CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM 1. Di sản văn hóa và phân loại di sản văn hóa 1. Khái niệm di sản văn hóa Khái niệm “di sản văn hóa” với tư cách là một thuật ngữ khoa học đã có một quá trình hình thành khá lâu dài. Điều mà ít ai ngờ nhất là: chính thuật ngữ này lại được hình thành và được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789.
Do quá trình tịch thu được tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài sản quốc gia sau cách mạng tư sản Pháp, đã dần dần hình thành khái niệm di sản. Để tránh sự thất thoát và phá hoại loại tài sản này, nhà nước Pháp lúc bấy giờ đã tiến hành kiểm kê, mô tả sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi phục và bảo tồn di sản quốc gia; di sản lúc đó được hiểu như ý niệm về một tài sản chung, tài sản của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai, đó là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia. Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định nghĩa: “di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn, chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai”. [54, 20] Còn theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại.
Di sản văn hoá theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai. Di là để lại, còn 15 lại, dịch chuyển, chuyển lại; sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị. Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên. Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc, gọi tắt là UNESCO họp phiên thứ 32 tại Paris từ 29-9 đến 17-10-2003, đã bàn thảo và ra Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể; Công ước đã ghi nhận: Các quá trình toàn cầu hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội cùng với các điều kiện khác đã tạo nhiều cơ hội đối thoại mới giữa các cộng đồng, đồng thời cũng làm nảy sinh những mối đe dọa về sự suy thoái biến mất và hủy hoại các di sản văn hóa phi vật thể.
Luật Di sản văn hoá của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. [35, 17] Như vậy, di sản văn hóa được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau; di sản văn hóa là các tài sản văn hóa như các tác phẩm nghệ thuật dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học. mà thế hệ trước để lại cho hậu thế mai sau. Ngày nay khái niệm di sản không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm tài sản từ quá khứ nữa; bởi không phải bất cứ cái gì của quá khứ cũng được coi là di sản, mà phải được lựa chọn từ ký ức, báu vật của cộng đồng, thể hiện nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của xã hội hiện đại về quá khứ đó.
Phân loại di sản văn hóa Phân loại sự vật và hiện tượng là một trong những cách nhận thức và thâu tóm bản chất của sự vật và hiện tượng tự nhiên, xã hội đa dạng phong phú. Phân loại di sản văn hóa là một nhu cầu chính đáng trong nghiên cứu; theo quan niệm của UNESCO, di sản văn hóa bao gồm hai loại: 1. Di sản văn hóa vật thể 16 Di sản “văn hóa vật thể” được hiểu là những sản phẩm văn hóa có thể “sờ thấy được”. Văn hóa vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định; di sản văn hóa vật thể được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt.
Văn hóa vật thể được khách thể hóa và tồn tại như một thực thể ngoài bản thân con người. Di sản văn hóa vật thể luôn chịu sự thách thức của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động của con người thời đại sau; Di sản văn hóa vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc. Hiện nay, vấn đề bảo tồn những di sản văn hóa vật thể lâu đời đòi hỏi công nghệ kỹ thuật cao mới có thể phục nguyên lại như cũ. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [35, 25].
Trong số các di sản văn hóa vật thể để lại từ quá khứ, di tích lịch sử - văn hóa là điển hình nhất. Tác giả Nguyễn Văn Tiến trong bài viết Di tích lịch sử- văn hóa nguồn sử liệu trực tiếp góp phần nghiên cứu lịch sử trên website Tạp chí nghiên cứu văn hóa của trường Đai học Văn hóa Hà Nội1 định nghĩa “Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đựng các điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người trong lịch sử sáng tạo ra. Như vậy, ở một mức độ hẹp hơn có thể thấy rằng di tích lịch sử - văn hóa là những dấu tích, dấu vết hoạt động của con người trong quá trình lịch sử còn sót lại. Di tích lịch sử - văn hóa được phân chia thành các loại như: di tích khảo cổ, di tích lịch sử, di tích văn hóa-nghệ thuật”.
Theo cách phân loại này thì quần thể di tích Óc Eo-Ba Thê đa phần bao gồm các di tích khảo cổ 1 Website http://huc.vn/ 17 học, được phát hiện và nghiên cứu, đánh giá qua quá trình khai quật khảo cổ học. Vậy một di tích hoặc một quần thể di tích có vai trò gì, giá trị gì? Trước hết, ta cần phải hiểu rõ khái niệm “giá trị”. Trong các ngôn ngữ phương Tây, thuật ngữ “giá trị” bắt nguồn từ tiếng La-tinh có nghĩa là “tốt, khỏe mạnh, đáng giá” ban đầu được dùng để chỉ một thứ nào đó tốt, đáng giá, trước hết là theo nghĩa giá trị trao đổi của kinh tế học mà nhà kinh tế học chính trị Adam Smith đã nói đến trong tác phẩm nổi tiếng của mình nhan đề: Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc xuất bản năm 1776. Theo Đại bách khoa toàn thư Xô-viết (30 tập), “giá trị” là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu triết học và xã hội học để chỉ ý nghĩa con người, xã hội và văn hoá của những hiện tượng thực tế nhất định.
Như vậy, nếu hiểu “văn hoá” và “giá trị” theo nghĩa rộng, chấp nhận quan niệm coi văn hoá là hệ thống giá trị do con người sáng tạo ra thì khái niệm “văn hoá” trong cụm từ “giá trị văn hoá” phải được hiểu là “do con người sáng tạo ra”. Giá trị văn hoá đối lập với giá trị tự nhiên và bao gồm tất cả các loại giá trị đạo đức, giá trị kinh tế, giá trị pháp lý, giá trị ký hiệu học, giá trị toán học, v., vì mọi giá trị và hệ giá trị do con người sáng tạo ra đều thuộc văn hoá cả rồi. Nhiều người đồng nhất, hoặc gần như đồng nhất, giá trị với chuẩn mực. Chẳng hạn, học giả người Nga Cyde Kluckhohn (1951) cho rằng “Giá trị là quan niệm về điều mong muốn đặc trưng hiện hay ẩn cho một cá nhân hay một nhóm và ảnh hưởng tới việc chọn các phương thức, phương tiện hoặc mục tiêu của hành động”.
Trên cơ sở định nghĩa của Kluckhohn, học giả F.Chzel định nghĩa lại giá trị là “những tiêu chuẩn về cái có thể ao ước được, chúng xác định các mục đích chung của hành động”. Cho đến hiện nay, khái niệm “giá trị” vẫn còn là thuật ngữ được nhiều học giả tranh luận. 18 Trong luận văn này của mình, tác giả hiểu khái niệm “giá trị” theo ý nghĩa đơn giản là cái tốt đẹp, cái đáng giá. Như vậy, giá trị di tích tức là những cái tốt đẹp, cái đáng giá của di tích.
Di tích là hiện hữu của lịch sử con người để lại từ trong quá khứ đến hiện tại. Do đó, giá trị di tích chính là những mặt tốt đẹp, đáng giá của di tích được lưu giữ từ dời này sang đời khác. Tùy theo giá trị của từng di tích, Bộ Văn hóa thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) đã phân cấp di tích thành: Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh: là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia. Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Việt Nam) quyết định xếp hạng di tích quốc gia. Di tích lịch sử văn hóa quốc gia đặc biệt: là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới.
Di sản văn hóa phi vật thể Di sản “Văn hóa phi vật thể” là dạng thức tồn tại của văn hóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối trong không gian và thời gian, mà nó tiềm ẩn trong trí nhớ, ký ức cộng đồng, tập tính, hành vi ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội mà thể hiện ra. Từ đó người ta có thể nhận biết được sự tồn tại của “văn hóa phi vật thể”.