Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập, ngành du lịch Việt Nam định hướng phát triển các loại hình du lịch nhân văn và sinh thái dựa trên nguồn tài nguyên di sản văn hóa phong phú. Sự gia tăng áp lực từ nhịp sống đô thị và công nghiệp tạo nên nhu cầu chuyển dịch du lịch về các vùng ngoại thành thông qua loại hình du khảo đồng quê, tìm hiểu văn hóa làng xã cổ truyền vùng đồng bằng Bắc Bộ. Làng Cổ Loa (xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) là địa bàn đặc biệt với hai lần được chọn làm kinh đô của đất nước (thời kỳ nhà nước Âu Lạc dưới triều Thục Phán An Dương Vương vào thế kỷ III TCN và thời kỳ phục hồi nền tự chủ dưới triều Ngô Quyền ở thế kỷ X). Nơi đây lưu giữ hệ thống di tích dày đặc, lễ hội truyền thống quy mô liên làng ("Bát xã hộ nhi") cùng hệ thống phong tục tập quán lâu đời, đồng thời đang trải qua quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa mạnh mẽ, chuyển dịch cơ cấu từ kinh tế thuần nông sang công - thương nghiệp và dịch vụ.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm hai nội dung:

  1. Làm rõ các giá trị lịch sử - văn hóa của làng Cổ Loa có tiềm năng phục vụ phát triển du lịch, bao gồm hệ thống di tích vật thể (đình, đền, am, chùa, thành quách, giếng ngọc, văn chỉ, nhà bia) và các giá trị văn hóa phi vật thể (tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán, lễ hội truyền thống, nghề ẩm thực địa phương).
  2. Đưa ra các luận cứ khoa học thực tiễn nhằm giúp chính quyền xã Cổ Loa và các ban ngành liên quan của huyện Đông Anh (thành phố Hà Nội) tham khảo, ứng dụng vào công tác quy hoạch, bảo tồn di sản gắn với khai thác du lịch bền vững, nâng cao đời sống kinh tế và ý thức cộng đồng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ hệ thống di tích lịch sử - văn hóa vật thể, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng và phong tục tập quán của làng Cổ Loa có giá trị khai thác phát triển du lịch.
  • Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu tại làng Cổ Loa, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; mở rộng khảo sát sơ bộ mối liên hệ không gian văn hóa tại một số làng và di tích phụ cận trong vùng.
  • Phạm vi thời gian: Khảo cứu tiến trình lịch sử từ thời tiền - sơ sử đến thời điểm nghiên cứu (năm 2011), trọng tâm là các thành tố văn hóa truyền thống đang tồn tại và được lưu giữ trong đời sống đương đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn di sản văn hóa và phát triển ngành kinh tế du lịch.

Tác giả vận dụng phương pháp tiếp cận liên ngành giữa Văn hóa học, Sử học và Dân tộc học:

  • Phương pháp điền dã dân tộc học: Là phương pháp then chốt để thu thập tư liệu thực tế tại địa bàn thông qua quan sát tham dự, phỏng vấn sâu các nghệ nhân làm nghề truyền thống (bà Học ở xóm Chùa, bà Nha, bà Hiền ở xóm Dõng), thủ từ trông coi di tích (cụ Nguyễn Văn An xóm Chùa), các bô lão cao niên và cán bộ Ban Quản lý Di tích Cổ Loa, Ủy ban nhân dân xã Cổ Loa.
  • Phương pháp hệ thống và phân tích - tổng hợp: Xử lý, phân loại các di sản vật thể và phi vật thể nhằm đánh giá giá trị khoa học, lịch sử, nghệ thuật và khả năng chuyển hóa thành sản phẩm du lịch.

