Chương 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nha nước của dân, do dân, vi dân. Tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh. 11 NOI DUNG CHUONG 1.
TU TUONG HO CHI MINH VE NHA NUOC CUA DAN, DO DAN, VI DAN 1. Nguồn gốc và qua trình hình thành tư tưởng Hồ Chi Minh về nha nước 1. Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hỗ Chi Minh về nhà nước Lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam gắn liền với những cuộc đấu tranh quyết liệt chống thù trong giặc ngoài và mỗi khi Tổ quốc bị lâm nguy, thì non sông đất nước lại sản sinh ra những anh hùng kiệt xuất, đáp ứng được yêu cầu của lịch sử. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, ra đời do yêu cầu khách quan đáp ứng được những yêu cầu bức thiết do cách mạng Việt Nam đặt ra: Vào giữa thế ky XIX (1858), thực dân pháp nỗ súng xâm lược nước ta, vua quan nhà Nguyễn đã quỳ gối đầu hàng, nước ta trở thành thuộc địa của Pháp.
Nhân dân ta căm hờn quyết đứng lên đấu tranh, khởi nghĩa giành chính quyền, song vì chưa có đường lối đúng đắn nên cách mạng bị dim trong biển máu. Những chủ trương cứu nước của cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đều không thành, con đò cách mạng Việt Nam dường như trong đêm tối không có đường ra, chưa rõ bến bờ. Ngày 7 tháng 11 năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga thành công, thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga cùng sự ra đời của Nhà nước Xô Viết đầu tiên, đã thúc đây mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc thế giới. Chính lúc đó Nguyễn Tat Thành xuất hiện, vượt lên những hạn chế của các nhà yêu nước đương thời.
Người đến với chủ nghĩa Mác - Lénin, tư tưởng tiên tiến nhất của thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh trí tuệ của dân tộc và thời đại, là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Việc xác định nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chi Minh là van đề có ý nghĩa quan trọng 12 dé hiểu bản chất tư tưởng Hồ Chi Minh, mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin và các học thuyết chính trị - xã hội khác. Trên cơ sở nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta có thê thấy được nguồn gốc hình thành nhà nước dựa trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn.
Về cơ sở lý luận là dựa trên quan điểm của triết học mác - lênin vé sự ra đời của nhà nước. Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc nhà nước được trình bày chủ yếu trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước” (Ănghen). Được bồ xung và phát triển trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” (Lénin). Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin: Nhà nước là một phạm trù lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong.
Nhà nước nay sinh trong đời sống xã hội, xuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến một trình độ nhất định. Học thuyết Mác - Lênin chỉ rõ: Chế độ CXNT là hình thái KT - XH đầu tiên của XH loài người, chưa có giai cấp, chưa có nhà nước, nhưng quá trình vận động và phát triển của nó đã làm xuất hiện những tiền đề vật chất cho sự tan rã của tô chức thị tộc, bộ lạc và sự ra đời của nhà nước. Trong quá trình sống, lao động sản xuất, con người phát triển hơn về thé chất và trí lực: Cau trúc giác quan ngày càng hoàn thiện, họ hiểu biết hơn về các quy luật tự nhiên và xã hội, tích luỹ nhiều công cụ sản xuất và cải tiến công cụ lao động đã làm cho năng xuất lao động không ngừng tawng lên. Hoạt động kinh tế của xã hội trở nên đa dạng, doi hỏi sự chuyên môn hoá cao về lao động.
Ba lần phân công lao động xã hội vào cuối thời kỳ CXNT: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt; thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp; thương nghiệp xuất hiện đã làm cho sản phẩm làm ra ngày càng dư 13 thừa. Quá trình tư hữu diễn ra, chế độ tư hữu hình thành. Chế độ hôn nhân một vợ một chồng xuất hiện, trở thành đơn vị kinh tế độc lập có tài sản riêng. Những biến đổi về mặt kinh tế của XH CXNT làm cho cộng đồng dân cư thuần nhất của thị tộc bộ lạc phân hoá thành các bộ phận đối lập nhau về mặt lợi ích xã hội, hình thành hai giai cấp chính là giai cấp bóc lột va giai cấp bị bóc lột.
Điều kiện KTXH vốn là cơ sở cho sự tổn tai của chế độ CXNT bị phá vỡ, quyền lực xã hội và hệ thống quản lý do toàn thể các thành viên trong cộng đồng tô chức ra để bảo vệ lợi ích của các thành viên bình dang nay không còn thích hợp với xã hội đã phân hoá và mâu thuẫn gay gắt về lợi ích. Đề duy trì trật tự và quản lý một xã hội đã có những thay đổi rất căn bản đòi hỏi phải có một tổ chức và quyền lực mới, tổ chức này do giai cấp nắm ưu thế về kinh tế và chính trị lập ra - đó chính là nhà nước. Chế độ CXNT tan rã, nhà nước ra đời là kết quả sự vận động, phát triển nội tại của xã hội loài người. Tiền đề KT của sự ra đời nhà nước là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất; Tiền đề xã hội của sự ra đời nhà nước là sự phân hoá xã hội thành các giai cấp, tầng lớp có lợi ích đối lập nhau và mâu thuẫn gay gắt đến mức không thê điều hoà được.
Tiền đề XH là kết quả tất yêu của tiền dé KT. Như vậy, nhà nước là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, xuất hiện từ khi XH loài người bị phân chia thành những giai cấp đối kháng là bộ máy do giai cấp năm quyên thống trị về kinh tế, chính trị, xã hội lập ra để điều hành toàn bộ hoạt động của xã hội trong một nước với mục đích là bảo vệ quên lợi của giai cấp thống trị. Về cơ sở thực tiễn, qua việc khảo sát mô hình các kiểu nhà nước trong lịch sử người đã thấy sự bat lực và lạc hậu của thé chế chính trị phong kiến và mặt trái của thê chế chính trị tư sản, thé hiện sự bóc lột người dân lao động ở 14 chính quốc cũng như các nước thuộc địa, do đó người không thé lựa chọn mô hình thé chế phong kiến va tư sản. Trong quá trình hoạt động cách mạng và học tập những lý luận bên ngoài, Hồ Chí Minh chú ý khảo cứu lựa chọn ra một kiểu nhà nước mới cho Việt Nam để xây dựng sau khi cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản thành công.
Nhà nước đó phải đại biéu quyền lợi cho số đông người và Hồ Chi Minh đã chủ trương xây dựng một Nhà nước công nông binh thể hiện trong Chánh cương vắn tắt của Đảng khi thành lập Đảng đầu năm 1930. Hồ Chí Minh đã từng có chủ trương xây dựng ở Việt Nam một nhà nước Dân chủ Cộng hòa, một nhà nước do nhân dân lao động làm chủ, nhà nước của dân, do dân, vì đânNgoài ra phải kế đến những yêu tố khác đó cũng là cơ sở dé hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh. Một là, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Dân tộc Việt Nam trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, đã kết tinh cho mình một ban sắc văn hóa riêng, phong phú và bền vững, với những truyền thống tốt đẹp. Trong đó tinh thần yêu nước đã trở thành đạo lý sống, niềm tự hào và là nhân tố đứng dau trong bảng giá trị tinh thần của con người Việt Nam.
Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường bat khuất, tinh thần tự lực, tự cường, được các thế hệ người Việt thé hiện trong các cuộc dau tranh dựng nước và giữ nước. Đó không chi là một tình cảm, một phẩm chất, mà đã phát triển thành một chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc chân chính, thành dòng tư tưởng chảy xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam. Nguyễn Tất Thành đã được hun đúc bởi chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước ấy. Người đã vượt qua bao khó khăn gian khổ để hoàn thành sứ mệnh được giao phó.
Chính từ thực tiễn, Người đã rút ra chân lý: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn nó nhấn chìm tat cả lũ bán nước va lũ cướp nước”.[ 30,171] 15 Truyền thống yêu nước ấy đã thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Trong khoảng 10 năm sau đó (từ 1911 đến 1920), Người đã vượt qua ba đại dương, bốn châu lục đặt chân đến gần 30 nước trên thế giới, làm nhiều nghề dé sống và hoạt động: làm phụ bếp, đốt lò, quét tuyết, phóng ảnh, viết báo,.và rồi Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, một chiến sĩ Quốc tế.
Người viết: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lénin, tin theo Quốc tế IH”.[4,128] Người tâm đắc một hoài bão: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tot bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoản toan tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành ”.[28, 161] Hai là, tinh hoa văn hóa nhân loại Ngay từ thuở nhỏ, Nguyễn Tất Thành đã ham học hỏi, thích tìm hiểu nghiên cứu. Trên bước đường cứu nước, Người đã tiếp thu, kế thừa có chọn lọc và làm giàu vốn trí tuệ của mình bằng những tinh hoa triết học, văn hóa Đông - Tây - Kim cổ, như những dòng suối trong lành hợp thành dòng hải lưu vĩ đại. Bày tỏ thái độ của mình về một số học thuyết và tôn giáo, Người viết: “Học thuyết của Không Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả.
Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó thích ứng với điều kiện nước ta.