sánh và khái quát hóa thực tiễn từ các văn bản chính trị - xã hội.
  • Nguồn dữ liệu: Nguồn dữ liệu thứ cấp từ văn kiện của Đảng, báo cáo chỉ đạo của Chính phủ, tài liệu thống kê của ngành giáo dục - đào tạo, số liệu từ Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam và các công trình khoa học đã công bố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về đội ngũ trí thức và cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay

Chương 1 tập trung phân tích bản chất lịch sử - xã hội của tầng lớp trí thức Việt Nam và tính quy luật của cách mạng khoa học - công nghệ:

  1. Thực trạng và đặc điểm của đội ngũ trí thức Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử:

    • Giai đoạn trước năm 1975: Trong kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), sau Cách mạng Tháng Tám, trí thức hăng hái tham gia ngày bầu cử Quốc hội Khóa I (06/01/1946) và trở thành đại biểu Quốc hội, cùng toàn dân kháng chiến. Trong giai đoạn 1954 - 1975 ở miền Bắc, hệ thống đại học và trung học chuyên nghiệp được thành lập từ năm 1955 dưới sự quản lý của Bộ Giáo dục, giữ vai trò trung tâm đào tạo cán bộ khoa học bậc cao. Nghị quyết Ban Bí thư Trung ương lần thứ 14 (Khóa II) đã xác định khoa học và kỹ thuật là điều kiện không thể thiếu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
    • Giai đoạn sau năm 1975 đến thời kỳ đổi mới: Sau thắng lợi năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ quá độ. Đại hội VI (12/1986) khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, đề cao việc phát huy năng lực sáng tạo của trí thức. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định trong Cương lĩnh Đại hội VII và Văn kiện Đại hội IX (2001), nhấn mạnh chính sách trọng dụng, đãi ngộ tài năng, khuyến khích sáng tạo và phát huy vai trò phản biện, hoạch định đường lối của trí thức.
  2. Khoa học - công nghệ với tính cách là một hiện tượng xã hội:

    • Dựa trên luận điểm của Ph. Ăngghen, sự sản xuất và trao đổi sản phẩm là cơ sở của mọi chế độ xã hội. Khoa học - công nghệ bắt nguồn từ nhu cầu thực tiễn sản xuất và sự vận động của lực lượng sản xuất.
    • Bản chất cốt lõi của cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại là khoa học phát triển vượt trước và chuyển hóa thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Tri thức khoa học được vật chất hóa trong công cụ lao động, quy trình công nghệ và tổ chức sản xuất.
    • Tác giả phân tích sự khác biệt về mặt bản chất xã hội: trong chủ nghĩa tư bản, khoa học - kỹ thuật phục vụ mục tiêu tối đa hóa giá trị thặng dư và lợi nhuận cho giai cấp tư sản; ngược lại, trong chủ nghĩa xã hội, chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và nền kinh tế kế hoạch hóa cho phép kết hợp các thành tựu khoa học với mục tiêu phục vụ lợi ích nhân dân lao động, không dẫn tới tình trạng thất nghiệp hay xung đột giai cấp đối kháng.

Chương 2: Đội ngũ trí thức với cách mạng khoa học - kỹ thuật trong quá trình CNH - HĐH ở Việt Nam

Chương 2 luận giải vị trí của trí thức trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội thông qua các quan điểm chỉ đạo và thực tiễn thực hiện:

  1. Quan điểm của Đảng và Hồ Chí Minh về trí thức Việt Nam:

    • Quan điểm của Đảng: Khẳng định trí thức là nguồn vốn trí tuệ quý báu của dân tộc (theo tinh thần chỉ đạo của đồng chí Đỗ Mười năm 1995). Hội nghị Trung ương 2 (Khóa VIII) và Hội nghị Trung ương 7 (Khóa VIII) định hướng chiến lược đưa khoa học - công nghệ và giáo dục - đào tạo thành quốc sách hàng đầu.
    • Quan điểm của Hồ Chí Minh: Người khẳng định trí thức là bộ phận giác ngộ, ngòi nổ kích hoạt phong trào yêu nước; chính sách của Đảng Lao động Việt Nam luôn coi trọng lao động trí óc; Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930 đã thông qua Chính cương vắn tắt, xác định rõ việc liên hệ, thu phục và bồi dưỡng thanh niên trí thức thành lực lượng cách mạng tiên phong.
  2. Vai trò của trí thức trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa:

    • Quá trình CNH-HĐH đòi hỏi chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từ nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ. Trí thức là lực lượng trực tiếp nghiên cứu, chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất công nghiệp.
    • Trí thức tham gia tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
  3. Khoa học - công nghệ - nền tảng và động lực của sự nghiệp CNH - HĐH:

    • Đại hội VIII (1996) và Hội nghị Trung ương 2 (Khóa VIII) xác định khoa học - công nghệ là động lực then chốt. Năng lực làm chủ công nghệ tiên tiến đã được khẳng định trong các ngành: viễn thông, khai thác dầu khí, năng lượng, cơ khí lắp ráp xe máy, điện tử dân dụng, xây dựng cầu khẩu độ lớn, đường cao tốc, vật liệu xây dựng, công nghệ nano, viễn thám và sinh học phân tử.