Nguồn tư liệu của khóa luận bao gồm:

  • Tư liệu khảo sát thực địa điền dã thu thập tại địa phương qua các đợt nghiên cứu.
  • Nguồn thư tịch lịch sử, địa chí và công trình nghiên cứu khảo cổ học, lịch sử, văn hóa đã công bố của các học giả: Đào Duy Anh, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Doãn Tuân, Ngô Vi Liễn, R. Despierres, Cl. Madrolle...
  • Hệ thống văn bản Hán Nôm: Thần phả, văn bia ("Tạo lập thạch bi" năm 1710, "Pháp điện sắc lệnh" năm 1708, bia lệnh chỉ năm 1604 của Bình An Vương Trịnh Tùng), câu đối, hoành phi tại các di tích; tư liệu hương ước làng Cổ Loa qua các thời kỳ (bản hương ước lập các năm 1875, 1891, 1898, 1921 và 1942 lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
  • Niên giám thống kê, số liệu hành chính và địa bạ năm 2010 của Ủy ban nhân dân xã Cổ Loa.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu chung về làng Cổ Loa

Chương này trình bày toàn diện bức tranh địa lý, lịch sử hình thành, cơ sở kinh tế và cơ cấu tổ chức xã hội truyền thống của làng Cổ Loa:

  • Địa lý hành chính và điều kiện tự nhiên: Làng Cổ Loa (tên nôm là Chạ Chủ) là một trong 5 thôn của xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội (cùng các thôn Cầu Cả, Mạch Tràng, Thư Cưu, Sàn Giã). Làng nằm ven Quốc lộ 3, cách trung tâm huyện Đông Anh 3 km về phía Nam và cách trung tâm Hà Nội 18 km về phía Bắc. Xã nằm ở tọa độ địa lý giới hạn từ vĩ độ $21^\circ 05'$ đến $21^\circ 15'$ Bắc, kinh tuyến $105^\circ 50'$ đến $105^\circ 55'$ Đông. Cổ Loa tọa lạc tại đỉnh tam giác châu thổ sông Hồng, tiếp giáp sông Cà Lồ ở phía Bắc, sông Đuống và sông Thiếp (Hoàng Giang hay Ngũ Huyện Khê) ở phía Nam. Về lịch sử hành chính, Cổ Loa thuộc tổng Cổ Loa, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc; năm 1876 thuộc huyện Đông Anh; năm 1901 thuộc tỉnh Phù Lỗ (đổi thành tỉnh Phúc Yên năm 1904). Sau năm 1945, làng trải qua các lần sáp nhập mang tên xã Thục Vương, Hồng Lạc, Độc Lập (tỉnh Vĩnh Phúc), xã Quyết Tâm (1956); đến ngày 31/05/1961 chính thức chuyển về Hà Nội theo Quyết định 78-CP của Hội đồng Chính phủ và đổi tên thành xã Cổ Loa vào tháng 10/1965.

  • Sự hình thành, phát triển và biến động dân cư: Địa danh Cổ Loa có nguồn gốc từ việc Hán Việt hóa tên gọi Chạ Chủ, Kẻ Loa, Khả Lũ hay Loa Thành. Khảo cổ học phát hiện công cụ đá cuội ghè đẽo tại các triền gò có niên đại từ 10.000 đến 20.000 năm; các tầng văn hóa phát triển liên tục từ di chỉ Đồng Vông (văn hóa Phùng Nguyên, 4.000 - 3.500 năm TCN), qua di chỉ Xuân Kiều, Tiên Hội, đến di chỉ Đình Tràng (Đình Chàng) và Đường Mây thuộc giai đoạn văn hóa Gò Mun - Đông Sơn. Cổ Loa là kinh đô thời An Dương Vương thế kỷ III TCN và thời Ngô Quyền (939 - 965). Sau loạn 12 sứ quân (966), Cổ Loa trở lại vị thế làng quê. Từ nửa sau thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVII, quá trình tụ cư "chín người, mười làng" hình thành hơn 30 dòng họ chuyển đến từ Thanh Hóa (họ Đào xóm Chợ), Hải Dương (họ Trương xóm Hương), Sơn Nam (họ Nguyễn xóm Gà)... Năm 1926, làng có 2.698 nhân khẩu sinh sống tại 12 xóm. Tính đến năm 2010, toàn xã Cổ Loa có diện tích 802,38 ha, dân số 16.597 người với 4.514 hộ gia đình.

