Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Giáo dục Chính trị (chuyên ngành Lịch sử Đảng) với đề tài "Công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới" do sinh viên Lê Thị Thúy Phương thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 4 năm 2005), dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Như Cương.
Lý do chọn đề tài xuất phát từ vị trí trọng yếu của công tác tư tưởng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam suốt hơn 75 năm lịch sử. Bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo tiền đề vật chất phát triển phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống mới. Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường cũng làm nảy sinh những tác động tiêu cực đến thế giới quan khoa học, đạo đức xã hội; cùng với đó là âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch nhằm chống phá nền tảng tư tưởng chế độ. Trước yêu cầu của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX về "phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa", việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng nhằm tạo sự thống nhất trong Đảng và đồng thuận xã hội là vấn đề mang tính cấp thiết.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua các nội dung:
- Nắm vững các vấn đề lý luận trong công tác tư tưởng.
- Thấy rõ các nghị quyết và chỉ thị về công tác tư tưởng mà Đảng và Nhà nước đang thực thi.
- Củng cố niềm tin vững chắc vào đường lối lãnh đạo của Đảng.
- Làm tài liệu tham khảo cho sinh viên trong quá trình học tập và nghiên cứu môn Lịch sử Đảng.
- Tìm hiểu sự lãnh đạo thực hiện công tác tư tưởng của Đảng trong thời kỳ đổi mới.
Nhiệm vụ nghiên cứu gắn liền với việc làm rõ cơ sở lý luận, tổng kết vai trò và thực trạng công tác tư tưởng của Đảng (gồm thành tựu và hạn chế), từ đó phân tích phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp và bài học kinh nghiệm trong thời kỳ đổi mới, đồng thời đề xuất kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng cho thế hệ trẻ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2005).
- Phạm vi không gian: Phạm vi cả nước, tập trung vào hệ thống tổ chức Đảng, các tầng lớp nhân dân và đặc biệt chú trọng đối tượng thanh niên, học sinh, sinh viên trong các nhà trường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khóa luận vận dụng các quan điểm lý luận kinh điển của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin về ý thức xã hội, cuộc đấu tranh ý thức hệ và vai trò của lý luận cách mạng khi thâm nhập vào quần chúng; cùng các chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác lý luận và giáo dục cách mạng.
Hệ thống văn bản pháp lý và văn kiện Đảng được tác giả sử dụng làm căn cứ trực tiếp gồm:
- Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (đặc biệt là Điều 40 về phương thức lãnh đạo của Đảng bằng công tác tư tưởng).
- Văn kiện các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), VII (1991), VIII (1996) và IX (2001).
- Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991).
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu (tháng 3/1989) và lần thứ bảy (tháng 8/1989) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (Về một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay).
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (29/6/1992) Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng.
- Nghị quyết số 01-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VII (28/3/1992) Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay.
- Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VII (18/2/1995) Về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay.
- Quyết định số 100-QĐ/TW của Ban Bí thư khóa VII (tháng 6/1995) về việc thành lập Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện.
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII và khóa IX (tháng 2/2002) Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới.
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII; Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VIII.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp giữa:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết.
- Phương pháp logic và lịch sử nhằm tái hiện tiến trình lãnh đạo công tác tư tưởng qua từng giai đoạn của công cuộc đổi mới.
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, khai thác số liệu thống kê thứ cấp từ các báo cáo chính trị, văn kiện lưu hành nội bộ của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương và các cơ quan chức năng.
Nguồn dữ liệu thực tế bao gồm các kết quả tổng kết công tác tuyên giáo, số liệu điều tra dư luận xã hội của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương thực hiện vào tháng 4/1998 và tháng 6/2001, số liệu thống kê xử lý các vụ án trọng điểm giai đoạn 2001–2002, cùng các báo cáo xóa đói giảm nghèo và phong trào thi đua toàn quốc.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Công tác tư tưởng của nước ta trong thời gian qua
Chương này trình bày toàn diện ba nội dung: hệ thống nhận thức lý luận cơ bản; vai trò của công tác tư tưởng trong tiến trình đổi mới; và thực trạng tình hình tư tưởng cũng như hoạt động tư tưởng tại Việt Nam.
