Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN 1. Khái niệm bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số 1. Người dân tộc thiểu số Trong khoa học pháp lý, các quyền con người được hiểu đó là “những quyền mà pháp luật cần phải thừa nhận đối với tất cả các thể nhân. Đó là quyền tối thiểu mà các cá nhân phải có, những quyền mà các nhà lập pháp không được xâm hại.
Nhằm mục đích bảo vệ những quyền tự nhiên này của con người những sự xâm phạm của bất kể chủ thể nào, nên xã hội loài người đã phải tạo ra cho mình một thiết chế có trách nhiệm đảm bảo những quyền này. Thiết chế được sau này gọi là nhà nước” [41, tr. Ở Việt Nam, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn được tôn trọng và bảo đảm. Cùng với việc “ghi nhận quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi nhiều chính sách bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và tham gia hầu hết các điều ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước quốc tế về loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966, Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979, Công ước về quyền trẻ em năm 1989, Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006,… và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, to lớn, góp phần xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, đóng góp vào cuộc 15 đấu tranh chung vì mục tiêu hòa bình và tiến bộ xã hội của nhân loại” [59].
Chỉ thị số 12/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng năm 1992 “Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta” xác định: “Đối với chúng ta, vấn đề quyền con người được đặt ra xuất phát từ mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ ta và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực, từ chính trị, tư tưởng, văn hóa đến kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, pháp chế…”. Tiếp tục “kế thừa và phát triển những quy định của các bản Hiến pháp trước đây về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp năm 2013 đã có những đổi mới căn bản, quan trọng cả về cơ cấu, bố cục, cách viết và nội dung. So sánh, đối chiếu với các bản Hiến pháp trước đây, đặc biệt là Hiến pháp năm 1992, chúng ta càng thấy rõ đều đó” [41, tr. Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Hiến pháp năm 2013 gồm 11 chương, 120 điều, riêng chế định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Chương II từ Điều 14 đến Điều 49 gồm 36/120 điều, là chương chứa đựng nhiều điều nhất và nhiều điểm mới nhất.
Tuy nhiên, quyền con người không chỉ được quy định tập trung trong Chương II mà còn là quan điểm, nội dung xuyên suốt trong toàn bộ Hiến pháp năm 2013. Hiến pháp năm 2013 là Hiến pháp vì các quyền và tự do cơ bản của con người với mục tiêu quan trọng nhất là tiếp tục phát huy dân chủ, bảo đảm chủ quyền Nhân dân, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người. Hiến pháp năm 2013 đánh dấu bước phát triển mới mạnh mẽ trong tư duy lý luận của Đảng và Nhà nước ta trong một loạt vấn đề cơ bản của thời đại và sự nghiệp đổi mới đất nước, trong đó có vấn đề quyền con người. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) cũng chỉ rõ: “Quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và 16 thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết”.
Khẳng định mạnh mẽ bản chất nhà nước ta là nhà nước thực hiện chủ quyền Nhân dân, thực hành dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và bảo đảm quyền lực của Nhân dân, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân…” [23]. Quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm cùng loại, đồng dạng nhưng không đồng nhất mà có những giá trị xã hội khác nhau. Hiến pháp năm 2013 không còn đồng nhất quyền con người và quyền công dân như ở Điều 50 Hiến pháp năm 1992 khi quy định quyền con người “… thể hiện ở quyền công dân”.
Hiến pháp năm 2013 đã sử dụng cả 2 thuật ngữ “quyền con người” và “quyền công dân” với những nội dung được xác định rõ ràng, thể hiện các quyền và tự do hiến định để bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân [23]. Hiến pháp năm 2013 xác định rất rõ ràng về tính riêng biệt của quyền con người, quyền công dân. Trong 36 điều của Chương II khi dùng “mọi người” tức là chủ thể của quyền con người, bao gồm cả công dân. Quyền con người nói chung (bao gồm cả công dân) được nhắc đến trong “mọi người”, trong tất cả những “không ai”, “tổ chức, cá nhân”, “Người Việt Nam ở nước ngoài”, “người nước ngoài cư trú ở Việt Nam”.