  • Cơ sở kinh tế:

    • Nông nghiệp: Địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, ruộng chiêm chiếm 2/3 diện tích. Phân loại đất gồm: Ruộng dộc (cấy 2 vụ, lúa chiêm Cút, chiêm Bầu, vụ mùa cấy nếp cái, nếp dảnh, năng suất 90 - 100 kg/sào); Ruộng vàn (cấy vụ mùa, lúa Tám thơm, Tám trắng, Dé, năng suất 60 - 70 kg/sào); Đồng cao/đồng màu (ruộng bậc thang cấy Ba Giăng, lúa Di, Dé, xen canh khoai Di năng suất 12 thúng/sào, ngô 3 thúng/sào, thầu dầu, vừng, đỗ); Đồng thấp (sát đầm lũ, năng suất chiêm 40 - 50 kg/sào, mùa 30 kg/sào). Cây trồng bản địa có trám đen (rừng trám xóm Thượng), mít, sung, chè xanh.
    • Nghề thủ công: Nghề làm bún tại Mạch Tràng, Cổ Loa; nghề rèn; đặc biệt là nghề làm "bỏng Chủ" (bỏng mật) truyền thống dùng nếp cái hoa vàng rang nổ, hòa mật mía Mai Lĩnh và nước gừng, ép 15 chày vào khuôn kích thước 37 x 10 x 10 cm, phân thành 3 loại sản phẩm (bỏng thửa, bỏng nặng, bỏng nhẹ).
    • Thương nghiệp: Chợ Sa họp 6 phiên/tháng (ngày 1 và 6 âm lịch). Bản hương ước năm 1942 ghi nhận chợ có 130 gian hàng, thu 79 đồng tiền thuế/năm chia làm 3 hạng (Hạng 1: 40 gian, 1 đồng/gian/năm; Hạng 2: 40 gian, 0,6 đồng/gian/năm; Hạng 3: 50 gian, 0,3 đồng/gian/năm). Chợ được di dời ra vị trí mới gần bến xe Cổ Loa từ năm 2007.
  • Cơ cấu tổ chức và thiết chế xã hội:

    • Thiết chế xóm: Gồm 12 xóm (Thượng, Vang, Chùa, Hương, Chợ, Nhồi Trên, Nhồi Dưới, Gà, Lan Trì, Dõng Trên, Dõng Dưới, Mít). Đội tuần phiên gồm 50 người (4 đốc canh/trương tuần và 46 tuần tráng) bảo vệ an ninh trật tự, hưởng thù lao lúa sương túc hoặc tiền khoán (6 hào/mẫu ruộng).
    • Thiết chế giáp - phe: Làng chia thành 4 giáp gốc (Đông Nhất, Đông Nhì, Đông Tam, Đoài Tự) với 12 phe. Trai đinh 18 tuổi làm Thủ phiên; sau 18 tuổi thực hiện nghĩa vụ "cơm lần cỗ lượt", cấy Đầm Cỗ chuẩn bị lễ vật hội làng; 50 tuổi làm lễ lên Trùm (hoặc Trùm ba); 58 - 59 tuổi tham gia xin keo cử chức Quan đám (Cụ Từ) coi sóc đền Thượng, am Mỵ Châu; 60 tuổi làm lễ lên lão.
    • Bộ máy quản lý: Gồm Hội đồng kỳ mục (đứng đầu là Tiên chỉ, Thứ chỉ) và Bộ máy chức dịch (Lý trưởng, 4 Phó lý, Hộ lại, Chưởng bạ, Thủ quỹ, Trương tuần).
    • Ngôi thứ đình trung: Hương ước 1942 phân chia chỗ ngồi trong đình thành 5 hạng dựa trên phẩm hàm, khoa cử, độ tuổi và ngôi thứ mua.

Chương 2: Các giá trị lịch sử - văn hóa của làng Cổ Loa

Chương này đi sâu khảo sát, phân tích giá trị của các di tích vật thể và thành tố văn hóa phi vật thể tại Cổ Loa:

  • Khu di tích đình, đền, am, giếng, chùa:

    • Đền An Dương Vương (Đền Thượng / Tiên Từ Đệ Nhất): Xây dựng năm Chính Hòa thứ 8 (1687) trên gò đất cao thuộc khu cung thất cũ, trục Linh đạo lát đá xanh. Cổng nghi môn xây cuốn vòm thời Nguyễn, rồng đá thời Lê tại bậc cửa. Bố cục mặt bằng chữ Tam, Đinh, Công, Vương trên diện tích 4.400 m2. Trong đền có tượng đồng An Dương Vương đúc năm Thành Thái thứ 9 (1897) nặng 255 kg, đôi ngựa hồng tạo tác năm Vĩnh Thịnh thứ 12 (1716), văn bia "Tạo lập thạch bi" (1710). Đợt trùng tu năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736) huy động 549 quan 3 mạch 76 tiền công đức. Năm Gia Long thứ 2 (1803), triều đình quy định 79 dân phu làng Cổ Loa phục dịch trông coi đền.
    • Đình Cổ Loa (Đình Ngự triều di quy): Dựng trên khu đất rộng 2.530 m2 tại góc Đông Nam thành Nội, tương truyền mua lại khung nhà gỗ từ làng Bồng Mạc (xã Liên Mạc, huyện Mê Linh), khánh thành ngày 12 tháng 3 năm Thành Thái thứ 3 (1891). Kết cấu chữ Đinh gồm 7 gian, 2 dĩ và hậu cung; lưu giữ câu đối của Tôn Thất Thuyết và bộ cửa võng chạm lọng đề tài "Tứ linh - Tứ quý" sơn son thếp vàng thế kỷ XVII - XIX. Đình được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1962, hiện trưng bày hơn 240 hiện vật khảo cổ học qua 3 giai đoạn lịch sử.
    • Am Mỵ Châu (Am Bà Chúa): Diện tích 825 m2, kết cấu kiểu chữ Đinh kết hợp chữ Nhị gồm Tiền tế (3 gian) và Hậu cung (3 gian), thờ phiến đá tự nhiên hình người cụt đầu gắn với truyền thuyết Mỵ Châu hóa đá, cùng ban thờ Thập nhị cô hầu và văn võ bá quan. Di tích từng có cây đa cổ thụ rễ tò vò chết năm 1999.
    • Giếng Ngọc (Giếng Trọng Thủy): Nằm trong hồ hình bán nguyệt trước cửa đền Thượng, xung quanh kè gạch bảo vệ, gắn với truyền tích nước giếng rửa ngọc trai và là địa điểm biểu diễn nghệ thuật múa rối nước, hát quan họ trong lễ hội.
    • Chùa Bảo Sơn (Bảo Sơn tự / Tam Sơn tự): Xây dựng đầu thế kỷ XVII trên khuôn viên 3.300 m2, kiến trúc "Nội công Ngoại quốc", bài trí 134 pho tượng tròn thế kỷ XVII - XIX, chuông đồng đúc năm Gia Long thứ 2 (1803), khánh đá năm Tự Đức thứ 6 (1853). Chùa được xếp hạng di tích năm 1993, hoàn thành đại trùng tu giai đoạn 1996 - 1997 với kinh phí trên 2 tỷ đồng.
    • Văn chỉ và Nhà bia: Văn chỉ 4 tòa nằm trên khu đất dinh Ngô Quyền cũ, nơi Hội Tư văn tổ chức tế lễ cầu học hành đỗ đạt vào các ngày Đinh tháng Hai và tháng Tám. Nhà bia trên đền Thượng lưu giữ tấm bia 4 mặt "Tạo lập thạch bi" (1710), bia "Pháp điện sắc lệnh" (1708) và lệnh chỉ năm Hoằng Định thứ 5 (1604) của Trịnh Tùng.
  • Thành Cổ Loa:

    • Quy mô và kỹ thuật xây dựng: Khởi công và hoàn thiện trong 13 năm dưới thời Âu Lạc; tổng khối lượng đào đắp ước tính 2,2 triệu m3 đất. Kỹ thuật đắp lũy kết hợp khoét hào, chân thành kè đá tảng lớn và đá cuội, rải các lớp gốm vỡ chống sạt lở. Chiều cao lũy trung bình 4 - 5 m (vị trí cao 8 - 12 m), chân lũy rộng 20 - 30 m, mặt lũy rộng 6 - 12 m.
    • Cấu trúc 3 vòng thành khép kín dài 16 km: Thành Ngoại dài trên 8 km (cao 3 - 8 m) uốn lượn theo gò đồi tự nhiên; Thành Trung dài 6.150 m đến 6.500 m (cao 6 - 12 m, mặt rộng 10 m, chân rộng 20 m) mở 5 cửa; Thành Nội hình chữ nhật (cao 5 m, mặt rộng 10 m, chân rộng 20 - 30 m) mở 1 cửa chính Nam. Hệ thống hào nước liên hoàn nối thông với sông Hoàng Giang và đầm Cả.
    • Giá trị toàn diện: Đóng vai trò vừa là Kinh thành (trung tâm chính trị quốc gia, cấu trúc "tam thành địa quách"), vừa là Quân thành (căn cứ phòng thủ kiên cố kết hợp tác chiến thủy - bộ binh), vừa là Thị thành (đô thị luyện kim đúc đồng, trung tâm trao đổi hàng hóa chợ Sa buổi đầu thời đại đồ sắt). Di tích được xếp hạng Di tích Quốc gia ngày 28/04/1962.
  • Các thành tố văn hóa phi vật thể: Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, Lễ hội Cổ Loa tổ chức từ ngày mùng 6 đến 20 tháng Giêng âm lịch với sự tham gia của 8 xã ("Bát xã hộ nhi"), các quy ước kết nghĩa làng xã và hệ thống phong tục phản ánh tính cố kết cộng đồng sâu sắc.