Về mặt lý luận, tác giả phân tích khái niệm công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của Đảng Cộng sản nhằm xác lập, phát triển và truyền bá hệ tư tưởng Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong quần chúng; định hướng giá trị, củng cố niềm tin và thúc đẩy hành động cách mạng. Cấu trúc hoạt động tư tưởng được cấu thành bởi 8 yếu tố: chủ thể, khách thể, mục đích, nội dung, phương thức, phương tiện, hình thức và hiệu quả. Theo quan điểm của V.I. Lênin, công tác tư tưởng gồm 3 bộ phận hợp thành hữu cơ:
- Công tác lý luận: Mắt khâu đầu tiên, sản xuất và phát triển hệ tư tưởng, cung cấp luận cứ khoa học cho đường lối của Đảng.
- Công tác tuyên truyền: Truyền bá tri thức lý luận, chủ trương, chính sách và thông tin định hướng.
- Công tác cổ động: Khâu biến nhận thức và niềm tin thành hành động cách mạng thực tiễn của quần chúng.
Công tác tư tưởng phải quán triệt 3 nguyên tắc nền tảng: tính đảng (thống nhất giữa lập trường triết học duy vật biện chứng và lập trường chính trị giai cấp công nhân), tính khoa học (phản ánh khách quan, chân thực và phù hợp quy luật nhận thức), và tính thống nhất giữa lý luận với thực tiễn (lý luận soi đường cho thực tiễn, thực tiễn kiểm nghiệm lý luận).
Về vai trò lịch sử trong thời kỳ đổi mới, công tác tư tưởng giữ vị trí đi đầu:
- Tại Đại hội VI (1986), công tác tư tưởng khởi xướng đổi mới tư duy, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, xác lập nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan.
- Trước biến động chính trị phức tạp ở Đông Âu và Liên Xô (1989), Nghị quyết Trung ương 6 và Trung ương 7 (khóa VI) đã kịp thời định hướng tư tưởng, ngăn chặn trào lưu xét lại và xã hội dân chủ, giữ vững ổn định chính trị trong nước.
- Đại hội VII (1991) thông qua Cương lĩnh và xác định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; tiếp đó Nghị quyết 01 và Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị khóa VII định hình định hướng công tác lý luận và tư tưởng văn hóa.
- Đại hội VIII (1996) và Đại hội IX (2001) tiếp tục xác định phương hướng tư tưởng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Đánh giá thực trạng tình hình tư tưởng và công tác tư tưởng, tác giả chỉ ra bức tranh đan xen giữa mặt tích cực và hạn chế:
- Tình hình tư tưởng: Đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, sự suy thoái phẩm chất chính trị, đạo đức, tệ quan liêu, tham nhũng gây bức xúc xã hội. Văn bản dẫn số liệu: trong 9 vụ án trọng điểm do Trung ương chỉ đạo xử lý giai đoạn 2001–2002 với 196 bị can, có tới 176 bị can nguyên là cán bộ, công chức nhà nước (chiếm 89,79%) và 65 bị can là đảng viên. Khảo sát dư luận xã hội tháng 6/2001 của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương cho thấy tỷ lệ băn khoăn, bức xúc của cán bộ, đảng viên tập trung vào: tham nhũng (97%), quan liêu (89%), tệ nạn xã hội (86%), suy thoái phẩm chất cán bộ (82%), khiếu kiện kéo dài (80%), chạy chức chạy quyền (79%), thiếu kỷ cương (79%), cán bộ lãnh đạo thiếu gương mẫu (77%), mất dân chủ (72%), thiếu công bằng xã hội (69%), phân hóa giàu nghèo (67%).
- Kết quả đạt được: Công tác tư tưởng góp phần hoàn thiện đường lối; làm rõ 9 nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh tại Đại hội IX; đổi mới giáo dục lý luận chính trị qua mạng lưới Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện (theo Quyết định 100-QĐ/TW, sau 4 năm đã mở 19 lớp chuyên đề cho 11.000 cán bộ cấp tỉnh/bộ; 3.372 lớp lý luận chính trị phổ thông cho 231.710 học viên; 181.459 bí thư chi bộ và cấp ủy viên; 7.603 đối tượng kết nạp Đảng; 2.398 trưởng thôn bản; 6.710 lớp cho 588.957 cán bộ đoàn thể); gắn kết hiệu quả với nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo (tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 56% năm 1990 xuống 32%, đến cuối năm 2001 còn 16% theo chuẩn mới với 2,5 triệu hộ; huy động trên 900 tỷ đồng và hơn 400 triệu USD cho vay ưu đãi hơn 750 nghìn lượt hộ nghèo); phát triển phong trào xây dựng đời sống văn hóa (5,2 triệu gia đình văn hóa, 28.578 làng ấp văn hóa) và đền ơn đáp nghĩa (85.422 căn nhà tình nghĩa, 419 nghìn sổ tiết kiệm, quỹ huy động 528 tỷ đồng, phụng dưỡng 13.000 Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống).
