Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự 1. Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung Theo từ điển tiếng Việt phổ thông thì hồ sơ có nghĩa là “toàn bộ tài liệu có liên quan với nhau về một người, về một sự việc hay về một vấn đề nào đó” [37]. còn hồ sơ vụ án là “toàn bộ các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án được sắp xếp một cách có trình tự, có hệ thống, tính trình tự và có hệ thống của hồ sơ do cơ quan hoặc do người quản lý hồ sơ quy định” [4.
Hồ sơ vụ án hình sự là một loại hồ sơ quan trọng trong hệ thống hồ sơ của Nhà nước ta, đây cũng chính là nguồn thông tin phản ánh trực tiếp diễn biến sự việc, quá trình điều tra, truy tố, xét xử, xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, làm cơ sở cho việc truy tố của VKS và xét xử của Tòa án. Hồ sơ vụ án hình sự phải có bảng thống kê tài liệu kèm theo. Bảng thống kê tài liệu cần ghi rõ tên tài liệu, số bút lục và đặc điểm của tài liệu (nếu có). Tính trình tự thể hiện ở việc cái gì quy định phải thu thập trước thì để trước, cái gì quy định thu thập sau thì để sau.
Tính hệ thống thể hiện ở chỗ văn bản, tài liệu thuộc vấn đề gì thì được sắp xếp theo một hệ thống thống nhất về vấn đề đó, được sắp xếp tập trung về các vấn đề đó. Ở mỗi giai đoạn tố tụng hình sự, hồ sơ vụ án 8 Luan van hình sự ở giai đoạn nào thì cơ quan tiến hành tố tụng ở giai đoạn đó sẽ có trách nhiệm bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Sau khi VKS ra bản cáo trạng (hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn), đánh dấu cho việc kết thúc giai đoạn truy tố, trong thời hạn luật định kể từ khi ra bản cáo trạng (hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn) thì VKS phải chuyển hồ sơ vụ án kèm bản cáo trạng (hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn) đến Tòa án. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa được giao nghiên cứu hồ sơ vụ án, tiến hành các hoạt động tố tụng để kiểm tra, đánh giá và quyết định có đưa vụ án ra xét xử hay không.
Trong trường hợp chưa đủ căn cứ để đưa vụ án ra xét xử, Tòa án sẽ ra các quyết định tố tụng như tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, trong đó có quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Bên cạnh đó, tại phiên tòa, khi đang xét xử giải quyết vụ án hình sự nếu có một trong các căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung theo luật định thì Tòa án cũng tiến hành hoạt động này. Theo từ điển tiếng Việt phổ thông thì “trả” có nghĩa là “đưa lại cho người khác cái đã lấy đi hoặc nhận được từ người ấy”[37], “bổ sung” có nghĩa là “việc làm đầy đủ cái gì đó”[37]. Có thể hiểu theo cách thông thường thì trả hồ sơ để điều tra bổ sung là việc trao lại toàn bộ hồ sơ vụ án cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền để làm đầy đủ, hoàn thiện hồ sơ.
Hiện nay, trong hệ thống khoa học pháp lý Việt Nam, về vấn đề trả hồ sơ để điều tra bổ sung cũng chưa có một khái niệm cụ thể nào. Theo đó, để nghiên cứu về khái niệm này, cần dựa trên mô hình TTHS Việt Nam. Là một quốc gia đi theo mô hình TTHS pha trộn thiên về thẩm vấn, TTHS Việt Nam phân chia quá trình giải quyết một vụ án hình sự thành các giai đoạn tố tụng, bao gồm: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử 9 Luan van và thi hành án. Quá trình giải quyết vụ án hình sự phải trả qua các giai đoạn tố tụng và ở mỗi giai đoạn các cơ quan THTT có chức năng, nhiệm vụ tương ứng khác nhau.
Tuy nhiên, các cơ quan đều nhằm thực hiện mục đích chung là phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi phạm tội, người phạm tội hay pháp nhân thương mại phạm tội. Do đó, việc giải quyết vụ án hình sự tất yếu phát sinh mối quan hệ chặt chẽ giữa các cơ quan THTT nhằm đảm bảo việc chứng minh tội phạm, tìm ra diễn biến sự việc phạm tội. Mối quan hệ giữa các cơ quan này là quan hệ pháp luật do pháp luật TTHS quy định, tức là quan hệ xã hội được xác lập, tồn tại, phát triển hoặc chấm dứt trên cơ sở quy định của pháp luật. Thẩm quyền điều tra vụ án được Nhà nước giao cho CQĐT.