Chương 3: Vấn đề khai thác các giá trị lịch sử - văn hóa làng Cổ Loa phục vụ phát triển du lịch thời gian qua

Nội dung chương 3 đề cập đến thực trạng, định hướng và hệ thống giải pháp phát triển du lịch tại Cổ Loa:

  • Đánh giá thực trạng khai thác du lịch tại di tích: Lượng khách tập trung vào mùa lễ hội tháng Giêng; cơ sở hạ tầng, dịch vụ du lịch và nguồn nhân lực tại chỗ còn nhiều hạn chế, chưa khai thác hết giá trị của di sản.
  • Dự báo xu thế phát triển du lịch sinh thái kết hợp du lịch văn hóa - lịch sử làng quê ngoại thành.
  • Xây dựng các tuyến du lịch:
    • Tuyến nội bộ trong làng: Kết nối Đền Thượng - Giếng Ngọc - Đình Cổ Loa - Am Mỵ Châu - Chùa Bảo Sơn - Thành Cổ Loa - Chợ Sa - trải nghiệm nghề làm bỏng Chủ.
    • Các tuyến du lịch liên vùng: Tuyến Cổ Loa kết nối các di tích lịch sử ven sông Đuống, sông Cầu, vùng quan họ Bắc Ninh và trung tâm nội thành Hà Nội.
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm: Quy hoạch không gian du lịch; tôn tạo và bảo tồn nguyên trạng di tích; đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá; đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ du lịch; đa dạng hóa các nguồn lực xã hội hóa và cơ chế huy động vốn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp, xử lý và hệ thống hóa hệ thống dữ liệu chi tiết về các di tích và thiết chế lịch sử - văn hóa tại làng Cổ Loa:

Tên di tích / Thành tố Niên đại / Mốc lịch sử chính Quy mô / Diện tích / Hiện vật tiêu biểu Đặc điểm kiến trúc & Giá trị nổi bật
Đền An Dương Vương Xây năm 1687 (Lê Hi Tông), trùng tu 1736 4.400 m2; tượng đồng 255 kg (1897), đôi ngựa hồng (1716) Kiến trúc chữ Tam, Đinh, Công, Vương; trục Linh đạo; văn bia 1710
Đình Cổ Loa Mua từ Bồng Mạc, khánh thành 1891 2.530 m2; trưng bày trên 240 hiện vật khảo cổ học Kiến trúc chữ Đinh (7 gian 2 dĩ); cửa võng chạm lọng Tứ linh - Tứ quý
Am Mỵ Châu Khởi lập thời phong kiến 825 m2; phiến đá tự nhiên không đầu Kiến trúc chữ Đinh kết hợp chữ Nhị; thờ tượng Mỵ Châu, Thập nhị cô hầu
Chùa Bảo Sơn Dựng đầu thế kỷ XVII, trùng tu 1996 - 1997 3.300 m2; 134 pho tượng tròn; chuông đồng (1803), khánh đá (1853) Kiến trúc Nội công Ngoại quốc; hội tụ hệ thống tượng Phật giáo, Tam phủ, Tứ phủ
Thành Cổ Loa Thế kỷ III TCN (thời Âu Lạc) 3 vòng thành dài 16 km, đắp 2,2 triệu m3 đất đá gốm Tòa thành cổ quy mô lớn nhất; kết hợp kinh thành, quân thành và thị thành
Chợ Sa Lập thời cổ; chuyển vị trí năm 2007 Hương ước 1942: 130 gian hàng, thu 79 đồng thuế/năm Trung tâm thương nghiệp liên vùng; phân hạng 3 mức thuế quản lý