“Trong tất cả những điều khoản không nhắc đến chủ thể hoặc đối tượng cụ thể thì đều được hiểu chủ thể của quyền không chỉ là công dân. Những quy định mới này phù hợp với Bộ luật nhân quyền quốc tế, các điều ước quốc tế về nhân quyền và với chủ trương, chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế toàn diện của Đảng, Nhà nước Việt Nam” [23]. Người thiểu số bao gồm những nhóm người ít về số lượng, có một số đặc thù chung về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ. Trong quan niệm về 17 “người thiểu số” cho đến nay chưa có sự thống nhất cao và chưa có một định nghĩa nào được chính thức ghi nhận rộng rãi về người thiểu số.
Tiếp cận dưới góc độ các thuộc tính từ các định nghĩa mà Liên hợp quốc và các nhà nghiên cứu đã đưa ra, về đặc điểm khách quan, người thiểu số “là nhóm người có số lượng ít so với nhóm đa số sống trên cùng một lãnh thổ; là nhóm có sự yếu thế trong xã hội; có đặc điểm riêng về chủng tộc, dân tộc, ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống,…; người thiểu số có thể là công dân hoặc kiều dân của quốc gia nơi họ sinh sống. Xét về mặt chủ quan, người thiểu số phải có ý thức bảo tồn truyền thống văn hóa của mình” [41, tr. Tại Việt Nam, thuật ngữ “dân tộc thiểu số” được sử dụng để chỉ về nhóm người thiểu số về dân tộc (tộc người). Theo các nhà nghiên cứu, dân tộc ở Việt Nam xác định dựa trên ba tiêu chí chủ yếu, đó là: “Ngôn ngữ, Văn hóa và Ý thức tự giác tộc người.
Trong đó, ý thức tự giác tộc người là yếu tố cốt lõi. Một dân tộc luôn có tiếng nói riêng, có đặc trưng văn hóa riêng và tự nhận mình thuộc về tộc người đó. Năm 1979, các nhà Dân tộc học Việt Nam xác định bảng danh mục có 54 tộc người ở Việt Nam, đến nay bảng danh mục này được coi là văn bản pháp lí chính thống về tên gọi các tộc người cư trú trên lãnh thổ Việt Nam” [41, tr. Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 11 năm 2011 đã đưa ra định nghĩa về người DTTS.
Tại Điều 4 của Nghị định xác định: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoản 2). Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia (khoản 3 Điều 4). Như vậy, theo tiêu chí về số lượng người như trong Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 11 năm 2011 thì Việt Nam có 53/54 DTTS và 1/54 dân tộc đa số (người Kinh). Đánh giá theo tiêu chí này cũng tương đối đồng nhất với các tiêu chí xác định tộc người dựa 18 trên 3 tiêu chí (văn hóa, ngôn ngữ, ý thức tự giác tộc người).
Qua những phân tích trên, có thể hiểu về thuật ngữ người DTTS như sau: “Dân tộc thiểu số ở Việt Nam chỉ các nhóm người ít về số lượng so với nhóm đa số(người Kinh/Việt), là một cộng đồng mang tính tộc người liên kết với nhau bằng những đặc điểm về ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc người” [41, tr. Quyền của người dân tộc thiểu số Quyền của người DTTS nằm trong quyền của con người nói chung đã được pháp luật ghi nhận, nghĩa là người DTTS có những quyền cơ bản của con người. Với sự yếu thế về địa vị xã hội, địa vị pháp lý và đặc trưng riêng về dân tộc nên người DTTS ngoài quyền cơ bản còn có những quyền đặc thù. Những quyền đặc thù của người DTTS nhằm tạo điều kiện để người DTTS được đối xử công bằng, bình đẳng giữa nhóm người thiểu số với nhóm người đa số trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Ở góc độ quốc tế, đã có nhiều văn kiện ghi nhận quyền con người cơ bản và những quyền đặc thù của nhóm người thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, như: Công ước về Ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng (Điều 2), Công ước về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc (Điều 2, Điều 4), Công ước quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1996 ICESCR (Điều 13), Tuyên bố của Liên hợp quốc về dân tộc, chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo (Điều 5). Xét về nội dung cụ thể, quy định về quyền của người thiểu số được thể hiện rõ nhất tại điều 27 ICCPR.