- Một số hạn chế: Chưa xây dựng được chiến lược tư tưởng và chiến lược con người tương xứng với chiến lược kinh tế – xã hội; công tác lý luận chưa giải đáp kịp thời các vấn đề mới (kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập kinh tế); giáo dục lý luận và đạo đức trong nhà trường có biểu hiện hình thức; buông lỏng quản lý xuất bản dẫn tới khuynh hướng thương mại hóa; công tác dự báo còn bị động (điển hình như vụ việc phức tạp tại Tây Nguyên đầu năm 2001); công tác tư tưởng ở cơ sở và vùng dân tộc thiểu số còn nhiều lúng túng; công tác kiểm tra của ngành tuyên giáo chưa bài bản.
Chương 2: Đảng lãnh đạo công tác tư tưởng trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay)
Chương 2 tập trung phân tích hệ thống phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX; đề xuất các kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng đối với thế hệ trẻ và tổng kết bài học kinh nghiệm.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định phương hướng chung và 6 nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới:
- Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, tiếp tục làm sáng tỏ lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị, tạo sự thống nhất trong Đảng và đồng thuận trong nhân dân.
- Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế – xã hội bức xúc, chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng, ngăn chặn suy thoái đạo đức, lối sống.
- Chủ động tấn công, triển khai có hiệu quả cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng – lý luận, làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình", âm mưu bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
- Thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, quy định về bảo vệ Đảng; xử lý kịp thời theo pháp luật và kỷ luật Đảng các hoạt động tán phát tài liệu xấu, thông tin bịa đặt, thư nặc danh, mạo danh.
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền, cổ động, báo chí – xuất bản, văn hóa – văn nghệ, thông tin đối ngoại.
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, 6 nhóm giải pháp đồng bộ được đề ra:
- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận.
- Mở rộng dân chủ, phát huy tự do tư tưởng trong nghiên cứu khoa học đi đôi với giữ nghiêm kỷ cương trong việc phổ biến kết quả nghiên cứu.
- Nêu cao vai trò gương mẫu "nói đi đôi với làm" của cán bộ, đảng viên; nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình.
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư tưởng – lý luận có chất lượng cao; phấn đấu trong 5 năm giải quyết cơ bản tình trạng thiếu giảng viên lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học, cao đẳng.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng trường chính trị tỉnh và trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, tăng mức đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất cho ngành tuyên giáo.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị theo phương châm "toàn Đảng làm công tác tư tưởng", "lấy quần chúng giáo dục quần chúng".
Đối với thế hệ trẻ, khóa luận phân tích thực trạng tư tưởng thanh niên dựa trên điều tra của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương tháng 4/1998: có 53% thanh niên không quan tâm đến chính trị; 66% không thấy cần thiết tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản; 65% không quan tâm đến các vấn đề xã hội; và 76% người được hỏi đề nghị phải tăng cường giáo dục chính trị, đạo đức cho học sinh, thanh niên. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các kiến nghị:
- Đoàn Thanh niên và Hội Liên hiệp Thanh niên phải đổi mới phương thức tập hợp, giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức cần kiệm liêm chính, tinh thần thượng tôn pháp luật.
- Các cấp ủy Đảng tăng cường chỉ đạo trực tiếp công tác thanh niên trong nhà trường.
- Đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy chính trị ở các cấp học; khôi phục kỳ thi Tốt nghiệp quốc gia môn Chính trị trong các trường đại học, cao đẳng; quy định thi Tốt nghiệp phổ thông bắt buộc đối với các môn Lịch sử, Địa lý và Giáo dục công dân.
- Tăng cường hoạt động ngoại khóa, đưa sinh viên đi thực tế tại địa phương, đẩy mạnh các phong trào hành động cách mạng: "Tuổi trẻ sống đẹp", "Biên giới, hải đảo trong trái tim tôi", "Thanh niên tình nguyện", "Ánh sáng văn hóa".
- Chăm lo toàn diện đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ giáo viên, giảng viên trực tiếp giảng dạy môn Giáo dục công dân và lý luận chính trị.
Về bài học kinh nghiệm, khóa luận tổng kết bài học cốt lõi: Công tác tư tưởng phải luôn đứng vững trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; bám sát đường lối đổi mới, dũng cảm tự phê bình và đổi mới tư duy lý luận dựa trên thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và hệ thống hóa nhiều dữ liệu thực tiễn phản ánh kết quả triển khai công tác tư tưởng và công tác xã hội trong giai đoạn 1986–2005 qua các bảng số liệu:
| Chỉ số / Lĩnh vực điều tra |
Kết quả ghi nhận trong văn bản |
| Khảo sát nhân tố ảnh hưởng tư tưởng cán bộ, đảng viên (6/2001) |
Tham nhũng: 97%; Quan liêu: 89%; Tệ nạn xã hội: 86%; Suy thoái phẩm chất: 82%; Khiếu kiện kéo dài: 80%; Chạy chức chạy quyền: 79%; Thiếu kỷ cương: 79%; Lãnh đạo thiếu gương mẫu: 77%; Mất dân chủ: 72%; Thiếu công bằng: 69%; Phân hóa giàu nghèo: 67% |
| Xử lý vi phạm cán bộ (9 vụ án trọng điểm 2001–2002) |
196 bị can bị khởi tố, trong đó: 176 nguyên là cán bộ, công chức nhà nước (89,79%); 65 nguyên là đảng viên |
| Bồi dưỡng lý luận chính trị cấp huyện (sau 4 năm thực hiện QĐ 100) |
19 lớp chuyên đề (11.000 lượt cán bộ cấp tỉnh/bộ); 3.372 lớp phổ thông (231.710 học viên); 181.459 bí thư chi bộ/cấp ủy; 7.603 đối tượng kết nạp Đảng; 2.398 trưởng thôn bản; 6.710 lớp đoàn thể (588.957 cán bộ) |
| Thực hiện chính sách xã hội & Giảm nghèo (đến cuối 2001) |
Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 56% (1990) xuống 32%, còn 16% (khoảng 2,5 triệu hộ) theo chuẩn mới; vốn trên 900 tỷ đồng và 400 triệu USD hỗ trợ vay vốn; 85.422 nhà tình nghĩa; 419.000 sổ tiết kiệm; quỹ đền ơn đáp nghĩa đạt 528 tỷ đồng; phụng dưỡng 13.000 Bà mẹ VNAH còn sống |
| Khảo sát thái độ chính trị của thanh niên (4/1998) |
53% không quan tâm chính trị; 66% không thấy cần thiết tổ chức Đoàn; 65% không quan tâm vấn đề xã hội; 76% đề nghị tăng cường giáo dục chính trị, đạo đức |
Các giải pháp, kiến nghị của tác giả tập trung vào:
- Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về tư tưởng, báo chí, xuất bản; bảo đảm tự do tư tưởng trong nghiên cứu khoa học gắn liền với kỷ cương công bố kết quả.
- Đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương pháp giảng dạy lý luận chính trị, đưa các môn khoa học xã hội (Lịch sử, Địa lý, GDCD) thành môn thi tốt nghiệp phổ thông bắt buộc và khôi phục thi môn Chính trị tốt nghiệp cấp đại học/cao đẳng.
- Đào tạo chuẩn hóa chức danh cán bộ tuyên giáo, mở ngành đào tạo cử nhân chuyên ngành công tác tư tưởng.
Về đóng góp học thuật, đề tài đã làm rõ sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng qua các mốc Đại hội VI, VII, VIII, IX; hệ thống hóa các chỉ thị, nghị quyết chuyên đề của Trung ương về công tác tư tưởng giai đoạn 1986–2005 và gắn kết lý luận Lịch sử Đảng với thực tiễn đào tạo giáo viên Giáo dục công dân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Dữ liệu khảo sát định lượng trong khóa luận chủ yếu kế thừa từ các cuộc điều tra xã hội học thứ cấp của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (các năm 1998, 2001) và số liệu tư pháp giai đoạn 2001–2002; tác giả chưa tự thiết kế và thực hiện một cuộc khảo sát định lượng độc lập tại địa bàn cụ thể do giới hạn thời gian và nguồn lực của một khóa luận đại học năm 2005.
- Phạm vi tư liệu dừng lại ở dấu mốc văn kiện Đại hội IX và Hội nghị Trung ương 5 khóa IX, chưa bao quát được các bước phát triển của công tác tư tưởng ở các nhiệm kỳ Đại hội Đảng tiếp theo.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phân tích công tác tư tưởng của Đảng trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, internet và mạng xã hội đối với nhận thức chính trị của giới trẻ.
- Khảo sát thực chứng hiệu quả giảng dạy môn Giáo dục công dân và các môn lý luận chính trị trong hệ thống trường sư phạm và trường trung học phổ thông.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị, Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước: Cung cấp tài liệu tổng hợp hệ thống các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng về mặt trận tư tưởng từ năm 1986 đến năm 2005.
- Giáo viên môn Giáo dục công dân và cán bộ làm công tác Tuyên giáo, Đoàn Thanh niên: Tham khảo cơ sở lý luận về 8 yếu tố, 3 bộ phận cấu thành, 3 nguyên tắc của công tác tư tưởng; cũng như các đề xuất đổi mới phương thức giáo dục truyền thống và lý tưởng cách mạng cho thanh thiếu niên.
- Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản là hệ thống số liệu tổng kết 4 năm thực hiện Quyết định 100-QĐ/TW về trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện và các số liệu khảo sát tâm trạng xã hội, tư tưởng thanh niên giai đoạn 1998–2001.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận định nghĩa công tác tư tưởng là gì và gồm những bộ phận cấu thành nào?
Công tác tư tưởng được định nghĩa là hoạt động có mục đích của Đảng Cộng sản nhằm xác lập, phát triển và truyền bá hệ tư tưởng Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong quần chúng, định hướng giá trị, tạo niềm tin và thúc đẩy quần chúng hành động vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Theo luận điểm của V.I. Lênin được trích dẫn trong văn bản, công tác tư tưởng gồm 3 bộ phận cấu thành: công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổ động.
2. Cuộc điều tra dư luận xã hội tháng 6/2001 chỉ ra các nhân tố tiêu cực nào tác động lớn nhất đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân?
Theo kết quả điều tra của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (tháng 6/2001) được dẫn trong khóa luận, các nhân tố tác động hàng đầu gồm: nạn tham nhũng (97%), tệ quan liêu (89%), tệ nạn xã hội (86%), sự suy thoái phẩm chất cán bộ, đảng viên (82%), tình trạng khiếu kiện kéo dài (80%), hiện tượng chạy chức chạy quyền (79%) và tình trạng thiếu kỷ cương (79%).
3. Sau 4 năm thực hiện Quyết định 100-QĐ/TW của Ban Bí thư khóa VII, hệ thống bồi dưỡng chính trị cấp huyện đã đạt được những kết quả định lượng cụ thể nào?
Sau 4 năm kiện toàn hệ thống trung tâm bồi dưỡng chính trị quận/huyện theo Quyết định 100-QĐ/TW, các trung tâm đã tổ chức được 19 lớp chuyên đề bồi dưỡng sâu cho 11.000 lượt cán bộ ban ngành cấp tỉnh; 3.372 lớp lý luận chính trị phổ thông cho 231.710 học viên; các lớp bồi dưỡng cho 181.459 bí thư chi bộ và cấp ủy viên; 7.603 đối tượng kết nạp Đảng; 2.398 trưởng thôn/trưởng bản; và 6.710 lớp đào tạo cho 588.957 cán bộ đoàn thể.
4. Dữ liệu khảo sát tháng 4/1998 về thanh niên phản ánh thực trạng nhận thức chính trị như thế nào?
Cuộc điều tra dư luận xã hội tháng 4/1998 của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương nêu trong khóa luận chỉ ra thực trạng đáng báo động: 53% thanh niên không quan tâm đến chính trị; 66% không thấy sự cần thiết của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản; 65% không quan tâm đến các vấn đề xã hội; trong khi đó 76% người được hỏi khẳng định cần tăng cường giáo dục chính trị, đạo đức cho thanh niên học sinh.
5. Tác giả đề xuất những giải pháp giáo dục cụ thể nào trong nhà trường để nâng cao chất lượng công tác tư tưởng cho học sinh, sinh viên?
Tác giả đề xuất: khôi phục kỳ thi Tốt nghiệp quốc gia môn Chính trị trong các trường đại học, cao đẳng; quy định thi Tốt nghiệp phổ thông bắt buộc đối với các môn Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân; tổ chức định kỳ cho sinh viên đi thực tế địa phương; đổi mới nội dung sinh hoạt Đoàn – Hội gắn với các phong trào hành động cách mạng; và quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Giáo dục công dân.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Thúy Phương đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về công tác tư tưởng. Công trình phân tích sâu sắc thực trạng tình hình tư tưởng và kết quả lãnh đạo của Đảng từ Đại hội VI (1986) đến giai đoạn Đại hội IX (2001–2005), chỉ rõ những thành tựu đạt được cũng như các hạn chế, yếu kém nảy sinh từ mặt trái cơ chế thị trường. Trên cơ sở các nghị quyết của Trung ương, tác giả đã làm rõ 6 nhiệm vụ, 6 giải pháp chủ yếu và đề xuất các kiến nghị thiết thực nhằm đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho thế hệ trẻ trong các nhà trường.