Các giải pháp và đóng góp của công trình:

  • Đóng góp khoa học: Cung cấp nguồn tư liệu điền dã thực địa có hệ thống về cơ cấu xã hội làng xã cổ truyền (hệ thống 12 xóm, 4 giáp, 12 phe, quy chế Quan đám) và nghề ẩm thực dân gian truyền thống (bỏng Chủ).
  • Giá trị thực tiễn: Đề xuất các căn cứ khoa học cho chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý du lịch xây dựng tour tuyến chuyên đề, phương án bảo tồn di tích gắn liền phát triển du lịch văn hóa bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu điền dã của sinh viên, khóa luận tập trung sâu vào hạt nhân làng Cổ Loa (thôn Cổ Loa), trong khi các làng thành viên khác trong cụm "Bát xã hộ nhi" chỉ mới dừng lại ở mức độ khảo sát sơ bộ. Bên cạnh đó, việc phục dựng chi tiết các lớp cư dân cổ từ sau thất bại của An Dương Vương đến thế kỷ XV còn gặp nhiều khoảng trống tư liệu do sự phân tán và biến động lịch sử.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu toàn diện không gian văn hóa liên kết của toàn bộ cụm di tích Bát xã Cổ Loa; nghiên cứu sâu các mô hình kinh doanh du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái nông nghiệp gắn với đề án quy hoạch bảo tồn tổng thể khu di tích Cổ Loa của Thành phố Hà Nội.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, giảng viên ngành Văn hóa học, Du lịch, Lịch sử, Dân tộc học và Quản lý văn hóa phục vụ học tập, tra cứu và thực hiện các nghiên cứu về văn hóa làng xã vùng châu thổ Bắc Bộ.
  • Ban Quản lý Di tích Cổ Loa, Ủy ban nhân dân xã Cổ Loa và Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Đông Anh sử dụng trong công tác thuyết minh, tổ chức tuyến điểm du lịch và xây dựng kế hoạch bảo tồn di tích.
  • Các phần có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm: Quy trình sản xuất và phân loại đặc sản "bỏng Chủ", cấu trúc phân bố không gian và kỹ thuật đắp thành Cổ Loa, hệ thống thiết chế xóm - giáp - phe và ngôi thứ đình trung theo bản hương ước Hán Nôm năm 1942.

Câu hỏi thường gặp

Tiêu chuẩn tuyển chọn và cơ chế hoạt động của chức danh Quan đám (Cụ Từ) tại đền Thượng và am Mỵ Châu được quy định như thế nào?

Quan đám (Cụ Từ) phải đạt các tiêu chuẩn: Gia đình không có tang chế, tuổi đời từ 60 đến 70 tuổi, còn song toàn cả hai vợ chồng, sống hiền lành, phúc hậu và được dân làng kính trọng. Mỗi năm làng tổ chức bầu cử/xin keo để chọn ra 2 cụ (cụ nhiều phiếu nhất trông coi đền Thượng, cụ thứ hai trông coi am Mỵ Châu). Xóm có người trúng cử thì sau 3 năm mới được đề cử người mới; người đã trúng cử sau 2 năm mới được ứng cử lại. Trong suốt một năm đương nhiệm, Quan đám mặc áo the khăn xếp màu vàng thắp hương tiếp khách, ăn ngủ trực tiếp tại di tích và được nhận khoản phụ cấp do Ban Quản lý Di tích Thành phố Hà Nội chi trả.

Đặc sản "bỏng Chủ" của làng Cổ Loa được chế biến từ những nguyên liệu gì và phân chia thành những loại nào?

