Tổng quan luận án
Công trình khoa học mang tên "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác báo chí từ năm 1986 đến năm 2006" là luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62.01), do nghiên cứu sinh Vũ Ngọc Lương thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trình Mưu (giai đoạn 2008–2012) và PGS.TS. Ngô Đăng Tri (giai đoạn 2012–2014).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Báo chí cách mạng Việt Nam hình thành từ năm 1925 với sự ra đời của báo Thanh Niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Trải qua các thời kỳ lịch sử, báo chí luôn giữ vai trò cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, tổ chức xã hội và là diễn đàn của nhân dân. Bước vào công cuộc đổi mới toàn diện từ năm 1986, hoạt động báo chí phát triển nhanh chóng về số lượng, loại hình và công nghệ, đóng góp vào việc tuyên truyền đường lối và phản ánh đời sống xã hội. Tuy nhiên, hoạt động này cũng bộc lộ những hạn chế như biểu hiện chệch hướng tư tưởng, chưa bám sát nhiệm vụ chính trị, khuynh hướng thương mại hóa và thực dụng. Tác giả luận án chỉ ra nguyên nhân sâu xa là nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí chưa theo kịp bước phát triển nhanh chóng và phức tạp của thực tiễn. Việc nghiên cứu, phục dựng và tổng kết lịch sử sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí trong 20 năm đầu thời kỳ đổi mới (1986–2006) là một yêu cầu cấp thiết nhằm làm rõ thành tựu, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm phục vụ công tác báo chí trong giai đoạn mới.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là phục dựng một cách hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo công tác báo chí của Đảng trong 20 năm đầu thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế (1986–2006); qua đó làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự phát triển của báo chí và rút ra những kinh nghiệm lịch sử.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 5 điểm:
- Khái quát diện mạo báo chí Việt Nam và công tác báo chí của Đảng trước năm 1986, xác định các yêu cầu đối với sự lãnh đạo của Đảng khi bước vào thời kỳ đổi mới.
- Hệ thống hóa chủ trương của Đảng về công tác báo chí từ năm 1986 đến năm 2006 trên ba mặt: định hướng tư tưởng chính trị và nội dung thông tin; công tác cán bộ; công tác kiểm tra, giám sát hoạt động báo chí.
- Phục dựng khách quan diễn trình lịch sử sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác báo chí từ năm 1986 đến năm 2006.
- Đưa ra nhận xét về ưu điểm, hạn chế, lý giải nguyên nhân và đúc kết kinh nghiệm về hoạch định chủ trương cũng như chỉ đạo thực hiện công tác báo chí.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác báo chí và hoạt động của hệ thống báo chí dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước từ năm 1986 đến năm 2006.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào ba nội dung cốt lõi: hoạch định chiến lược phát triển và định hướng thông tin, tuyên truyền; công tác tổ chức cán bộ; chỉ đạo xây dựng hệ thống pháp luật về quản lý báo chí kết hợp kiểm tra, uốn nắn các sai phạm, lệch lạc.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1986 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI mở đầu công cuộc đổi mới) đến năm 2006 (kết thúc nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX). Khoảng thời gian này được chia thành 2 giai đoạn: 1986–1996 (mười năm đầu đổi mới) và 1996–2006 (mười năm đầu đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế), lấy mốc phân kỳ là Đại hội VIII (1996).
- Phạm vi không gian: Trên phạm vi cả nước, tập trung khảo sát ở cấp vĩ mô và một số cơ quan báo chí lớn ở Trung ương.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân tích, phân loại các công trình nghiên cứu đã công bố theo hai nhóm vấn đề chính:
Các công trình nghiên cứu về vấn đề chung của báo chí
- Về lý luận báo chí và tuyên truyền: Công trình của Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (1995); Tô Huy Rứa (1995); Ngọc Đản (1995); Tạ Ngọc Tấn (1996); Lê Khả Phiêu (1996); Đào Anh San (1997); Hà Minh Đức (chủ biên, 1997); Nguyễn Thành (1998) nghiên cứu về sự nghiệp báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Trần Quang Nhiếp (2005) về vai trò của báo chí trong đấu tranh chống tham nhũng. Bên cạnh đó là các sách chuyên khảo dịch từ nước ngoài về nghiệp vụ và lý luận báo chí của Grabennhicốp (2000), G. Lazutina (2003), E. Prokhorop (2004), V. Vorosilop (2004), X. Mikhailop (2004).
- Về thực trạng và lịch sử báo chí: Tuyển tập Báo chí qua mấy năm đổi mới – Theo dòng thời cuộc (1995); các bài viết của Phạm Quang Nghị (1997), Lê Khả Phiêu (1999), Tạ Ngọc Tấn (2000, 2005, 2007), Phan Quang (2001), Nguyễn Đức Bình (2001), Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Hội Nhà báo Việt Nam (2001), Hoàng Yến (2003), Hồng Vinh (2004), Lê Thanh Bình (2005), Phạm Duy Đức cùng nhóm tác giả (2010), Đào Duy Quát – Đỗ Quang Hưng – Vũ Duy Thông (đồng chủ biên, 2010) với công trình tổng quan lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam 1925–2010, Nguyễn Văn Dững (2011), và số liệu cập nhật của tác giả Quang Trí (2013).
- Các luận án, luận văn liên quan: Luận án tiến sĩ của Chu Thái Thành (2000), Nguyễn Văn Trung (2012); luận văn thạc sĩ của Trần Hùng (2001), Chử Kim Hoa (2003), Vũ Đình Thường (2004), Bùi Thị Thu Thanh (2008).
Các công trình đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí thời kỳ 1986–2006
Nhóm này gồm các bài viết, chuyên khảo của Hà Xuân Trường (1995), Đỗ Mười (1997), Trần Quang Nhiếp (2002), Nguyễn Khoa Điềm (2002), Trần Thị Hiền (2002), Nông Đức Mạnh (2003), Lê Thanh Bình (2004), Nguyễn Vũ Tiến (2005, 2010), Chu Thái Thành (2005), Lam Thanh (2005), Hồng Vinh (2005, 2006, 2007), Văn Hùng (2006), Ban Tuyên giáo Trung ương (2007, sơ kết Thông báo 162-TB/TW), Trần Đăng Tuấn (2007), Đào Duy Quát (2007), Hoàng Quốc Bảo (2010), Nguyễn Thế Kỷ (2010, 2012), Đỗ Quý Doãn (2010), Nguyễn Khiêm (2011). Cùng với đó là các luận văn, luận án và đề tài khoa học của Trần Bá Dung (2000), Hoàng Tiến Phúc (2000), Nguyễn Vũ Tiến (2003), Ngô Mạnh Hà (2004), Tô Quang Phán (2008), Nguyễn Thị Minh Huế (2009).
Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án
Các công trình đi trước đã cung cấp cơ sở lý luận, dữ liệu lịch sử về diện mạo báo chí qua các thời kỳ và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý báo chí. Tuy nhiên, tác giả luận án chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu: chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu và phục dựng toàn diện quá trình lãnh đạo của Đảng đối với công tác báo chí giai đoạn 1986–2006 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam một cách có hệ thống, chuyên sâu qua cả hai giai đoạn 1986–1996 và 1996–2006.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên nền tảng:
- Chủ nghĩa Mác – Lênin về báo chí cách mạng: Quan điểm của Ph. Ăng-ghen về tính chính trị không thể tách rời của báo chí và nhiệm vụ bảo vệ đòi hỏi của Đảng cách mạng; nguyên lý của V.I. Lênin xác định báo chí là bộ phận trong sự nghiệp chung của giai cấp vô sản.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng: Xác định báo chí là vũ khí chiến đấu phò chính trừ tà; cán bộ báo chí là chiến sĩ cách mạng, ngòi bút là vũ khí sắc bén và bài báo là tờ hịch cách mạng.
- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đường lối, chủ trương về vai trò, nhiệm vụ và nguyên tắc lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với báo chí trong thời kỳ đổi mới.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: Được sử dụng để mô tả, tái hiện diễn trình các sự kiện lịch sử về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với công tác báo chí qua hai giai đoạn 1986–1996 và 1996–2006.
- Phương pháp logic: Được sử dụng chủ yếu trong việc phân tích, tổng kết, đánh giá các sự kiện, luận giải nguyên nhân và rút ra các quy luật, bài học kinh nghiệm qua chặng đường 20 năm.
- Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh tư liệu và khảo sát thực tế.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Hệ thống văn kiện của Đảng và Nhà nước từ năm 1986 đến năm 2006 (Đại hội VI đến Đại hội IX), bao gồm các nghị quyết Đại hội, nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, chỉ thị, kết luận, thông báo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, văn bản chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước liên quan đến quản lý báo chí.
- Báo cáo tổng kết định kỳ và chuyên đề của các cơ quan Đảng, cơ quan quản lý Nhà nước và Hội Nhà báo Việt Nam.
- Các công trình nghiên cứu chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo khoa học, bài báo đăng trên các tạp chí lý luận (Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Tư tưởng – Văn hóa, Tạp chí Lý luận chính trị, Tạp chí Người làm báo...).
- Kết quả điều tra khảo sát và các đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan của chính tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có tổng độ dài 213 trang (phần nội dung chính 150 trang), được cấu trúc thành phần Mở đầu (5 trang), 4 chương nội dung (128 trang, gồm 8 tiết), phần Kết luận và kiến nghị (3 trang), Danh mục công trình khoa học của tác giả (1 trang), Danh mục tài liệu tham khảo (11 trang) và Phụ lục (63 trang).
Bố cục cấu trúc luận án:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các ấn phẩm khoa học trong và ngoài nước liên quan đến báo chí và sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí. Tác giả phân tích các kết quả có thể kế thừa về mặt lý luận, phương pháp luận và dữ liệu lịch sử; đồng thời chỉ ra yêu cầu phải nghiên cứu một cách chuyên sâu, có hệ thống dưới góc độ Lịch sử Đảng để phục dựng bức tranh toàn cảnh về công tác báo chí từ năm 1986 đến năm 2006.
Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác báo chí trong mười năm đầu thời kỳ đổi mới (1986 - 1996)
Chương 2 trình bày thực trạng báo chí trước năm 1986 và diễn trình chủ trương, chỉ đạo của Đảng trong 10 năm đầu đổi mới:
- Thực trạng trước năm 1986: Sau năm 1975, Hội Nhà báo Việt Nam được hợp nhất vào ngày 07-7-1976 (đồng chí Hoàng Tùng làm Chủ tịch Hội ở miền Bắc, đồng chí Tân Đức làm Chủ tịch Hội ở miền Nam). Nhiều cơ quan báo chí hợp nhất (báo Cứu quốc và báo Giải phóng thành báo Đại đoàn kết; báo Phụ nữ giải phóng và Phụ nữ Việt Nam hợp nhất; tuần báo Văn nghệ thống nhất). Hệ thống báo chí tăng từ hơn 130 tờ năm 1975 lên 241 tờ năm 1986; số hội viên Hội Nhà báo tăng từ hơn 3.000 người (năm 1983) lên 4.864 người với 205 chi hội (tính đến ngày 30-6-1986).
- Chủ trương của Đảng (1986–1996):
- Đại hội VI (12-1986) xác định báo chí là tiếng nói của Đảng và diễn đàn của quần chúng, yêu cầu khắc phục tính đơn điệu, một chiều, tăng cường tính chiến đấu, cổ vũ nhân tố mới và chống tiêu cực.
- Kết luận 20-NQ/TW (26-11-1988) và Chỉ thị 52-CT/TW (08-6-1989) định hướng thông tin trung thực, kiện toàn phê bình văn học nghệ thuật trên báo chí.
- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa VI số 07-NQ/TW (24-8-1989) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VI (03-1990) định hướng thông tin trước biến động chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa; Chỉ thị 63-CT/TW (25-7-1990) của Ban Bí thư chỉ rõ nguyên tắc lãnh đạo, quản lý và tổ chức Đảng trong cơ quan báo chí.
- Đại hội VII (06-1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, khẳng định bảo đảm quyền thông tin và tự do sáng tạo. Thông báo 252-TB/TW (24-4-1991), Nghị quyết 01-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VII số 02-NQ/HNTW (04-12-1991), Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII số 03-NQ/HNTW (29-6-1992), Thông báo 80-TB/TW (13-7-1994) về báo Nhân Dân, và Nghị quyết 09-NQ/TW của Bộ Chính trị (18-2-1995) tiếp tục định hướng tư tưởng, bảo vệ an ninh quốc gia, chống "diễn biến hòa bình".
- Chỉ thị số 08-CT/TW (31-3-1992) của Ban Bí thư là văn bản đầu tiên chỉ rõ khuyết điểm "thương mại hóa, chạy theo lợi nhuận đơn thuần", đồng thời chủ trương sắp xếp lại mạng lưới báo chí và quy hoạch đào tạo cán bộ báo chí đến năm 2000.
- Chỉ đạo thực hiện: Đảng tập trung định hướng tư tưởng chính trị, cung cấp thông tin chính thống về công cuộc đổi mới; kiện toàn công tác cán bộ (bổ nhiệm tổng biên tập, biên soạn lại giáo trình nghiệp vụ); chỉ đạo xây dựng thể chế quản lý (Luật Báo chí) và kiểm tra, xử lý các sai phạm về khuynh hướng thông tin.
Chương 3: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác báo chí trong mười năm đầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (1996 - 2006)
Chương 3 làm rõ sự lãnh đạo của Đảng trước những biến chuyển mới:
- Yêu cầu mới: Đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế theo tinh thần Đại hội VIII (1996) và Đại hội IX (2001); sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin, mạng Internet, báo điện tử; sự phân hóa lợi ích xã hội và nguy cơ xâm nhập của các luồng thông tin độc hại.
- Chủ trương và chỉ đạo: Đảng ban hành các văn bản chỉ đạo định hướng thông tin tuyên truyền các mục tiêu kinh tế - xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng; ban hành các quy định quản lý báo chí điện tử và xuất bản; thực hiện các Thông báo kết luận của Bộ Chính trị (như Thông báo 162-TB/TW, Thông báo 41-TB/TW, Thông báo 68-TB/TW); rà soát quy hoạch hệ thống báo chí, tạp chí chuyên ngành; nâng cao trách nhiệm chính trị của người đứng đầu cơ quan báo chí và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với báo chí theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Chương 4 tổng kết thực tiễn 20 năm lãnh đạo:
- Ưu điểm: Hệ thống báo chí phát triển toàn diện về quy mô, loại hình và công nghệ; phát huy vai trò xung kích trên mặt trận tư tưởng, tuyên truyền đường lối đổi mới, tham gia tích cực vào đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Nguyên nhân ưu điểm là sự kiên định các nguyên tắc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng.
- Hạn chế: Một số cơ quan báo chí còn biểu hiện xa rời tôn chỉ mục đích, chệch hướng tư tưởng, chạy theo thị hiếu tầm thường, giật gân, thương mại hóa; công tác quản lý và kiểm tra có lúc còn bị động, lúng túng. Nguyên nhân hạn chế là do nhận thức của một số cấp ủy chưa đầy đủ, cơ chế quản lý chậm hoàn thiện, trình độ và bản lĩnh của một bộ phận người làm báo còn hạn chế.
- Bài học kinh nghiệm: Luận án đúc kết các kinh nghiệm chủ yếu:
- Trong hoạch định chủ trương: Phải giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với báo chí; gắn việc phát triển báo chí với nhiệm vụ chính trị của đất nước; chủ động dự báo tình hình tư tưởng.
- Trong chỉ đạo thực hiện: Kết hợp chặt chẽ sự lãnh đạo của Đảng với sự quản lý bằng pháp luật của Nhà nước; đặc biệt coi trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ phụ trách cơ quan báo chí; duy trì nền nếp giao ban báo chí định kỳ và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát.
Bảng tổng hợp số liệu diện mạo và sự phát triển báo chí Việt Nam trích xuất từ văn bản
| Tiêu chí thống kê |
Giai đoạn trước đổi mới (1975–1986) |
Giai đoạn cập nhật trong tổng quan (Đầu 2013) |
| Tổng số cơ quan báo chí / tờ báo |
130 tờ (năm 1975) lên 241 tờ (năm 1986) |
812 cơ quan báo chí (197 báo in, 615 tạp chí) |
| Báo in (Trung ương / Địa phương) |
Văn bản không phân tách cụ thể số liệu TW/ĐP |
84 báo Trung ương, 113 báo địa phương |
| Tạp chí (Trung ương / Địa phương) |
Văn bản không phân tách cụ thể số liệu TW/ĐP |
488 tạp chí Trung ương, 127 tạp chí địa phương |
| Loại hình điện tử, trang tin |
Chưa xuất hiện |
74 báo/tạp chí điện tử, 336 mạng xã hội, 1.174 trang tin điện tử tổng hợp |
| Đội ngũ người làm báo được cấp thẻ |
Văn bản không nêu số thẻ cụ thể |
Gần 17.000 người làm báo chuyên nghiệp |
| Số lượng hội viên Hội Nhà báo Việt Nam |
Hơn 3.000 (năm 1983) lên 4.864 hội viên (30-6-1986) |
Hơn 19.000 hội viên sinh hoạt trong các cấp hội |
| Số lượng chi hội Hội Nhà báo cơ sở |
130 chi hội (năm 1983) lên 205 chi hội (30-6-1986) |
Văn bản không nêu cụ thể tổng số chi hội |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp chủ yếu và ý nghĩa khoa học:
- Cơ sở lý luận và thực tiễn: Xác định tính tất yếu và sự cần thiết phải đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác báo chí khi đất nước chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN.
- Hệ thống hóa chủ trương: Tập hợp và hệ thống hóa toàn diện các quan điểm, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng về báo chí qua hai giai đoạn 1986–1996 và 1996–2006 trên các mặt tư tưởng, tổ chức cán bộ và kiểm tra giám sát.
- Phục dựng lịch sử: Cung cấp nguồn tư liệu và sự kiện lịch sử chân thực, phong phú về quá trình chỉ đạo thực hiện công tác báo chí của Đảng trong 20 năm đầu thời kỳ đổi mới.
- Đánh giá khách quan: Nhận diện rõ ràng các thành tựu và hạn chế trong công tác báo chí của Đảng thời kỳ 1986–2006, chỉ rõ nguyên nhân khách quan và chủ quan.
- Đúc kết kinh nghiệm: Rút ra các bài học lịch sử về hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực tiễn, tạo cơ sở tham khảo cho việc hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng và chính sách quản lý nhà nước đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở cấp vĩ mô và các cơ quan báo chí lớn ở Trung ương; phạm vi thời gian dừng lại ở năm 2006 (thời điểm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội IX); các số liệu khảo sát thực tiễn dừng ở độ lùi nghiên cứu năm 2014. Luận án chưa đi sâu vào từng trường hợp cơ quan báo chí địa phương hoặc các cơ quan báo chí ngành đặc thù.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan báo chí cấp địa phương; nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với các loại hình truyền thông xã hội, truyền thông đa phương tiện mới phát triển mạnh mẽ từ sau năm 2006 đến nay.
Giá trị tham khảo
Luận án là nguồn tư liệu khoa học hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo chí học, Tuyên giáo, Quản lý văn hóa và Truyền thông đại chúng sử dụng làm tài liệu tham khảo trong học tập và nghiên cứu lịch sử báo chí.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu: Tham khảo khung phân tích lịch sử, hệ thống văn kiện Đảng về báo chí và phương pháp phục dựng diễn trình lịch sử công tác tư tưởng.
- Cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí: Cung cấp cơ sở thực tiễn và các bài học kinh nghiệm cho Ban Tuyên giáo các cấp, Bộ Thông tin và Truyền thông, các cơ quan chủ quản và Hội Nhà báo Việt Nam trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo, hoàn thiện chính sách, pháp luật về báo chí.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân kỳ quá trình lãnh đạo công tác báo chí của Đảng giai đoạn 1986–2006 như thế nào?
Luận án chia khoảng thời gian 20 năm nghiên cứu thành hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (1986–1996): Mười năm đầu thời kỳ đổi mới, bắt đầu từ Đại hội VI (12-1986) đến trước Đại hội VIII (1996).
- Giai đoạn 2 (1996–2006): Mười năm đầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, từ Đại hội VIII (1996) đến kết thúc nhiệm kỳ Đại hội IX (2006).
2. Sự kiện hợp nhất tổ chức Hội Nhà báo Việt Nam sau năm 1975 được văn bản ghi nhận ra sao?
Ngày 07-7-1976, Hội nghị hợp nhất Hội Nhà báo Việt Nam (ở miền Bắc, do đồng chí Hoàng Tùng làm Chủ tịch) và Hội Nhà báo yêu nước và dân chủ miền Nam Việt Nam (do đồng chí Tân Đức làm Chủ tịch) được tổ chức, thống nhất tên gọi chung là Hội Nhà báo Việt Nam, hoạt động trên phạm vi cả nước. Cùng thời kỳ này, một số tờ báo hai miền hợp nhất như báo Cứu quốc và Giải phóng thành báo Đại đoàn kết, báo Phụ nữ giải phóng và Phụ nữ Việt Nam hợp nhất, báo Văn nghệ giải phóng sáp nhập với tuần báo Văn nghệ.
3. Quy mô hệ thống báo chí Việt Nam trước thềm đổi mới (1976–1986) phát triển như thế nào?
Theo số liệu trong văn bản, số lượng cơ quan báo chí từ hơn 130 tờ năm 1975 đã tăng lên 241 tờ vào năm 1986. Đội ngũ hội viên Hội Nhà báo phát triển từ hơn 3.000 hội viên với 130 chi hội cơ sở (năm 1983) lên 4.864 hội viên với 205 chi hội cơ sở (tính đến ngày 30-6-1986).
4. Văn kiện nào của Đảng lần đầu tiên chỉ ra khuyết điểm thương mại hóa trong hoạt động báo chí?
Chỉ thị số 08-CT/TW ngày 31-3-1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII (Về tăng cường sự lãnh đạo và quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác báo chí, xuất bản) là văn bản đầu tiên chỉ rõ khuynh hướng "thương mại hóa, chạy theo lợi nhuận đơn thuần" là hạn chế nghiêm trọng của hoạt động báo chí trong nền kinh tế thị trường, đồng thời đề ra chủ trương sắp xếp lại hệ thống báo chí.
5. Dung lượng và cấu trúc trang của luận án được phân bổ như thế nào?
Luận án có tổng độ dài 213 trang, trong đó phần nội dung chính gồm 150 trang (4 chương, 8 tiết chiếm 128 trang; phần Mở đầu 5 trang; phần Kết luận và kiến nghị 3 trang). Các phần phụ trợ gồm Danh mục công trình tác giả (1 trang), Tài liệu tham khảo (11 trang) và Phụ lục (63 trang).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Ngọc Lương đã phục dựng có hệ thống quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác báo chí trong 20 năm đầu đổi mới (1986–2006). Công trình làm rõ các chủ trương về định hướng tư tưởng, công tác cán bộ và kiểm tra giám sát, đồng thời đánh giá khách quan thành tựu, hạn chế của hệ thống báo chí trong bối cảnh chuyển đổi cơ chế quản lý. Các bài học kinh nghiệm được rút ra từ luận án cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử và thực tiễn phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý báo chí trong giai đoạn hiện nay.