Tổng quan về luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học với đề tài "Xây dựng phong cách ứng xử của Công an nhân dân Việt Nam hiện nay theo phong cách Hồ Chí Minh" do nghiên cứu sinh Đinh Bá Âu thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (mã số: 62 31 02 04, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lại Quốc Khánh và TS. Lý Việt Quang) là công trình nghiên cứu tiên phong, tiếp cận toàn diện và hệ thống hóa lý luận về hành vi công quyền và văn hóa ứng xử của lực lượng vũ trang nhân dân dưới lăng kính di sản phong cách Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", đề tài giải quyết khoảng trống học thuật cốt lõi (research gap): sự thiếu vắng một mô hình lý luận và thực nghiệm tích hợp giữa chuẩn mực phong cách lãnh tụ với quy tắc ứng xử đặc thù của lực lượng thực thi pháp luật trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Nghiên cứu giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và kiểm chứng 3 giả thuyết khoa học (Hypotheses - H):
- RQ1: Cấu trúc bản thể luận và nội hàm khoa học của phong cách ứng xử Hồ Chí Minh cùng hệ thống quan điểm của Người về tư cách người công an cách mạng gồm những thành tố nào?
- RQ2: Thực trạng xây dựng phong cách ứng xử của Công an nhân dân (CAND) Việt Nam trong giai đoạn 2016–2019 bộc lộ những thành tựu và rào cản thể chế, tâm lý - xã hội nào?
- RQ3: Đâu là những yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến sự biến đổi chuẩn mực ứng xử của cán bộ, chiến sĩ CAND trong bối cảnh toàn cầu hóa và mặt trái kinh tế thị trường?
- RQ4: Hệ thống giải pháp chiến lược nào có khả năng chuẩn hóa và chuyển hóa phong cách ứng xử Hồ Chí Minh thành năng lực hành vi thực tế của người chiến sĩ CAND hiện nay?
Các giả thuyết trọng tâm bao gồm:
- H1: Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là hệ thống chỉnh thể hữu cơ giữa đạo đức cách mạng, trí tuệ chính trị và nghệ thuật giao tiếp nhân văn, tạo thành hệ giá trị chuẩn mực có khả năng định hình phong cách ứng xử CAND.
- H2: Sự suy thoái về tư thế, lễ tiết, tác phong của một bộ phận cán bộ CAND bắt nguồn từ sự đứt gãy giữa nhận thức lý luận và thực hành chuẩn mực trước các áp lực tiêu cực của cơ chế thị trường.
- H3: Việc thể chế hóa các giá trị phong cách Hồ Chí Minh thành bộ tiêu chí định lượng và quy trình công tác cụ thể sẽ tạo ra bước chuyển biến căn bản về tính chính danh và văn hóa phục vụ của lực lượng CAND đối với nhân dân.
Khung lý thuyết của công trình tích hợp chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp lý thuyết hành vi tổ chức và xã hội học pháp luật. Luận án triển khai trên phạm vi khảo sát thực chứng quy mô lớn gồm $N_1 = 400$ cán bộ, chiến sĩ CAND tại các đơn vị, địa phương trọng điểm và $N_2 = 400$ người dân trên toàn quốc trong khung thời gian 2016–2019, đóng góp giá trị lý luận mang tính đột phá trong việc xây dựng hình ảnh người chiến sĩ công an "bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ".
Literature Review và Positioning
Tổng quan tài liệu cho thấy hai dòng nghiên cứu chủ lưu trong và ngoài nước:
Nhóm nghiên cứu về phong cách Hồ Chí Minh: Đặng Xuân Kỳ (1993) trong "Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh" đặt nền móng phân lập hệ thống phong cách Hồ Chí Minh thành các phân hệ: tư duy, làm việc, diễn đạt, ứng xử và sinh hoạt. Phạm Ngọc Anh (2010) đi sâu vào "Phong cách làm việc Hồ Chí Minh", Mạch Quang Thắng (2014) làm rõ tính nhân bản, khoan dung trong ứng xử; Hoàng Chí Bảo (2008) tiếp cận văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh như một nghệ thuật tự giáo dục và nêu gương; Song Thành (2006) phân tích các thuộc tính khiêm nhường, lịch thiệp, cảm hóa; Bùi Đình Phong (2012, 2015) luận giải bản lĩnh chính trị và tính chuẩn mực văn hóa đạo đức. Ở giác độ quốc tế, E. Côbêlép (1985) và Charles Fourniau (1990) nhấn mạnh sức mạnh cảm hóa tự nhiên, giản dị của Người; Nguyễn Đài Trang (2011, 2013) định vị phong cách ứng xử Hồ Chí Minh trong dòng chảy giá trị nhân văn toàn cầu.
Nhóm nghiên cứu về văn hóa và đạo đức ứng xử của lực lượng vũ trang: Trần Đại Quang (2014) trong "Văn hóa ứng xử của Công an nhân dân Việt Nam" xác lập khung tiêu chí văn hóa ứng xử toàn lực lượng; Tô Lâm (2018) trong "Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân" và "70 năm Công an nhân dân với tác phẩm Tư cách người công an cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh" hệ thống hóa Sáu điều dạy của Người như một cẩm nang xây dựng lực lượng; Thế Hùng (2011) tiếp cận kỹ năng giao tiếp tình huống của Cảnh sát nhân dân.
Tranh luận học thuật và định vị khoảng trống: Tồn tại hai quan điểm học thuật đối lập: Một trường phái xem phong cách ứng xử là biểu hiện kỹ năng giao tiếp tình huống mang tính công cụ thuần túy (instrumental approach); trường phái thứ hai xem đây là phẩm chất đạo đức nội tâm bất biến (essentialist approach). Luận án của Đinh Bá Âu xác lập vị thế trung dung biện chứng: chứng minh phong cách ứng xử là sự thống nhất giữa bản chất đạo đức cách mạng bên trong với kỹ năng, lề lối và thói quen hành vi ổn định bên ngoài.
So sánh với các nghiên cứu quốc tế về đạo đức và tư pháp thủ tục trong lực lượng cảnh sát:
- Nghiên cứu của Tom R. Tyler (2006) trong Why People Obey the Law về mô hình "Procedural Justice" (Tư pháp thủ tục) chỉ ra rằng sự tuân thủ pháp luật của người dân phụ thuộc vào nhận thức về sự tôn trọng, công bằng và lịch thiệp của cảnh sát. Luận án định vị phong cách ứng xử CAND theo tư tưởng Hồ Chí Minh vượt lên trên sự tuân thủ kỹ thuật để đạt tới sự đồng thuận xã hội dựa trên mối quan hệ gắn bó mật thiết "như cá với nước" giữa công an và nhân dân.
- Mô hình cảnh sát cộng đồng Koban tại Nhật Bản (David H. Bayley, 1991) nhấn mạnh sự gắn kết văn hóa khu dân cư. Luận án chứng minh quan điểm Hồ Chí Minh về việc công an dựa vào nhân dân để làm việc đã đi trước các mô hình cảnh sát cộng đồng phương Tây hàng thập kỷ, mang tính nhân văn sâu sắc hơn do đặt trên nền tảng bản chất giai cấp công nhân và nhà nước của nhân dân.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng lý thuyết Hồ Chí Minh học và Đạo đức học Mác - Lênin thông qua việc định danh và chuẩn hóa các khái niệm công cụ:
- Phong cách ứng xử: Là toàn bộ những thói quen, lề lối, tác phong, phẩm cách đã trở thành nền nếp ổn định của một cá nhân hay nhóm người trong hoạt động giao tiếp xã hội, phản ánh nhân cách và vốn văn hóa của chủ thể.
- Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh: Là sự kết tinh các giá trị cốt lõi trong tư tưởng, đạo đức của Người, biểu hiện sinh động, độc đáo, tự nhiên, khiêm nhường, nồng hậu, lịch lãm, có sức cảm hóa mạnh mẽ, trở thành đỉnh cao của văn hóa ứng xử dân tộc Việt Nam.
- Phong cách ứng xử của CAND Việt Nam: Là hệ thống các đặc trưng hành vi, lề lối, thái độ giao tiếp mang tính chuẩn mực đặc thù của lực lượng vũ trang nhân dân, được tôi luyện qua thực tiễn chiến đấu và công tác.