Bỏng Chủ được làm từ thóc nếp cái hoa vàng (thường mua từ đồng màu làng Dục Tú), rang nổ bung trong chảo lớn có láng mỡ lợn, dùng bó 10 que tre đảo đều rồi sảy sạch trấu. Hoa bỏng sau đó trộn cùng lạc rang, bột thảo quả và nước mật mía Mai Lĩnh đun kỹ với gừng tươi để nguội 8 - 10 tiếng, nén chặt ít nhất 15 chày trong khuôn gỗ kích thước 37 x 10 x 10 cm. Bỏng được chia thành 3 loại theo tỷ lệ mật: Bỏng thửa (nhiều mật, có thảo quả và lạc, chuyên dùng đặt lễ cúng, việc họ, mừng thọ), Bỏng nặng (ngọt vừa, ít mật hơn, không có thảo quả) và Bỏng nhẹ (ít đường, không có thảo quả và không có lạc, dùng ăn hàng ngày hoặc bán).

Hệ thống 3 vòng thành Cổ Loa có quy mô, kích thước và kỹ thuật đào đắp như thế nào?

Thành Cổ Loa được xây dựng trong 13 năm dưới thời Âu Lạc với tổng khối lượng đào đắp ước tính 2,2 triệu m3 đất. Kỹ thuật xây dựng gồm đào đất khoét hào, chân lũy kè đá tảng và đá cuội, rải các lớp gốm vỡ chống sụt lở; mặt ngoài thẳng đứng, mặt trong xoải; lũy cao 4 - 5 m (chỗ cao 8 - 12 m), chân rộng 20 - 30 m, mặt rộng 6 - 12 m. Cấu trúc gồm 3 vòng khép kín dài 16 km: Thành Ngoại dài hơn 8 km (cao 3 - 8 m); Thành Trung dài 6.150 m đến 6.500 m (cao 6 - 12 m, mặt rộng 10 m, chân rộng 20 m) mở 5 cửa; Thành Nội hình chữ nhật (cao 5 m, mặt rộng 10 m, chân rộng 20 - 30 m) mở 1 cửa hướng Nam.

Cơ chế thu thuế gian hàng tại Chợ Sa theo bản hương ước năm 1942 được phân định ra sao?

Theo bản hương ước cải lương lập năm 1942, Chợ Sa có tổng cộng 130 gian hàng, mỗi năm thu nộp cho ngân quỹ làng tổng số tiền thuế là 79 đồng. Mức thuế được phân chia làm 3 hạng: Hạng một gồm 40 gian hàng với mức thu 1 đồng/gian/năm; Hạng hai gồm 40 gian hàng với mức thu 0,6 đồng/gian/năm; Hạng ba gồm 50 gian hàng với mức thu 0,3 đồng/gian/năm. Làng cắt cử một người Khán thị (Quản thị) làm nhiệm vụ quét dọn vệ sinh và giữ gìn an ninh trật tự, nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ trong 6 năm sẽ được thăng lên ngôi trùm.

Đình Ngự Triều Di Quy hiện đang lưu giữ và trưng bày những nhóm hiện vật khảo cổ học nào?

Đình Ngự Triều Di Quy trưng bày hơn 240 hiện vật khảo cổ học chia thành 3 giai đoạn:

  1. Thời kỳ trước An Dương Vương (đầu thiên niên kỷ II TCN): Hơn 50 hiện vật đá, gốm thuộc các giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, Gò Mun.
  2. Thời kỳ An Dương Vương (thế kỷ III TCN, từ năm 208 TCN đến 179 TCN): Trên 150 hiện vật khảo cổ tiêu biểu như mũi tên đồng Cổ Loa, khuôn đúc đồng, lưỡi cày đồng, ngói bản, ngói ống có hoa văn.
  3. Thời kỳ sau An Dương Vương (từ năm 179 TCN đến thế kỷ X): Khoảng 40 hiện vật phản ánh đời sống kinh tế - văn hóa thời Bắc thuộc cho đến thời Ngô Quyền đóng đô.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Bích Diệp đã tái hiện bức tranh toàn diện về lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức làng xã truyền thống và hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể tại làng Cổ Loa. Công trình ghi nhận hệ thống số liệu thực địa, tư liệu Hán Nôm và khảo cổ học phong phú về di tích đền Thượng, đình Ngự Triều Di Quy, am Mỵ Châu, chùa Bảo Sơn và cấu trúc thành lũy 3 vòng cổ đại. Trên cơ sở phân tích thực trạng, khóa luận đề xuất các định hướng quy hoạch tour tuyến và giải pháp bảo tồn nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch nhân văn của vùng đất Cổ Loa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương.