Chương 1: Một số vẫn đề lý luận về tư pháp phục hồi Chương 2: Pháp luật quốc tế và một số mô hình tư pháp phục hồi trên thé giới Chương 3: Tiếp thu tư pháp phục hồi trong giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam CHUONG 1. MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TƯ PHAP PHỤC HOI 1. Sự ra đời của khái niệm “tư pháp phục hồi” Tư pháp phục hồi ngày nay dang trở thành xu hướng của tư pháp dân chủ, công bang, nhân đạo làm thay đổi ban chất trừng trị của tư pháp truyền thống. Xu hướng này đặt ra yêu cầu cải cách tư pháp ở các quốc gia trên cơ sở giải mã được các câu hỏi: Tư pháp phục hồi ra đời khi nào, do đâu và được áp dung trong phạm vi, giới hạn nao? 1.
Thuật ngữ tư pháp phục hồi Theo phan lớn các học giả, thuật ngữ “restorative justice” lần đầu tiên thuật ngữ công lý phục hồi được sử dụng trong bối cảnh tư pháp hình sự là của Albert Eglash trong một số bài báo năm 1958, trong đó ông đề xuất rằng có ba loại tư pháp hình sự: (1) tư pháp trừng phạt, dựa trên trừng phạt; (2) tư pháp dựa trên việc đối xử với người phạm tội theo phương thức điều trị người bệnh; và (3) tư pháp phục hồi, dựa trên bồi thường. Ông lưu ý rằng cả hai mô hình trừng phạt và điều trị đều tập trung vào hành động của người phạm tội, từ chối sự tham gia của nạn nhân vào quá trình xét xử và chỉ yêu cầu người phạm tội tham gia một cách thụ động. Trong khi đó, tư pháp phục hồi dựa trên bồi thường lại tập trung vào tác hại của hành vi phạm tội và tích cực lôi kéo nạn nhân và người phạm tội vào quá trình sửa chữa và phục hồi. Tư pháp phục hồi được biết đến nhiều hơn thông qua cuốn sách Changing lenses của Howard Zehr.
Trong đó, ông mô tả tư pháp phục hồi như sau: “Tội phạm là sự vi phạm con người và các moi quan hé. No tao ra cac nghia vu dé lam cho mọi thứ trở nên đúng dan. Công lý liên quan đến nan nhân, người phạm tội và cộng dong trong việc tim kiếm các giải pháp thúc day sửa chữa, hòa giải và tran an.” Sau đó, Martin Wright đã góp phần phát triển tư duy và thực hành công lý phục hồi, đặc biệt là ở châu Âu. Trong cuốn sách của mình năm 1991, Justice for Victims and Offenders, ông đã rút ra kinh nghiệm cua mình với tư cách là người biện hộ cho các nạn nhân và là người ủng hộ cải cách nhà tù khi lập luận rằng tư pháp hình sự nên phục hồi hơn là trừng phạt.
Ông lập luận rằng việc loại trừ nạn nhân ra khỏi hệ 10 thống hiện tại có thể được khắc phục bằng cách mở rộng các quy trình bồi thường và hòa giải để cho phép cả nạn nhân và người phạm tội tham gia nhiều hơn. Ông gợi ý rằng một mô hình như vậy có thê được xây dựng bằng cách tạo ra hai cơ quan: một chịu trách nhiệm phòng chống tội phạm, sẽ nhấn mạnh đến việc ran đe thông qua thực thi hơn là răn đe thông qua hình phạt và bộ phận thứ hai sẽ chịu trách nhiệm đối phó với tội phạm khi chúng xảy ra, bao gồm hỗ trợ nạn nhân, hòa giải và bồi thường, cũng như các tòa án nhấn mạnh đến việc bồi thường. Năm sau đó, bài thảo luận của Virginia Mackey cho Chương trình Tư pháp Hình sự của Giáo hội Trưởng lão (Mỹ) và cuốn The Practice of Punishment của Wesley Cragg tiếp tục củng cô quan điểm dé cao tính phục hồi trong tư pháp hình sự. Các công trình trên đã thành công truyền cảm hứng và thúc đây các học giả tham gia nghiên cứu về tư pháp phục hồi.
Nhờ đó, tư pháp phục hồi nhanh chóng trở thành một “hiện tượng” và liên tục được khám phá, bổ sung vào hệ thống lý luận của mình. Bên cạnh “restorative justice” là thuật ngữ được sử dụng phổ biến, một số học giả cũng đã chọn những tên khác để mô tả về khái niệm này. Ruth Morris đã nói về “tư pháp chuyên đổi” (transformative justice), nhẫn mạnh rằng tội phạm không chỉ đơn giản là xâm phạm con người và các mối quan hệ mà nó còn tạo cơ hội dé chuyên đổi những người và mối quan hệ đó, một sự chuyên đổi như vậy sẽ giải quyết các nguyên nhân của tội phạm và tăng cường an toàn trong cộng đồng. Jonathan Burnside va Nicola Baker đã sử dụng thuật ngữ “tư pháp quan hệ” (relational justice), nhẫn mạnh tầm quan trọng của các khía cạnh quan hệ (chứ không chỉ đơn giản là pháp lý) của tội phạm.
Marlene Young đề xuất “tư pháp phục hồi cộng đồng” (restorative community justice) để nhẫn mạnh cả tầm quan trọng của sự tham gia của cộng đồng cũng như giá trị và tiềm năng của hành động cộng đồng trong phòng chống tội phạm. Thực hành tư pháp phục hồi Phong trào tư pháp phục hồi hiện đại thường được biết đến là có nguồn gốc ở Elmira, Ontario, Canada. Năm 1974, tai đây, hai thanh niên bi kết án vì làm hư hại 22 ngôi nhà trong lúc say rượu. Họ đã nhận tội và trong khi viên chức quản chế 11 Mark Yantzi đang chuẩn bị báo cáo cho thâm phán, anh ta đã nói chuyện với Dave Worth, một tình nguyện viên từ Uy ban Trung ương Mennonite.
Trong quá trình trò chuyện, họ đồng ý rằng việc ngồi tù hoặc quản chế có thé sẽ không ảnh hưởng đến các bị cáo như việc gặp nạn nhân, lắng nghe câu chuyện của họ, xin lỗi và trả tiền bồi thường. Mặc dù thẩm phan ban đầu phản đối ý tưởng này, nhưng cuối cùng ông đã ra lệnh yêu cầu các chàng trai trẻ làm điều này như một điều kiện quản chế. Kết quả tích cực của thực hành này đã thúc đây các quyết định tương tự của thâm phán và là tiền thân của Chương trình Hòa giải Tội phạm - Nạn nhân (Victim-Offender Mediation và Victim Offender Reconciliation Program) lan rộng khắp Bắc Mỹ, Châu Âu và khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, tư pháp phục hồi đã có nguồn gốc lịch sử từ xa xưa hơn rất nhiều.
Bianchi chỉ ra răng công lý phục hồi, tức là “các hệ thống giải quyết xung đột, sửa chữa và giải quyết tranh chấp cũ vẫn tồn tại, công khai hoặc ngâm ngầm, trong nhiều thé kỷ”. Llewellyn và Howse cũng lập luận rang dường như có sự nhất trí rằng việc chuyển từ công lý phục hồi sang cái mà “ngày nay chúng ta biết là công lý trừng phạt, lấy nhà nước làm trung tâm, đã bắt đầu từ thế kỷ 11 và 12”. Theo Zehr, bất kể những yếu tố nào khác có thé thúc day sự thay đổi này, “rõ ràng, ít nhất là một phần, nó được thúc đây bởi mong muốn quyên lực chính tri cả trong lĩnh vực thé tục và tôn giáo”. Nhiều người tìm thấy các dấu tích của tư pháp phục hồi trong một số luật bản địa trên khắp thế giới.