CQĐT với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tiến hành thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, phục vụ cho việc truy tố của VKS, việc xét xử của Tòa án. CQĐT được pháp luật cho phép tiến hành các hoạt động tố tụng do BLTTHS quy định để thu thập tài liệu, chứng cứ, xác định sự thật của vụ án, như khởi tố bị can, hỏi cung bị can, triệu tập, lấy lời khai người làm chứng, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án,… Chứng cứ trong một vụ án hình sự là yếu tố quyết định để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Việc chứng minh sự kiện phạm tội, người phạm tội không có con đường nào khác ngoài việc dựa vào những chứng cứ đã thu thập được. Trong quá trình điều tra, CQĐT phải thu thập cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, làm rõ tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, từ đó tìm ra 10 Luan van nguyên nhân, điều kiện phạm tội.
Mục đích chủ đạo và xuyên suốt của hoạt động điều tra là chứng minh tội phạm và người phạm tội. Nếu trong giai đoạn điều tra vụ án có thiếu sót, chứng cứ chưa đầy đủ và còn có nhiều mâu thuẫn, phát sinh những chứng cứ mới có ý nghĩa đối với việc đánh giá toàn diện vụ án, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội, có biểu hiện vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, hoặc một số lý do khác như có sự khác nhau về quan điểm đánh giá chứng cứ vụ án giữa các cơ quan THTT, người THTT, thì trong giai đoạn truy tố hoặc giai đoạn xét xử, các cơ quan THTT có thể tự khắc phục được hoặc trả hồ sơ vụ án lại cho CQĐT để tiến hành điều tra bổ sung. Nhiệm vụ điều tra bổ sung được đặt ra cho CQĐT, CQĐT phải thực hiện theo đúng yêu cầu đã nêu trong Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của VKS hoặc của Tòa án. Thẩm quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung được pháp luật quy định cho VKS và Tòa án.
VKS bảo đảm hoạt động điều tra được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, kịp thời phát hiện các vi phạm quá trình điều tra và đề ra các biện pháp khắc phục, bảo đảm mọi hoạt động điều tra được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản kết luận điều tra đề nghị truy tố của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển đến, VKS tiến hành các hoạt động xem xét quyết định truy tố và giai đoạn này kết thúc khi VKS ra bản cáo trạng (hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn) chuyển Tòa án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án. Đây được gọi là giai đoạn “truy tố” của VKS. Trong giai đoạn này, VKS sử dụng các quyền năng luật định để bảo đảm cơ sở cho việc định tội danh, ban hành cáo trạng (hay quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn) truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử.
11 Luan van Trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung của VKS trong giai đoạn truy tố là hoạt động thực hiện chức năng thực hành quyền công tố của VKS. Trả hồ sơ để yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố thể hiện ý kiến đánh giá của VKS về công tác điều tra vụ án chưa đầy đủ, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà CQĐT đã tiến hành trong giai đoạn khởi tố, điều tra trước đó. Hoạt động này được phân biệt với các nhiệm vụ khi kiểm sát trong giai đoạn truy tố nhằm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc thực hiện hiệu quả chức năng của VKS. Quyền tư pháp theo nghĩa rộng bao hàm cả điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được giao cho các cơ quan: CQĐT, VKS, Tòa án, thi hành án thực hiện.
Tòa án là cơ quan được Quốc hội phân công trực tiếp thực hiện quyền tư pháp, có chức năng xét xử để bảo vệ pháp luật, bảo đảm lẽ phải và công bằng xã hội. Tòa án có thẩm quyền xét xử và nhân danh Nhà nước đề ra bản án giải quyết vụ án. Xét xử là giai đoạn của TTHS, tiếp theo giai đoạn truy tố, được tiến hành sau khi nhận được quyết định truy tố của VKS kèm theo hồ sơ vụ án và Tòa án thụ lý vụ án. Chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử, với chức năng “cầm cân, nảy mực” của mình, Tòa án sử dụng hết mức sự công tâm, bản lĩnh, nghiêm minh, khách quan, lắng nghe, phân xử, phán xét công minh tại phiên tòa.
Hoạt động xét xử của Tòa án có vai trò hết sức to lớn trong việc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Nhà nước, tập thể và nhân dân, tránh những xâm hại của tội phạm. Vì vậy, đòi hỏi Tòa án phải thật chính xác, công minh, thể hiện được ý chí nguyện vọng của nhân dân trong việc xét xử của mình.