Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học chuyên ngành Lịch sử Triết học (mã số 62.01) của nghiên cứu sinh Ông Văn Năm, được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Đình Nghiệm, tập trung nghiên cứu đề tài: "Tri thức và quyền lực tri thức trong tư tưởng chính trị Alvin Toffler".
Về tính cấp thiết, luận án xuất phát từ bối cảnh nhân loại bước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI với những bước chuyển biến căn bản về lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Nền kinh tế thế giới chuyển dịch từ mô hình dựa trên tài nguyên thiên nhiên và cơ bắp sang nền kinh tế tri thức. Trong cơ cấu xã hội, tầng lớp lao động trí óc dần thay thế lao động chân tay truyền thống, và đội ngũ chuyên gia, nhà quản lý, nhà kỹ trị nắm giữ vị trí quan trọng trong quản trị xã hội. Dẫn lời của nhà tương lai học Alvin Toffler: "Con đường quyền lực và phát triển kinh tế của thế kỷ XXI không còn là con đường khai phát từ nguyên liệu và gân cốt của con người. Mà như chúng ta đã thấy là phải vận dụng con đường Tâm Trí mà thôi", luận án khẳng định tri thức đã trở thành một dạng quyền lực trung tâm thay thế dần các dạng thức quyền lực truyền thống. Đồng thời, việc nghiên cứu tư tưởng này đáp ứng đòi hỏi thực tiễn của Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nhằm phát triển kinh tế tri thức, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để tạo nền tảng đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Mặc dù các tác phẩm của Alvin Toffler đã được dịch và giới thiệu rộng rãi, song các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận tản mạn về phương diện kinh tế tri thức, giáo dục hoặc lý thuyết ba làn sóng văn minh, chưa có một công trình học thuật chuyên sâu nào phân tích toàn diện, hệ thống về phạm trù quyền lực tri thức và thông tin trong tư tưởng chính trị của Alvin Toffler dưới góc độ lịch sử triết học.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ quan điểm của Alvin Toffler về vai trò của tri thức khoa học và quyền lực tri thức; từ đó rút ra ý nghĩa đối với Việt Nam và đề xuất một số nguyên tắc định hướng nhằm phát huy nguồn lực trí tuệ dân tộc.
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tìm hiểu tiền đề thực tiễn và tiền đề lý luận hình thành tư tưởng của Alvin Toffler về quyền lực tri thức.
- Phân tích nội dung tư tưởng của Alvin Toffler về quyền lực tri thức.
- Nhận xét, đánh giá những hạn chế, giá trị và rút ra ý nghĩa của tư tưởng Alvin Toffler đối với việc phát huy nguồn lực trí tuệ ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm về tri thức và quyền lực tri thức trong tư tưởng chính trị của Alvin Toffler. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các phân tích của tác giả về vai trò của tri thức khoa học và thông tin trong làn sóng văn minh thứ ba, được trình bày trong các tác phẩm tiêu biểu như Future Shock (1970), The Third Wave (1980), Powershift (1990) cùng một số công trình liên quan, không đi sâu vào toàn bộ các tác phẩm khác nằm ngoài hệ thống này.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu liên quan đến tư tưởng của Alvin Toffler theo hai nhóm:
Nhóm tài liệu quốc tế bao gồm các công trình nghiên cứu, khảo cứu và dịch thuật:
- E. Capitonov trong công trình Xã hội học thế kỷ XX: Lịch sử và công nghệ (Nguyễn Quý Thanh dịch, NXB Đại học Quốc gia, 2002) đánh giá Alvin Toffler đã đưa ra phương thức tiếp cận khác biệt đối với văn minh công nghiệp và phác thảo các đặc trưng cơ bản của xã hội hậu công nghiệp.
- Duganov với tác phẩm Toàn cầu hóa và vận mệnh nhân loại (Tạp chí Thông tin những vấn đề lý luận, số 19, 2003) phân tích các luận điểm của Alvin Toffler về thông tin, văn hóa, sự chuyển dịch của quyền lực chính trị, đồng thời chỉ rõ những giới hạn mang tính giai cấp tư sản của học giả này.
- A. Finley với công trình Các làn sóng của Toffler, phân tích mô hình vận động xã hội qua các làn sóng văn minh.
- Tần Ngôn Trước trong cuốn Thời đại kinh tế tri thức (NXB Chính trị quốc gia, 2001), tiếp nối và diễn giải hệ thống quan điểm của Toffler về nền kinh tế mới.
- Thẩm Vinh Hoa và Ngô Quốc Diệu (chủ biên) với Tôn trọng tri thức tôn trọng nhân tài kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước (Nguyễn Như Diệm dịch, NXB Chính trị quốc gia, 2008), tiếp cận tư tưởng tôn vinh tri thức dưới góc độ quản trị quốc gia.
- James Canton trong tác phẩm Tương lai khác thường (NXB Trẻ, 2011) khẳng định tầm ảnh hưởng của Toffler trong việc định hình các phương pháp dự báo xu hướng tương lai và hoạch định chiến lược.
Nhóm tài liệu trong nước trực tiếp hoặc gián tiếp nghiên cứu tư tưởng Toffler và vấn đề tri thức:
- Nguyễn Phúc Ân với cuốn Một số khía cạnh xã hội (NXB Trẻ, 1996), tóm lược nội dung làn sóng thứ hai và thứ ba.
- Nguyễn Đức Bình trong tác phẩm Góp phần nhận thức thế giới đương đại (NXB Chính trị quốc gia, 2003), phân tích kiến trúc thượng tầng, vai trò của nhà nước và dân chủ trong nền kinh tế tri thức chịu ảnh hưởng từ Toffler.
- Trần Xuân Trường với bài viết Tương lai dưới con mắt nhà tương lai học Alvin Toffler (Tạp chí Cộng sản, số 7 & 8, 1995), vừa tiếp nhận các dự báo công nghệ, vừa phản biện quan điểm của Toffler về gia đình, thiết chế chính trị và quan hệ giai cấp.
- Nguyễn Minh Hiền (2004) với luận văn Bước đầu tìm hiểu học thuyết ba làn sóng văn minh của Alvin Toffler, khái quát đặc trưng ba nền văn minh và đánh giá ưu, nhược điểm trong mô hình dự báo của ông.
- Các công trình nghiên cứu về vai trò trí thức và kinh tế tri thức tại Việt Nam như: Vũ Dương Ninh (1997), Lê Văn Giạng, Ngô Thị Phượng (2007), Nguyễn Đắc Hưng (2008), Nguyễn An Ninh (2008), Trần Hồng Lưu (2009), Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2010), Nguyễn Văn Khánh (2010).
Vị trí của luận án: Kế thừa các tư liệu điểm luận trên, luận án của NCS. Ông Văn Năm tập trung trực tiếp vào mối quan hệ giữa tri thức và quyền lực chính trị trong hệ thống lý thuyết của Alvin Toffler dưới lăng kính lịch sử triết học, giải quyết khoảng trống nghiên cứu mang tính hệ thống về bản chất của quyền lực tri thức trong bối cảnh quá độ sang nền văn minh mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án được xây dựng dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các văn kiện và nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó chủ nghĩa duy vật lịch sử và quan điểm thực tiễn giữ vai trò nền tảng.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo hướng định tính thuần túy thuộc khoa học triết học:
- Phương pháp luận xuyên suốt: Phép biện chứng duy vật, kết hợp phương pháp tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội với phương pháp tiếp cận văn minh.
- Nguyên tắc nghiên cứu: Kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp logic và phương pháp lịch sử để khảo cứu quá trình tiến triển tư tưởng của Toffler trong dòng chảy lịch sử tư tưởng phương Tây.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp văn bản học (nghiên cứu, dịch thuật, so sánh câu chữ và thuật ngữ trong các văn bản gốc), phân tích và tổng hợp lý thuyết, đối chiếu, khái quát hóa, phương pháp chuyên gia (hội đồng) và nhân học văn hóa.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu: Luận án sử dụng các văn bản tác phẩm nguyên tác và bản dịch của Alvin Toffler (Future Shock, The Third Wave, Powershift, War and Anti-war, Creating a New Civilization, The Eco-spasm Report, Previews and Premises, The Adaptive Corporation), các công trình kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, các tư liệu lịch sử triết học phương Tây từ Cổ đại đến Hiện đại, cùng số liệu thống kê khoa học - xã hội được trích dẫn từ các nguồn công bố chính thức.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những điều kiện và tiền đề hình thành tư tưởng về quyền lực tri thức của Alvin Toffler
Chương 1 làm rõ bối cảnh lịch sử, con người, sự nghiệp và nguồn gốc lý luận dẫn đến sự ra đời tư tưởng quyền lực tri thức của Alvin Toffler.
Alvin Toffler sinh ngày 04/10/1928 tại New York (Mỹ), tốt nghiệp cử nhân văn chương tại Đại học New York, từng là phó tổng biên tập tạp chí Fortune và cộng tác với nhiều cơ quan nghiên cứu quốc tế. Cùng người vợ là bà Heidi Toffler, ông đã xây dựng các tác phẩm gây ảnh hưởng lớn đến giới chính khách và doanh nhân toàn cầu, bao gồm các nhà lãnh đạo như Bill Clinton (với chiến dịch "Chiếc cầu bắc vào tương lai"), Chu Dung Cơ và Kim Dae Jung.
Về điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề khoa học, nửa sau thế kỷ XX chứng kiến sự tích lũy tri thức tăng theo cấp số nhân:
- Tốc độ ấn loát: Thế kỷ XV, Johannes Gutenberg phát minh ra kỹ thuật in chữ rời; trước năm 1500 châu Âu in sách với tốc độ 1.000 đầu sách/năm; đến năm 1950 đạt 120.000 đầu sách/năm; thập niên 1960 đạt tốc độ 1.000 cuốn sách/ngày.
- Ấn phẩm định kỳ và tạp chí: Giai đoạn 1959-1969, số tạp chí chuyên đề tại Mỹ tăng từ 126 lên 235 tờ; chính phủ Mỹ xuất bản hàng năm khoảng 100.000 bài báo, sách và tạp chí. Số tạp chí khoa học toàn cầu từ 10 tờ vào giữa thế kỷ XVIII tăng lên 100.000 tờ vào giữa thế kỷ XX; ấn phẩm khoa học kỹ thuật tăng với tốc độ 600% mỗi thế kỷ.
- Đội ngũ nhà khoa học: Năm 1800 toàn thế giới có khoảng 1.000 nhà khoa học; năm 1850 tăng lên 10.000 người; năm 1900 đạt 100.000 người và đến năm 1970 con số này là 3.200.000 người.
- Chu kỳ nhân đôi tri thức: Thế kỷ XIX là 50 năm/lần; đầu thế kỷ XX là 30 năm/lần; giữa thập niên 50 của thế kỷ XX rút ngắn xuống 10 năm/lần.
- Tiềm lực R&D và bằng sáng chế: Tại Mỹ, hệ thống R&D gồm các công ty, đại học và hơn 700 phòng thí nghiệm liên bang với kinh phí đầu tư 150 tỷ USD/năm. Tổng số bằng sáng chế trước thế kỷ XX dưới 1 triệu bản, đến thế kỷ XX đạt 40 triệu bản. Giai đoạn 1901-1991, Mỹ chiếm 203 trong tổng số 620 giải Nobel thế giới (30%); riêng giai đoạn 1990-1998, Mỹ chiếm 54 trên tổng số 72 giải Nobel. Mỹ sản xuất 1/4 GDP toàn cầu dù dân số chỉ chiếm 1/22 nhân loại.
Về tiền đề lý luận, Toffler kế thừa nhiều luồng tư tưởng trong lịch sử triết học:
- Tư tưởng Hy Lạp Cổ đại: Plato trong tác phẩm Cộng hòa xác lập bảng phân tầng quyền lực dựa trên cấu trúc ba phần của linh hồn, đặt triết gia cai trị (đẳng cấp vàng - lý trí) lên vị trí lãnh đạo tối cao, xếp trên chiến binh (đẳng cấp bạc - ý chí) và người lao động/buôn bán (đẳng cấp đồng, sắt - dục vọng). Aristotle khẳng định con người là thực thể chính trị, đề cao đức hạnh trí tuệ, phân tích ba hình thức cai trị kiểu mẫu (quân chủ, quý tộc, công cộng) đối lập với ba hình thức lệch lạc (bạo chính, hoạt đầu, dân chủ) và nhấn mạnh nguyên tắc trung dung.
- Tư tưởng Cận đại: Roger Bacon (1214–1294) đề xướng phương pháp thực nghiệm khoa học với khẩu hiệu "tri thức là sức mạnh". Francis Bacon (1561–1626) trong Novum Organum khởi xướng chương trình "Đại phục hồi khoa học", biến tri thức thành công cụ nhận thức và cải tạo tự nhiên. René Descartes (1596–1650) thiết lập phương pháp diễn dịch duy lý.
- Khuynh hướng thực chứng và thuyết kỹ trị: Chủ nghĩa thực chứng của Auguste Comte, H. Spencer, E. Mach, B. Russell. Thuyết kỹ trị của Thorstein Veblen, Daniel Bell, Zbigniew Brzezinski, Jean Fourastié, Raymond Aron và James Burnham (với tác phẩm The Managerial Revolution, 1991) chỉ ra quyền kiểm soát tư bản chuyển từ giới chủ sở hữu sang các chuyên gia, nhà quản lý.
Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ số phân tầng quyền lực của thuyết "Thiên đường công nghệ" được tác giả trình bày trong luận án:
| Các chỉ số |
Xã hội tiền công nghiệp |
Xã hội công nghiệp |
Xã hội hậu công nghiệp |
| Tài nguyên |
Đất đai |
Máy móc |
Tri thức |
| Thiết chế xã hội chủ yếu |
Trang trại, đồn điền |
Các công ty tư nhân |
Trường Đại học, viện nghiên cứu |
| Nhân vật chiếm ưu thế |
Chủ đất – nhà binh |
Nhà kinh doanh |
Bác học, cán bộ khoa học |
| Phương thức quyền lực |
Kiểm soát trực tiếp bằng bạo lực chính trị |
Tác động trực tiếp bằng chính trị |
Cân bằng các lực lượng kỹ thuật – quyền lựa chọn |
| Cơ sở giai cấp |
Sở hữu. Sức mạnh quân sự |
Sở hữu tổ chức chính trị, trình độ chuyên môn kỹ thuật |
Trình độ chuyên môn kỹ thuật |
| Phương thức lập nghiệp |
Thừa kế. Chiếm đoạt bằng quân sự |
Tạo dựng. Học vấn kỹ thuật |
Tổ chức chính trị, trình độ học vấn, trau dồi |
Các tư tưởng cơ bản trong tư tưởng chính trị của Alvin Toffler bao gồm:
- Thuyết về sự thích nghi (Future Shock): Cảnh báo "cú sốc tương lai" do tốc độ thay đổi quá nhanh của xã hội vượt quá khả năng thích ứng tâm sinh lý của con người.
- Tư tưởng về ba làn sóng văn minh (The Third Wave): Chia lịch sử thành làn sóng thứ nhất (văn minh nông nghiệp), làn sóng thứ hai (văn minh công nghiệp) và làn sóng thứ ba (văn minh hậu công nghiệp dựa trên máy tính, thông tin và công nghệ sinh học).
- Tư tưởng về quyền lực tri thức (Powershift): Nhận định sự dịch chuyển nền tảng quyền lực từ bạo lực và của cải sang tri thức.
Chương 2: Nội dung cơ bản trong tư tưởng Alvin Toffler về tri thức và quyền lực tri thức
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống khái niệm và logic phát triển quyền lực trong tư tưởng Toffler.
Về các khái niệm nền tảng:
- Tri thức: Được hiểu là dữ liệu và thông tin đã qua xử lý, có tính chất phi vật thể, không bị hao mòn hay mất đi qua quá trình sử dụng và có thể tái sinh không giới hạn.
- Quyền lực: Là khả năng áp đặt ý chí hoặc điều khiển hành vi của đối tượng khác phục vụ cho mục tiêu của chủ thể.
- Chủ thể quyền lực: Dịch chuyển từ tầng lớp phong kiến nắm giữ đất đai (làn sóng thứ nhất), giới tư sản tài chính công nghiệp sở hữu máy móc (làn sóng thứ hai) sang đội ngũ chuyên gia, kỹ trị và những người sở hữu tri thức, thông tin (làn sóng thứ ba).
Về phẩm chất của quyền lực và các loại quyền lực truyền thống:
- Quyền lực của bạo lực: Là loại quyền lực có phẩm chất thấp nhất vì thiếu tính linh hoạt, chỉ có thể dùng để trừng phạt hoặc ngăn cấm mà không tạo ra giá trị mới hay của cải vật chất.
- Quyền lực của của cải (tiền tệ): Là loại quyền lực có phẩm chất trung bình, linh hoạt hơn bạo lực vì có khả năng vừa trừng phạt vừa ban thưởng, nhưng bị giới hạn bởi tính hữu hạn của vật chất (khi tiêu xài thì nguồn lực giảm dần).
Về bước chuyển quyền lực và quyền lực của tri thức:
- Tri thức là nguồn quyền lực có phẩm chất cao nhất do tính linh hoạt tuyệt đối, tính dân chủ hóa (bất kỳ ai cũng có thể sở hữu thông tin) và khả năng tạo ra giá trị gia tăng vô hạn. Tri thức có thể điều khiển và nâng cao hiệu quả của cả bạo lực và tiền tệ, đồng thời có khả năng thay thế các yếu tố sản xuất truyền thống như tài nguyên, sức lao động và thời gian.
Về thực chất, hạn chế và giá trị của tư tưởng:
- Giá trị: Dự báo sớm và chính xác xu hướng trỗi dậy của kinh tế tri thức, vai trò của công nghệ thông tin và sự thay đổi trong quản trị chính trị - xã hội hiện đại.
- Hạn chế: Đứng trên lập trường của thế giới quan tư sản, tuyệt đối hóa yếu tố kỹ thuật - công nghệ (thuyết quyết định luận công nghệ), phủ nhận quy luật đấu tranh giai cấp và tính chất quyết định của quan hệ sản xuất đối với sự biến đổi của các hình thái kinh tế - xã hội.
Chương 3: Ý nghĩa và những vấn đề đặt ra từ tư tưởng Alvin Toffler về quyền lực tri thức đối với việc phát huy nguồn lực trí tuệ ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 vận dụng các kết quả nghiên cứu vào điều kiện thực tiễn Việt Nam.
Ý nghĩa đối với việc xây dựng kinh tế tri thức:
- Cung cấp khung tham chiếu lý thuyết để nhận diện bước chuyển văn minh, từ đó xác định khoa học và công nghệ là động lực then chốt của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Định hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng hàm lượng chất xám và dịch vụ công nghệ cao.
Thực trạng đội ngũ trí thức và nguồn lực khoa học ở Việt Nam:
- Đội ngũ trí thức có bước phát triển về số lượng nhưng phân bố chưa đồng đều, tỷ lệ chuyên gia đầu ngành còn mỏng, cơ chế đãi ngộ và môi trường làm việc còn nhiều bất cập, sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất còn hạn chế.
Các nguyên tắc và vấn đề đặt ra nhằm phát huy nguồn lực trí tuệ:
- Hoàn thiện hệ thống thể chế và chính sách trọng dụng nhân tài, tạo môi trường tự do học thuật và sáng tạo khoa học.
- Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo theo hướng tiếp cận chuẩn mực quốc tế và kinh tế tri thức.
- Tăng cường đầu tư nguồn lực tài chính cho hệ thống R&D quốc gia, gắn kết các viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp sản xuất.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước và điều hành xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt lý luận: Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ một cách toàn diện các khái niệm cấu thành tư tưởng chính trị của Alvin Toffler về tri thức và quyền lực tri thức, bao gồm: bản chất tri thức, phân loại phẩm chất quyền lực (bạo lực, của cải, tri thức), cơ chế chuyển dịch quyền lực và vai trò của chủ thể kỹ trị. Công trình đóng góp tài liệu nghiên cứu chuyên sâu cho lịch sử triết học phương Tây và tương lai học tư sản.
- Về mặt thực tiễn: Luận án chỉ ra những mặt hợp lý có thể kế thừa và những giới hạn thế giới quan cần phê phán từ tư tưởng Toffler; đề xuất hệ thống nguyên tắc định hướng và giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ trí thức, phát huy nguồn lực trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế tri thức tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của công trình: Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu tư tưởng của Alvin Toffler qua các tác phẩm bàn về làn sóng thứ ba và quyền lực tri thức (Future Shock, The Third Wave, Powershift), chưa bao quát toàn bộ mọi bài viết, tiểu luận và các công trình hợp tác khác của tác giả.
Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục so sánh học thuyết quyền lực của Alvin Toffler với các lý thuyết triết học chính trị phương Tây đương đại khác (như Michel Foucault, Daniel Bell); đồng thời khảo sát định lượng sâu hơn về sự thay đổi cơ cấu lao động trí thức trong quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Triết học, Lịch sử Triết học, Xã hội học và Khoa học Chính trị trong việc giảng dạy, học tập các chuyên đề về Lịch sử triết học phương Tây thế kỷ XX, Triết học chính trị và Xã hội học tri thức.
- Các nhà quản lý, hoạch định chính sách thuộc các cơ quan nghiên cứu chiến lược, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc xây dựng cơ chế phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chiến lược kinh tế tri thức.
- Các phần có giá trị tham khảo cao gồm: Chương 1 (hệ thống hóa các tiền đề lịch sử triết học từ Plato đến Francis Bacon và thuyết kỹ trị) và Chương 2 (phân tích chi tiết ba cấp độ phẩm chất quyền lực).
Câu hỏi thường gặp
-
Theo Alvin Toffler, ba nguồn quyền lực cơ bản của xã hội loài người có phẩm chất và đặc tính như thế nào?
Alvin Toffler phân chia ba nguồn quyền lực gồm bạo lực, tiền tài (của cải) và tri thức. Bạo lực có phẩm chất thấp nhất và kém linh hoạt nhất vì chỉ dùng để trừng phạt. Của cải có phẩm chất bậc trung, linh hoạt hơn vì vừa dùng để khen thưởng vừa dùng để trừng phạt, nhưng bị tiêu hao khi sử dụng. Tri thức là nguồn quyền lực có phẩm chất cao nhất, linh hoạt nhất, dân chủ nhất và không bao giờ cạn kiệt, có khả năng thay thế và chi phối cả bạo lực lẫn của cải.
-
Những tiền đề triết học Cổ đại và Cận đại nào đã trực tiếp đặt nền tảng cho tư tưởng quyền lực tri thức của Alvin Toffler?