Wright trong tác phẩm “Công lý không cần luật sư” xem xét sự tồn tại lịch sử của phương pháp phục hồi để giải quyết xung đột giữa những người Kpelle ở Liberia, Tòa án Zapotec của Mexico, người Tiv của Nigeria, truyền thống Barotse và Hàn Quốc. Tương tự, Elechi trong cuốn sách của mình “Thực thi công lý mà không cần nhà nước” xem xét kỹ lưỡng một số truyền thống phục hồi về giải quyết tranh chấp giữa người Igbos ở Đông Nam Nigeria. Trong tác phâm của mình “Lịch sử Công lý Phục hồi” Weitekam cũng xem xét nguồn gốc của các thực hành công lý phục hồi va khang định rang công lý phục hồi đã tồn tại trong cái mà 12 ông gọi là “các xã hội acephalous” (phi nhà nước) và “sơ khai xã hội nhà nước”. Weitekamp lập luận thêm răng một số chương trình công lý phục hồi mới trên thực tế đã có từ lâu.
Ông đưa ra các vi dụ về cách tiếp cận phục hồi của các cuộc họp công khai của các dân tộc Đức đã tran qua châu Âu sau sự sup đồ của La Mã; An Độ giáo cổ xưa như nền văn minh Vệ đà 6000-2000 trước Công nguyên mà “ai chuộc lỗi được tha thứ” và các truyền thống Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo cỗ xưa được pha trộn với những ảnh hưởng của phương Tây ở Bắc A ngày nay. Đồng quan điểm, Consedine lập luận rằng: “Công lý trong Kinh thánh là công lý phục hồi. Công lý trong hầu hết các nền văn hóa ban địa cũng vậy. Ở New Zealand thời tiền thuộc địa, người Maori có một hệ thống tư pháp phục hồi tích hợp đầy đủ.
Đó là triết lý truyền thống của các quốc gia Thái Bình Dương như Tonga, Fiji và Samoa. Ở Ireland thời tiền Norman, công lý phục hồi được đan xen với kết cầu của cuộc sống hàng ngày”. [77] Như vậy, dù khó khang định được đã có sự chuyên đổi từ tư pháp phục hồi sang tư pháp trừng phạt trong quá khứ nhưng các công trình trên đã chứng minh được tư pháp phục hồi vốn đã là một phan trong thực hành của tô tiên chúng ta từ cách đây hàng thiên niên kỷ và tồn tại cho đến ngày nay. Quan niệm về tư pháp phục hồi Đầu tiên, cần xác định rang không dé dang dé đưa ra một định nghĩa chung cho thuật ngữ “restorative justice” (dich ra là “công lý phục hồi” hoặc “tư pháp phục hồi”).
Có nhiều lí do cho sự khó khăn này. Đầu tiên, xét trong phạm vi tư pháp hình sự, tư pháp phục hồi không dễ định nghĩa vì nó bao gồm nhiều cách thực hành khác nhau ở các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng hình sự, bao gồm chuyển hướng khỏi việc truy tổ trước tòa, các hành động được thực hiện song song quy trình tố tụng của tòa án và các cuộc gặp 13 gỡ giữa nạn nhân và người phạm tội ở bat kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng hình sự (ví dụ: tạm giam, tạm giữ, trước khi tuyên án và sau khi trả tự do). Trong khi đó, lại có ý kiến cho răng đối với hầu như tat cả các bối cảnh pháp lý liên quan đến các vấn đề tội phạm riêng lẻ, quy trình tư pháp phục hồi chỉ được áp dụng cho những người phạm tội đã />a nhận hành vi phạm tội; như vậy, nó đề cập đến giai đoạn quyết định hình phạt của quá trình tố tụng hình sự đối với những người đã thừa nhận hành vi phạm tội, chứ không phải giai đoạn điều tra, truy tố và xác minh sự thật.