Chương I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI LÊ SƠ VÀ SỰ RA ĐỜI QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT I. Bối cảnh lịch sử thời Lê Sơ 1. Chính trị - xã hội thời Lê Sơ Về chính trị Sau chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn, Lê Lợi chính thức lên ngôi vua lấy niên hiệu là Thuận Thiên, quốc hiệu là Đại Việt, cho đóng đô ở Đông Kinh (Thăng Long - Hà Nội). Triều đại Lê Sơ bắt đầu từ đây và trải qua mười đời vua, giai đoạn cực thịnh nhất chính là thời vua Lê Thánh Tông, đây cũng là thời điểm Bộ Luật Hồng Đức ra đời.
Thời Vua Lê Thái Tổ (1428 - 1433), Lê Lợi chính thức lên ngôi vua và điều hành đất nước vào năm 1428. Các tướng lĩnh chỉ huy đã sát cánh bên Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cũng tham gia vào bộ máy chính quyền nhà Lê, cùng Lê Lợi xây dựng chính quyền và quản lý các vùng giải phóng. Đây là những tướng sĩ anh dũng trên chiến trường, là những con người gan dạ bước ra từ cuộc chiến giành lại độc lập của dân tộc. Tuy nhiên kinh nghiệm chiến tranh dày dặn của họ dường như là chưa đủ để cùng vua cai quản và điều hành đất nước.
Sau khi hòa bình lập lại những công thần này ngày càng trở nên ỷ lại, “ngủ quên trên chiến thắng”, thích cuộc sống hưởng thụ, xa hoa. Dưới thời vua Lê Thái Tổ đã bắt đầu xuất hiện tình trạng quan lại nhũng nhiễu, cậy quyền thế, lấn át nhà vua. Tuy nhiên với sự tài năng và bản lĩnh của vua Lê Thái Tổ ông vẫn khống chế được đội ngũ công thần, kiểm soát quyền lực và điều hành tốt công việc của đất nước. Đến thời vua Lê Thái Tông (1433 - 1442), ông lên ngôi vua khi mới 10 tuổi.
Bởi lên ngôi vua khi tuổi còn quá nhỏ nên công việc triều chính chủ yếu được các quan đại thần sắp xếp và đảm nhiệm. Các đại thần lúc đó là Tư đồ Lê Sát, Tư khấu Lê Ngân và Đô đốc Phạm Văn Vấn là những tướng lĩnh đã sát cánh bên vua Lê Lợi từ những ngày đầu dựng nước. Tuy nhiên, hoàn cảnh khách quan này đã tạo điều kiện thuận lợi để các vị đại thần lạm quyền, lộng quyền, chia bè kết phái, cô lập và sát hại những người có tài như Nguyễn Trãi, Lưu Nhân Trú,. Mãi đến khi vua Thái Tông 15 tuổi ông đã lên nắm quyền và bố trí lại đội ngũ quan lại, loại bỏ các quyền 9 thần lộng hành, bình ổn đất nước.
Điều đáng tiếc là khoảng thời gian đó không kéo dài bao lâu thì vua Lê Thái Tông đã phế lập hoàng tử Nghi Dân để lập Bang Cơ - con của thần phi Nguyễn Thị Anh lên làm hoàng tử, điều này đã khiến cho bọn quyền thần có mưu đồ bất chính có thêm cơ hội ngấm ngầm chia bè kết phát làm lũng đoạn triều chính. Thời vua Lê Nhân Tông (1443 - 1459), khi Lê Nhân Tông lên ngôi vua thì sự xung đột trong cung đình vẫn là một mối đe dọa lớn tới sự tồn tại của nhà Lê Sơ. Đỉnh điểm là cuối năm 1459 Lê Nghi Dân - vị hoàng tử đã bị vua Lê Thái Tông phế lập đã tiến hành cuộc chính biến lật đổ vua Lê Nhân Tông. Tuy nhiên, ngay sau đó nhóm các đại thần khai quốc do Nguyễn Xí và Đinh Liệt đứng đầu đã đứng lên trừ khử nghịch đảng, triều đại Lê Nghi Dân chỉ tồn tại vỏn vẹn 8 tháng.
Vua Lê Thánh Tông (1460-1497), sau khi trừ khử nghịch đảng Lê Nghi Dân các đại thần đã đưa hoàng tử Tư Thành tức vua Lê Thánh Tông lên làm vua, mở ra thời kỳ thịnh vượng của đất nước. Lê Thánh Tông sau đó được xem là vị vua anh minh, tài ba trong lịch sử dân tộc, ông đã thiết lập lại triều chính, siết chặt kỷ cương, tạo lập nền kinh tế - chính trị cho quốc gia. Điểm sáng nhất trong giai đoạn trị vì đất nước của vua Lê Thánh Tông nói riêng cũng như trong lịch sử triều đại phong kiến nói chung có thể nói đó là sự ra đời của Bộ Luật Hồng Đức (Quốc Triều Hình Luật) - thành tựu lớn trong lịch sử lập pháp Việt Nam. Hệ tư tưởng thời này, Nho giáo được lấy làm tư tưởng chính thống để cai trị quốc gia.
Với tư tưởng “Sùng Nho trọng Đạo là việc hàng đầu” (Bia Văn Miếu - 1442) xã hội thời Lê Sơ tập trung vào việc thể chế hoá tư tưởng Nho giáo vào thực tiễn đất nước, từng bước xây dựng hướng nhà nước theo mô hình quân chủ tập quyền quan liêu. Đến thời vua Lê Thánh Tông đã ban hành Huấn dân đại cáo để dạy con người cách cư xử với nhau theo quan niệm Nho gia. Tư tưởng Nho giáo chi phối mạnh mẽ dưới thời vua Lê Thánh Tông trong suốt quá trình xây dựng bộ máy nhà nước, quan hệ kinh tế, chính trị và xã hội. Với những nỗ lực cải cách bộ máy nhà nước, dưới thời vua Lê Thánh Tông đã đạt đến nhà nước quân chủ tập quyền cao độ.
Về xã hội thời Lê Sơ, xã hội thời Lê Sơ tồn tại hai giai cấp là giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Giai cấp thống trị bao gồm vua, quan, quý tộc và địa chủ phong kiến; giai cấp bị trị có ba tầng lớp là nông dân, thương nhân, thợ thủ công và nô tì. 10 Trong giai cấp thống trị thì vua là người đứng đầu và có quyền lực cao nhất, dưới vua là quan lại, địa chủ và quý tộc, họ sở hữu nhiều ruộng đất, được cho là giai cấp bóc lột. Sau vua là quan lại - những người giữ trọng trách trong bộ máy thống trị, sau quan lại là tầng lớp địa chủ vừa và nhỏ, họ làm giàu bằng bóc lột địa tô và bóc lột thuế thông qua nhà nước, quyền lợi của họ gắn liền với quyền lợi của nhà nước phong kiến.
Giai cấp bị trị gồm nông dân, thương nhân, thợ thủ công và nô tì, trong đó tầng lớp nông dân là nhiều hơn cả, chiếm đại đa số trong xã hội. Nông dân được coi là lực lượng sản xuất chính để tạo ra của cải vật chất nuôi sống xã hội, chính vì vậy họ là giai cấp bị bóc lột, nghèo khổ nhất trong xã hội. Cùng với sự phát triển của giao thương, buôn bán thì tầng lớp thương nhân và thợ thủ công ngày càng xuất hiện đông đảo. Dưới thời Lê sơ thì tầng thợ thủ công còn nhỏ bé và hầu như là chưa tách khỏi sản xuất nông nghiệp, thời kỳ này thợ thủ công giỏi bị trưng tập, tổ chức lại thành các bộ phận như binh lính, được cấp lương, làm việc dưới sự quản lý của nhà nước và không có quyền bỏ việc.
Vị trí, địa vị và vai trò của tầng lớp này trong xã hội chưa thực sự được chú trọng.1 Tầng lớp thương nhân cũng phát triển hơn, do nhà Lê chú trọng vào việc thành lập các chợ để nhân dân có thêm điều kiện trao đổi hàng hóa nhưng chỉ ở trong phạm vi địa phương. Tuy nhiên, thì nhà Lê sơ vẫn chú trọng thực thi các chính sách ức thương đối với trong nước và cả với nước ngoài nên nền kinh tế hàng hóa ở thời kỳ này vẫn chưa có những bước phát triển lớn. Về chế độ nô tỳ thì hầu như đã tan rã sau chính sách hạn nô của vua Hồ Quý Ly. Đến triều nhà Lê đã cho phép nô tỳ được chuộc thân để trở thành người tự do.
Mặc dù, có giảm về số lượng nhưng nô tỳ vẫn là một tầng lớp đáng kể trong xã hội thời bấy giờ. Nô tỳ có địa vị và thân phận thấp kém nhất trong xã hội. Thời kỳ này xã hội vẫn bị chia làm hai tầng lớp cơ bản là giai cấp bị trị và giai cấp thống trị, đây là hệ tư tưởng xuyên suốt triều đại phong kiến Việt Nam. Nên cho dù tư tưởng của các vị vua thời Lê Sơ đã có nhiều tiến bộ, song vẫn thoát ra được những quan điểm và hệ tư tưởng truyền thống này.
Chính vì vậy cuộc sống của người dân dưới triều đại Lê Sơ dù đã được quan tâm, chăm lo nhưng cũng chỉ là cải thiện, nhà nước thời kỳ này vẫn bị ảnh hưởng bởi hệ tư tưởng Nho giáo nên 1 Lương Văn Tuấn (2013), “Quốc triều hình luật - các giá trị nhân văn, tiến bộ và sự kế thừa trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.”, Luận án tiến sĩ Luật học, Khoa Luật (ĐHQGHN), Hà Nội.31 11 trong các quy định của Bộ Luật Hồng Đức vẫn thể hiện tư tưởng của việc xây dựng nhà nước quân chủ tập quyền chứ chưa phải là nhà nước của dân và hoàn toàn là vì lợi ích của nhân dân. Tình hình kinh tế thời Lê Sơ Sau chiến thắng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thì yêu cầu cấp thiết đặt ra lúc bấy giờ là khôi phục nền kinh tế bị tàn phá sau chiến tranh. Nhờ những chính sách tích cực của nhà Lê nên nền kinh tế của đất nước dưới thời Lê Sơ được phục hồi nhanh chóng, nhìn chung các ngành kinh tế đều phát triển bình ổn và đặc biệt nhà Lê chú trọng phát triển nông nghiệp. Cụ thể khi hòa bình được lập lại, nhà Lê nắm trong tay vô số ruộng đất của quan chức, của những nhà quyền thế tiền triều hay của những gia đình tuyệt tự do chiến tranh,.đây được xem là điều kiện thuận lợi để nhà nước tiến hành một cuộc cải cách ruộng đất.
Với tinh thần gắn quyền lợi về ruộng đất với nghĩa vụ của người dân, ngay từ thời vua Lê Thái Tổ đã ban hành sắc chỉ cho các đại thần bàn định số ruộng đất để cấp cho quan và dân. Việc làm này vừa là cơ sở đảm bảo quyền lợi cho các công thần đã có công xây dựng đất nước và cũng là đảm bảo cho người dân có ruộng đất để canh tác, tạo tiền đề cho nền kinh tế nông nghiệp phát triển. Vua Lê Thái Tổ giao cho các đại thần bàn định và cấp ruộng đất cho quan và dân, ông đã từng nói với các công thần rằng: “Như người đi đánh giặc thì nghèo, kẻ rong chơi thì giàu. Người đi chiến đấu thì không có một thước, một tấc đất mà còn ở những kẻ du thủ du thực, không có ích gì cho nước lại có quá thừa ruộng đất hoặc đi làm nghề trộm cướp.
Thành ra không có ai chịu hết lòng với nước, chỉ ham nghĩa phú quý mà thôi.