Toffler kế thừa mô hình nhà nước lý tưởng và phân tầng quyền lực theo lý trí (đẳng cấp vàng - triết gia cai trị) của Plato, nguyên tắc đức hạnh trí tuệ và chính trị trung dung của Aristotle, tư tưởng khoa học thực nghiệm của Roger Bacon, phương pháp diễn dịch của René Descartes, và trực tiếp nhất là khẩu hiệu "Tri thức là sức mạnh" (Knowledge is power) cùng chương trình "Đại phục hồi khoa học" trong tác phẩm Novum Organum của Francis Bacon.
-
Luận án đã trích dẫn những số liệu thống kê cụ thể nào để chứng minh sự bùng nổ của cách mạng khoa học - công nghệ nửa sau thế kỷ XX?
Luận án dẫn chứng: Số lượng nhà khoa học tăng từ 1.000 người (năm 1800) lên 3.200.000 người (năm 1970); chu kỳ nhân đôi tri thức rút ngắn từ 50 năm (thế kỷ XIX) xuống còn 10 năm (giữa thế kỷ XX); số bằng sáng chế thế kỷ XX đạt 40 triệu bản; tốc độ in ấn đạt 1.000 cuốn sách/ngày vào thập niên 1960; kinh phí R&D của Mỹ đạt 150 tỷ USD/năm; và Mỹ chiếm 203/620 giải Nobel giai đoạn 1901-1991.
-
Bảng phân tầng quyền lực của thuyết "Thiên đường công nghệ" trong văn bản phân định sự khác nhau giữa xã hội công nghiệp và xã hội hậu công nghiệp ra sao?
Trong xã hội công nghiệp, tài nguyên chủ yếu là máy móc, thiết chế trung tâm là công ty tư nhân, nhân vật chiếm ưu thế là nhà kinh doanh, cơ sở giai cấp dựa trên sở hữu tổ chức chính trị và trình độ kỹ thuật. Trong xã hội hậu công nghiệp, tài nguyên chuyển sang tri thức, thiết chế trung tâm là trường đại học và viện nghiên cứu, nhân vật chiếm ưu thế là các bác học và cán bộ khoa học, cơ sở giai cấp hoàn toàn dựa trên trình độ chuyên môn kỹ thuật.
-
Luận án chỉ ra hạn chế căn bản nào trong thế giới quan của Alvin Toffler khi nhìn nhận lịch sử xã hội?
Hạn chế lớn nhất của Toffler là đứng trên lập trường giai cấp tư sản và rơi vào thuyết quyết định luận công nghệ. Ông tuyệt đối hóa vai trò của khoa học - kỹ thuật, xem các cuộc cách mạng xã hội (như Cách mạng Tháng Mười Nga 1917) chỉ là sự xung đột giữa hai nền văn minh công nghiệp và nông nghiệp chứ không phải kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp, từ đó phủ nhận quy luật vận động của các hình thái kinh tế - xã hội theo quan điểm Mácxít.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS. Ông Văn Năm đã thực hiện việc phân tích có hệ thống tư tưởng chính trị của Alvin Toffler về tri thức và quyền lực tri thức từ góc độ lịch sử triết học. Tác giả đã làm rõ các tiền đề kinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật và cơ sở lý luận từ triết học Cổ đại, Cận đại đến thuyết kỹ trị hiện đại đã định hình nên quan điểm của Toffler. Công trình chỉ ra bước chuyển dịch tất yếu từ các hình thái quyền lực truyền thống (bạo lực, của cải) sang quyền lực của tri thức, đồng thời đánh giá khách quan cả giá trị dự báo lẫn những giới hạn thế giới quan tư sản của học thuyết này. Trên cơ sở đó, luận án rút ra những bài học và nguyên tắc định hướng có giá trị tham khảo thiết thực cho quá trình phát huy nguồn lực trí tuệ và xây dựng kinh tế tri thức tại Việt Nam.