Luận án xây dựng 4 mệnh đề lý thuyết (Theoretical Propositions - P):
- Mệnh đề P1: Phong cách ứng xử CAND là sự chuyển hóa biện chứng giữa lý tưởng chính trị vô sản và chuẩn mực đạo đức truyền thống thông qua cơ chế tự rèn luyện và kiểm soát thể chế.
- Mệnh đề P2: Cường độ biểu hiện tính nhân văn trong phong cách ứng xử của người chiến sĩ CAND tỷ lệ thuận với mức độ tín nhiệm chính trị và sự hợp tác tự nguyện của quần chúng nhân dân.
- Mệnh đề P3: Tính kiên quyết, bản lĩnh và tính linh hoạt, mềm dẻo trong ứng xử CAND tạo thành cặp phạm trù thống nhất mang nguyên lý "dĩ bất biến, ứng vạn biến".
- Mệnh đề P4: Sự sai lệch chuẩn mực ứng xử của cán bộ chiến sĩ bắt nguồn từ sự suy thoái "văn hóa công vụ" khi đối mặt với sự cám dỗ vật chất và sự tha hóa quyền lực công quyền.
Khung phân tích độc đáo
Luận án tích hợp 3 khung lý thuyết: Lý thuyết Tư tưởng Hồ Chí Minh về CAND (trọng tâm là Sáu điều dạy), Lý thuyết Hành vi công vụ (Public Service Behavioral Theory) và Lý thuyết Tương tác biểu trưng (Symbolic Interactionism).
Khung phân tích xác lập các điều kiện biên (Boundary conditions): Mô hình vận hành tối ưu trong môi trường thể chế chính trị ổn định, có sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với CAND, và chịu sự chi phối bởi hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng và lập trường phương pháp luận Chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism). Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp tuần tự (Sequential Explanatory Mixed-Methods Design) được triển khai qua các cấp độ:
- Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Phân tích thể chế, văn kiện chính trị và các chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ Công an từ năm 2006 đến năm 2019.
- Cấp độ trung mô (Meso-level): Khảo sát tổ chức thực hiện tại Công an các đơn vị, tỉnh, thành phố trọng điểm (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và một số địa bàn chiến lược).
- Cấp độ vi mô (Micro-level): Đo lường hành vi, nhận thức và đánh giá tương tác giữa cá nhân cán bộ, chiến sĩ và người dân.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được thiết kế chặt chẽ qua cơ chế tam giác giác hóa (Triangulation):
- Khảo sát định lượng qua bảng hỏi:
- Mẫu 1 ($N_1 = 400$): Cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng An ninh, Cảnh sát, Xây dựng lực lượng trên cả nước. Thang đo đánh giá nhận thức về phong cách Hồ Chí Minh và thực tiễn ứng xử theo 3 phương diện (với đồng nghiệp, nhân dân, đối tượng đấu tranh).
- Mẫu 2 ($N_2 = 400$): Quần chúng nhân dân đại diện cho các tầng lớp xã hội tại các địa bàn trọng điểm nhằm đánh giá khách quan hình ảnh, thái độ phục vụ và mức độ hài lòng về phong cách ứng xử của lực lượng CAND.
- Phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia (Qualitative In-depth Interviews): Tiến hành phỏng vấn các nhà khoa học, nhà quản lý, tướng lĩnh tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Chính trị CAND, Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân.
- Phương pháp hội thảo khoa học và tổng kết thực tiễn: Tổ chức xin ý kiến thẩm định chuyên môn tại các viện nghiên cứu và công an các địa phương để kiểm định tính khả thi của các luận điểm.
- Độ giá trị và độ tin cậy: Các thang đo thái độ và hành vi được kiểm tra độ giá trị nội dung (Content validity) và độ tin cậy nhất quán nội tại (Internal consistency) với hệ số Cronbach's Alpha đạt chuẩn ($\alpha \ge 0.82$).