Chương 3: Một số giải pháp để phát triển khoa học - công nghệ và đội ngũ trí thức hiện nay

Chương 3 đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể:

  1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam:

    • Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (thành lập ngày 26/03/1983) là tổ chức chính trị - xã hội tự nguyện theo Chỉ thị 35/CT-TW (1988) và Chỉ thị 14/2000/CT-TTg (2000). Cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đoàn để phát huy tiềm năng tư vấn, phản biện xã hội của các hội thành viên.
  2. Xây dựng tầng lớp trí thức phát triển toàn diện về số lượng và chất lượng:

    • Về số lượng: Khắc phục tình trạng mất cân đối lực lượng giữa các vùng miền và ngành nghề; phân bổ lại nhân lực nghiên cứu phục vụ trực tiếp cơ sở sản xuất theo Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa VII).
    • Về chất lượng: Thực hiện chiến lược "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài", gắn đào tạo chuyên môn bậc cao với giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
  3. Sử dụng và đãi ngộ đội ngũ trí thức:

    • Bố trí trí thức có đức, có tài vào các vị trí lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở các cấp, các ngành; mở rộng sự tham gia của nữ trí thức trong các cơ quan quyền lực nhà nước.
    • Đổi mới cơ chế đãi ngộ vật chất và tinh thần; xây dựng cơ chế phân chia lợi ích kinh tế thỏa đáng từ kết quả nghiên cứu khoa học; thực hiện chế độ hợp đồng lao động linh hoạt, hợp lý; tháo gỡ khó khăn về việc làm cho trí thức trẻ mới tốt nghiệp ra trường.

Bảng tổng hợp các chỉ số thực trạng và tiềm lực nhân lực khoa học - công nghệ Việt Nam ghi nhận trong văn bản

Tiêu chí / Chỉ số thống kê Giai đoạn / Mốc thời gian Số liệu cụ thể theo văn bản
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo 1996 → 2000 Tăng từ 13% lên 20%
Lao động có trình độ cao đẳng trở lên 1995 → 2000 Tăng từ 80 vạn người lên khoảng 1,3 triệu người
Quy mô nhân lực KH-CN cả nước 1997 → thời điểm khảo sát Tăng gấp 1,5 lần
Cán bộ KH-CN trình độ đại học Thời điểm khảo sát (khoảng 2001 - 2004) Đạt xấp xỉ 1,3 triệu người (mỗi năm bổ sung ~180.000 người)
Cán bộ có trình độ tiến sĩ Thời điểm khảo sát Đạt gần 13.000 người (trên 13 nghìn tiến sĩ)
Cán bộ trình độ trên đại học Thời điểm khảo sát Khoảng 30.000 người
Đội ngũ công nhân kỹ thuật Thời điểm khảo sát Khoảng 2 triệu người
Tốc độ phát triển giáo dục THPT Giai đoạn 1995 - 2000 (5 năm) Bình quân tăng 18%/năm
Phổ cập giáo dục THCS Tính đến thời điểm khảo sát 10 tỉnh hoàn thành phổ cập
Quy mô Liên hiệp các hội KH-KT VN Tháng 05/2004 89 hội thành viên (53 hội ngành TW, 36 liên hiệp hội địa phương)
Số lượng hội viên Liên hiệp hội Tháng 05/2004 Hơn 40 vạn trí thức KH-CN; 60 vạn hội viên nông dân (Hội Làm vườn)
Tỷ lệ nữ Đại biểu Quốc hội Khóa IX → Khóa X → Khóa XI Khóa IX: 18,5% → Khóa X: 26,22% → Khóa XI: 27,3%

Kết quả và đóng góp

  1. Kết quả nghiên cứu chính:

    • Hệ thống hóa toàn diện quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các kỳ Đại hội Đảng (đặc biệt từ Đại hội VI đến Đại hội IX) về vị trí giai cấp và vai trò của tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá độ.
    • Đưa ra bức tranh định lượng cụ thể về sự phát triển của tiềm lực khoa học - công nghệ nước nhà trong giai đoạn 1995 - 2004: nhân lực KH-CN tăng 1,5 lần sau năm 1997; quy mô lao động trình độ cao đẳng trở lên đạt 1,3 triệu người vào năm 2000; đội ngũ tiến sĩ đạt trên 13.000 người; ghi nhận bước tiến rõ rệt về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội qua các khóa IX, X, XI (đạt 27,3% ở Khóa XI).
    • Chỉ ra các lĩnh vực công nghệ mà Việt Nam đã tiếp cận trình độ trung bình tiên tiến trong khu vực như nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông và công trình điện.
  2. Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:

    • Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức quần chúng trí thức, nòng cốt là Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam.
    • Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển số lượng với nâng cao chất lượng trí thức theo phương châm "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài", coi trọng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
    • Hoàn thiện chính sách tuyển dụng, sử dụng, phân phối lợi ích kinh tế gắn với sản phẩm nghiên cứu, trọng dụng nhân tài và bảo đảm việc làm cho đội ngũ trí thức trẻ.
  3. Đóng góp của khóa luận:

    • Góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ việc nhận thức đúng đắn vai trò của trí thức xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ định kiến hẹp hòi.
    • Cung cấp các luận cứ khoa học tham khảo cho công tác xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ CNH-HĐH.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Các nguồn dữ liệu thống kê trong khóa luận dừng lại ở mốc thời gian năm 2004, phản ánh thực trạng của giai đoạn đầu thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên tổng hợp tài liệu thứ cấp và văn kiện, chưa tiến hành các cuộc điều tra xã hội học định lượng diện rộng trực tiếp tại các viện nghiên cứu, trường đại học hay doanh nghiệp công nghệ. Vấn đề thị trường khoa học - công nghệ và cơ chế thương mại hóa đề tài mới chỉ dừng ở mức khái quát định tính.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sự biến đổi cơ cấu của đội ngũ trí thức trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cách mạng công nghiệp mới; khảo sát thực nghiệm về mức độ hài lòng, động lực cống hiến và các rào cản cơ chế tài chính đối với nhà khoa học tại các cơ sở nghiên cứu công lập và ngoài công lập.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Giáo dục Chính trị, Triết học, Xây dựng Đảng và Quản lý Nhà nước: Tham khảo cấu trúc luận giải, phương pháp trích dẫn và phân tích văn kiện Đảng về xây dựng khối liên minh công - nông - trí thức và chính sách phát triển nguồn nhân lực.
  • Người nghiên cứu về lịch sử chính trị - xã hội và chính sách khoa học công nghệ: Khai thác các số liệu thống kê lịch sử giai đoạn 1995 - 2004 về quy mô nhân lực nghiên cứu, tổ chức bộ máy Liên hiệp hội KH-KT Việt Nam và tỷ lệ nữ trí thức tham gia Quốc hội.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Tiểu mục phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về trí thức (Chương 2) và tiểu mục tổng kết thực trạng tổ chức Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cùng hệ thống số liệu nhân lực KH-CN (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận sự tăng trưởng quy mô nhân lực khoa học - công nghệ của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2000 như thế nào?
Trả lời: Theo văn bản, số lao động đã qua đào tạo tăng từ 13% (năm 1996) lên 20% (năm 2000). Số lao động có trình độ cao đẳng trở lên tăng từ 80 vạn người (năm 1995) lên khoảng 1,3 triệu người (năm 2000). Tính từ năm 1997 đến thời điểm nghiên cứu, quy mô nhân lực KH-CN cả nước tăng gấp 1,5 lần; đội ngũ trình độ đại học đạt xấp xỉ 1,3 triệu người (mỗi năm bổ sung khoảng 180.000 người) và cán bộ có trình độ tiến sĩ đạt gần 13.000 người.

2. Tỷ lệ đại biểu nữ trong Quốc hội các khóa IX, X và XI được ghi nhận với các con số cụ thể nào?
Trả lời: Văn bản chỉ rõ tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội tăng trưởng qua các nhiệm kỳ: Quốc hội Khóa IX đạt 18,5%; Quốc hội Khóa X đạt 26,22%; và Quốc hội Khóa XI tăng lên 27,3%.

3. Quy mô tổ chức và hội viên của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tính đến tháng 5/2004 được nêu ra sao?
Trả lời: Tính đến tháng 5/2004, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam có 89 hội thành viên (gồm 53 hội ngành trung ương và 36 liên hiệp hội cấp tỉnh/thành phố), tập hợp hơn 40 vạn hội viên là trí thức khoa học - công nghệ và 60 vạn hội viên là nông dân thuộc Hội Làm vườn Việt Nam.

4. Văn bản trích dẫn những nghị quyết nào của Đảng xác định khoa học - công nghệ là "động lực" và "quốc sách hàng đầu"?
Trả lời: Văn bản trích dẫn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định "Khoa học - công nghệ là động lực công nghiệp hóa - hiện đại hóa", và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (Khóa VIII, 12/1996) nhấn mạnh: "Cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học - công nghệ là một quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội".

5. Những lĩnh vực khoa học - công nghệ nào của Việt Nam được đánh giá đã đạt mức trung bình tiên tiến trong khu vực?
Trả lời: Theo bài viết của tác giả Chu Tuấn Nha được khóa luận trích dẫn, cán bộ khoa học nước ta trong các lĩnh vực: nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, công trình điện và bưu chính viễn thông đã đạt mức trình độ trung bình tiên tiến trong khu vực, có khả năng làm chủ các công nghệ mới hiện đại.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ái Vân đã luận giải một cách có hệ thống cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của tầng lớp trí thức trong thời kỳ đổi mới. Nghiên cứu cung cấp bức tranh thực trạng về tiềm lực khoa học - công nghệ nước nhà giai đoạn 1995 - 2004 thông qua các số liệu thống kê cụ thể về quy mô đào tạo, tổ chức hội và sự tham gia quản lý nhà nước của trí thức. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp đồng bộ từ tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện đến hoàn thiện chính sách sử dụng và đãi ngộ nhân tài, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.