Data và phân tích
Dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý trên phần mềm phân tích thống kê chuyên dụng. Các kỹ thuật thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn) kết hợp phân tích bảng chéo (cross-tabulation) và kiểm định phi tham số được sử dụng để phân tích sự khác biệt về nhận thức và hành vi ứng xử giữa các nhóm đối tượng. Dữ liệu định tính từ các bài nói, bài viết trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử và biên bản phỏng vấn sâu được phân tích theo phương pháp phân tích chủ đề (Thematic Analysis) và phân tích cấu trúc diễn ngôn (Discourse Analysis).
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
-
Sự xác lập mô hình nhân cách ứng xử 4 thành tố mang bản sắc Hồ Chí Minh: Luận án chứng minh phong cách ứng xử Hồ Chí Minh không phải là sự sao chép công thức ngoại giao máy móc mà phản ánh cấu trúc nhân cách:
"Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là sự phản ánh trung thực chính bản thân Hồ Chí Minh, đó là phong cách của một con người với nhân cách siêu việt, cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp, cái trí minh mẫn, cái hành mực thước, phong cách của một lãnh tụ, một vĩ nhân, một chiến sĩ cộng sản chân chính, người anh hùng giải phóng dân tộc, đồng thời cũng là nhà văn hóa kiệt xuất" [Dẫn lại từ Nguyễn Văn Khoan trong luận án].
Bốn đặc trưng cốt lõi được định lượng hóa bao gồm: (1) Khiêm nhường, nhã nhặn, lịch lãm; (2) Chân tình, nồng hậu, tự nhiên; (3) Linh hoạt, sáng tạo, ứng biến; (4) Cảm hóa, khoan dung, độ lượng.
-
Quy luật giáo dục và chuyển hóa hành vi: Khẳng định luận điểm cốt lõi của Hồ Chí Minh:
"Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên" [Hồ Chí Minh Toàn tập].
Phong cách ứng xử của chiến sĩ công an không phải là phẩm chất bẩm sinh cố định mà là sản phẩm của quá trình rèn luyện, thể chế hóa và giám sát xã hội nghiêm ngặt.
-
Mâu thuẫn thực nghiệm giữa nhận thức lý luận và hành vi thực địa:
Kết quả phân tích từ $N_1 = 400$ cán bộ công an và $N_2 = 400$ người dân chỉ ra một nghịch lý: Tỷ lệ cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ về Sáu điều Bác Hồ dạy đạt mức rất cao ($>92%$), song tỷ lệ người dân phản ánh về tình trạng cán bộ tại các bộ phận tiếp xúc trực tiếp (Cảnh sát giao thông, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội) còn biểu hiện "hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu, giao tiếp thiếu văn hóa" vẫn dao động ở mức đáng kể ($15% - 22%$).
-
Nhận diện cơ chế tha hóa phong cách ứng xử dưới áp lực kinh tế thị trường:
Luận án phát hiện nguyên nhân gốc rễ của những sai lệch hành vi: (a) Sự suy thoái đạo đức cá nhân khi thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực; (b) Áp lực công việc cường độ cao chưa được giải tỏa tâm lý; (c) Bệnh hình thức, chạy theo thành tích bề nổi mà buông lỏng việc rèn luyện lễ tiết, tác phong nội vụ thường xuyên.
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Bổ sung vào kho tàng lý luận Hồ Chí Minh học một phân hệ lý thuyết chuyên biệt: Lý thuyết phong cách ứng xử của lực lượng vũ trang nhân dân. Cung cấp cơ sở khoa học để luận giải mối quan hệ giữa bản chất nhà nước của dân, do dân, vì dân với văn hóa giao tiếp công quyền.
- Về phương pháp luận: Thiết lập khung chỉ báo đánh giá hành vi ứng xử CAND tích hợp cả dữ liệu tự đánh giá nội bộ và đánh giá độc lập từ xã hội, có thể áp dụng cho các lực lượng thực thi pháp luật khác.
- Về thực tiễn và chính sách: Cung cấp luận cứ trực tiếp để Đảng ủy Công an Trung ương và Bộ Công an xây dựng, ban hành và hoàn thiện "Bộ Quy tắc ứng xử của Công an nhân dân Việt Nam", gắn việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW với Cuộc vận động "Xây dựng phong cách người cán bộ Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ".
Limitations và Future Research
-
Giới hạn nghiên cứu (Limitations):
- Mẫu khảo sát: Tập trung chủ yếu vào các tỉnh, thành phố lớn và trọng điểm, chưa bao quát triệt để các địa bàn đặc thù như vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
- Phương pháp đo lường: Tỷ lệ tự báo cáo (self-reporting) ở mẫu cán bộ công an có thể chịu tác động nhất định của tâm lý mong muốn xã hội (social desirability bias).
- Khung thời gian: Dữ liệu phản ánh giai đoạn 2016–2019, cần được cập nhật liên tục trước những biến đổi nhanh chóng của không gian mạng xã hội và chuyển đổi số.
-
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):
- Hướng 1: Nghiên cứu phong cách ứng xử của CAND trên không gian mạng và môi trường số (Digital & Cyber Policing Behavior).
- Hướng 2: Ứng dụng mô hình phương trình cấu trúc (Structural Equation Modeling - SEM) để kiểm định tác động của văn hóa tổ chức đến hiệu quả ứng xử tình huống của cảnh sát.
- Hướng 3: So sánh xuyên quốc gia (Comparative Study) về quy tắc ứng xử của lực lượng cảnh sát giữa các nước XHCN và các nước ASEAN.
- Hướng 4: Xây dựng hệ thống tiêu chí định lượng hóa (KPIs) hành vi ứng xử trong quy trình đánh giá, phân loại và bổ nhiệm cán bộ CAND.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Trở thành công trình tham khảo nền tảng trong hệ thống các học viện, trường CAND (Học viện Chính trị CAND, Học viện CSND, Học viện ANND) và các khoa Triết học, Chính trị học, Hồ Chí Minh học trên toàn quốc.
- Tác động thể chế chính sách: Luận cứ của luận án đóng góp trực tiếp vào quy trình hoàn thiện các văn bản quy phạm nội bộ của Bộ Công an về Điều lệnh nội vụ, Quy tắc văn hóa ứng xử trong công an, và quy trình xử lý vi phạm tác phong cán bộ.
- Lợi ích xã hội: Việc nâng cao chuẩn mực ứng xử của lực lượng công an theo gương Bác giúp củng cố niềm tin chính trị của nhân dân đối với chế độ, giảm thiểu các khiếu kiện hành chính và xung đột xã hội trong quá trình thực thi pháp luật.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giảng viên Hồ Chí Minh học / Xây dựng Đảng: Tiếp cận một mô hình nghiên cứu vận dụng di sản Hồ Chí Minh vào một chuyên ngành thực hành cụ thể với cấu trúc phương pháp luận mẫu mực.
- Lãnh đạo, Chỉ huy các cấp trong lực lượng CAND: Sở hữu cơ sở khoa học để thiết kế các chương trình giáo dục chính trị, rèn luyện tư tưởng và kiểm tra tác phong cán bộ chiến sĩ tại đơn vị.
- Cán bộ, chiến sĩ CAND: Nhận diện rõ tiêu chuẩn hành vi chuẩn mực trong 3 mối quan hệ cơ bản để tự soi, tự sửa, nâng cao kỹ năng giao tiếp và xử lý tình huống nghiệp vụ.
- Các cơ quan thanh tra, giám sát công quyền: Có thêm hệ tiêu chí khách quan để giám sát, đánh giá văn hóa công vụ và đạo đức thực thi công vụ của cán bộ nhà nước.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng lý thuyết Đạo đức học Hồ Chí Minh bằng cách phân lập và hệ thống hóa cấu trúc "Phong cách ứng xử CAND" thành một phân hệ khoa học độc lập. Công trình chứng minh phong cách ứng xử là sự thống nhất hữu cơ giữa 3 chiều kích: Đạo đức người cách mạng (bản chất bên trong), Kỹ năng nghiệp vụ pháp luật (công cụ thực thi) và Nghệ thuật ứng xử văn hóa nhân văn (hình thức biểu hiện bên ngoài), khắc phục triệt để quan niệm phiến diện coi ứng xử chỉ là thao tác giao tiếp thông thường.
2. Tính đổi mới về mặt phương pháp luận so với các công trình trước đây?
So với các nghiên cứu trước đây (như Trần Đại Quang 2014, Thế Hùng 2011) chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu và đúc kết kinh nghiệm hành chính, luận án của Đinh Bá Âu đã áp dụng mô hình nghiên cứu xã hội học thực chứng nghiêm ngặt (Mixed-Methods), tiến hành khảo sát chéo đồng thời hai mẫu độc lập ($N_1 = 400$ cán bộ công an và $N_2 = 400$ công dân), kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia liên ngành (Hồ Chí Minh học, Công an học, Xã hội học), tạo ra độ tin cậy và độ giá trị thực nghiệm vượt trội.
3. Phát hiện thực nghiệm nào bất ngờ và mang tính phản trực giác nhất?
Phát hiện về sự "lệch pha nhận thức - hành vi": Cán bộ công an có điểm số tự đánh giá rất cao về mức độ hiểu biết lý luận Sáu điều Bác dạy ($>92%$), tuy nhiên, khi đối diện với các tình huống xung đột nghiệp vụ hoặc áp lực công việc tại hiện trường, hành vi ứng xử bản năng và thái độ quan liêu vẫn xuất hiện ở mức $15% - 22%$ theo phản ánh của người dân. Điều này chứng minh rằng việc nắm bắt lý luận suông không tự động chuyển hóa thành phong cách ứng xử nếu thiếu quy trình kiểm soát thể chế và rèn luyện hành vi thực địa.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?
Có. Luận án mô tả chi tiết phương pháp chọn mẫu phân tầng theo địa bàn trọng điểm, bộ tiêu chí thiết kế bảng hỏi cho hai tập đối tượng (cán bộ chiến sĩ và nhân dân), danh mục câu hỏi phỏng vấn sâu chuyên gia và quy trình xử lý dữ liệu qua các bước chuẩn hóa, cho phép các nhà nghiên cứu tương lai tái lập khảo sát trên các quy mô mẫu và địa bàn khác nhau.
5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình như thế nào?
Chương trình nghiên cứu dài hạn tập trung vào 3 trục chính: (1) Số hóa chuẩn mực ứng xử của lực lượng công an trong kỷ nguyên chính phủ điện tử và mạng xã hội; (2) Xây dựng bộ công cụ AI giám sát và phân tích tương tác ứng xử giữa cảnh sát và người dân tại các trung tâm dịch vụ công; (3) Nghiên cứu so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa văn hóa ứng xử của lực lượng cảnh sát các nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa với các nền dân chủ phương Tây.
Kết luận
Luận án "Xây dựng phong cách ứng xử của Công an nhân dân Việt Nam hiện nay theo phong cách Hồ Chí Minh" của Đinh Bá Âu đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu khoa học đặt ra, đóng góp 5 giá trị đột phá:
- Xác lập hệ thống khái niệm chuẩn xác: Định nghĩa tường minh các phạm trù phong cách, phong cách ứng xử, phong cách ứng xử Hồ Chí Minh và phong cách ứng xử của CAND Việt Nam.
- Hệ thống hóa di sản lý luận: Luận giải sâu sắc bản chất khoa học, cách mạng và giá trị trường tồn của phong cách ứng xử Hồ Chí Minh đối với lực lượng vũ trang.
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm khách quan: Đánh giá toàn diện thực trạng phong cách ứng xử CAND giai đoạn 2016–2019 với dữ liệu kép từ $N=800$ mẫu khảo sát, chỉ rõ thành tựu, hạn chế và căn nguyên sâu xa.
- Dự báo chính xác các biến số tác động: Phân tích đa chiều các thách thức từ kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, diễn biến hòa bình và bùng nổ truyền thông số.
- Hệ thống giải pháp đồng bộ và khả thi: Đề xuất 5 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm: nâng cao nhận thức, hoàn thiện thể chế quy tắc ứng xử, đổi mới công tác giáo dục đào tạo, tăng cường thanh tra giám sát và phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu.
Công trình đã khẳng định phong cách ứng xử Hồ Chí Minh mãi là kim chỉ nam, ngọn đuốc soi đường để xây dựng lực lượng CAND Việt Nam thực sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xứng đáng là "thanh bảo kiếm" bảo vệ Đảng, Nhà nước và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Nhân dân.