Chương 1: Một số van dé lý luận và quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp tạm giữ; Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp tạm giữ tại tỉnh Điện Biên, một sỐ giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng áp dụng. 10 CHUONG 1: MOT SO VAN DE LY LUAN VA QUY DINH CUA BO LUAT TO TUNG HINH SỰ NAM 2015 VE BIEN PHAP TAM GIỮ 1. Khái niệm, đối tượng, đặc điểm, mục đích va ý nghĩa của việc quy định biện pháp tạm giữ 1. Khai niệm biện pháp tạm giữ Đề bảo đảm tốt việc thực hiện các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, bảo đảm quyển con người trong TTHS, pháp luật TTHS phải đặt ra những quy định cụ thể, chỉ tiết về các BPNC, trong đó có biện pháp tạm giữ.
Tạm giữ cũng như các biện pháp khác được quy định nhằm bao đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm cho công tác phòng chống tội phạm, đồng thời không tuỳ tiện hạn chế quyền con người, đặc biệt là quyền tự do thân thể, tự do di lại, cư trú của người bị buộc tội. Theo giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2018 thì biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong TTHS, do cơ quan, người có thâm quyên tiến hành tố tụng áp dụng đối với bi can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ; ngăn chặn việc họ bỏ tron, tiêu hủy chứng cứ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trồn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Biện pháp ngăn chặn là biện pháp mang tính chất phòng ngừa, không mang tính chất trừng trị và khi được áp dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân và được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác'. Theo giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019 thì biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong ! Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tổ tụng hình sự Việt Nam, Nxb.
Công an nhân dân, Ha Nội, tr. II TTHS được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền tiễn hành tố tụng, công dân áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang, người có lệnh truy nã hoặc bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội, không để họ cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như nhằm bảo đảm cho việc thi hành án”. Trong khoa học luật TTHS đã có một số quan điểm khái niệm khác nhau về biện pháp tạm giữ được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu và các khái niệm này đều đề cập tới biện pháp tạm giữ với tư cách là một loại biện pháp ngăn chặn. Cụ thé, qua nghiên cứu một SỐ công trình khoa học về luật TTHS thì thấy có một số quan điểm khái niệm về biện pháp tạm giữ như sau: Quan điểm thứ nhất: Tam giữ là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, phạm bị bắt trong trường hợp tội quả tang, người phạm tội tự thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy na’.
Quan điểm thứ hai: Tam giữ là biện pháp ngăn chặn do cơ quan tiến hành tố tụng có thảm quyền quyết định tước tự do thân thé trong thời hạn nhất định đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm bảo đảm cho CQDT có thời gian tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu để có cơ sở quyết định khởi tố bị can, tam giam hoặc trả tự do cho người bị bat’. Theo tác giả, hai quan điểm nay đã xác định đúng những nội dung thuộc nội hàm khái niệm biện pháp tam giữ như chủ thé có thâm quyền và đối tượng áp dụng biện pháp này, và về hình thức pháp lý, được quy định trong 2 Trường Đại học Quốc gia Hà Nội (2019),Gido trình Luật tô tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình luật to tụng hình sự Việt Nam, Nxb.
Công an nhân dân, Ha Nội, tr. “ Trường Dai học Quốc gia Hà Nội (2019), Giáo trinh Luật tô tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. Tuy nhiên, những khái niệm này chưa thé hiện căn cứ cũng như mục dich áp dung của biện pháp ngăn chặn tạm gilt. Quan điểm thứ ba: Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn do người có thâm quyền tiến hành tố tụng áp dụng hạn chế tự do thân thé trong một thời hạn nhất định đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn việc họ sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tô, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội”.
Theo tác giả, quan điểm này đã nêu được chính xác bản chất pháp lý của biện pháp tạm giữ là biện pháp cưỡng chế trong TTHS thé hiện ở việc tạm thời hạn chế quyền tự do thân thé của người bi áp dụng nó, ngoài ra cũng chính xác về chủ thé áp dụng, đối tượng và mục đích áp dụng. Tuy nhiên, khái niệm này cũng vẫn chưa làm được căn cứ cũng như nêu đầy đủ mục đích áp dụng của biện pháp tạm git. Quan điểm thứ tư: Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong luật TTHS thể hiện việc người hoặc co quan có thâm quyền quyết định tước tự đo với thời hạn ngắn đối với người bị bắt trong trường hợp khan cấp, trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc người có lệnh truy nã nhằm ngăn chặn người bị bắt trốn việc điều tra, xác minh và để quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự (khởi tố bị can) đối với ho®. Quan điểm trên đã nêu được khá đầy đủ về chủ thé có thâm quyền, các dấu hiệu về tính chất cưỡng chế, đối tượng áp dụng, trường hợp áp dụng cũng như mục đích áp dụng biện pháp tạm giữ nhưng chưa chỉ ra được đầy đủ căn cứ áp dụng biện pháp này.
5 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2016), Giáo trình Luật t6 tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr. 5 Nguyễn Mai Bộ (1997), Những biện pháp ngăn chặn trong tô tụng hình sự, Nxb. Chính trị Quôc gia, Hà Nội, tr.
13 Quan điểm thứ năm: Tạm giữ là một BPNC của TTHS hạn chế tự do thân thé của công dân do cơ quan nhà nước có thâm quyén áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc trường hợp phạm tội quả tang và đã có quyết định tạm giữ nhưng chưa được khởi tố nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội cản trở hoạt động điều tra”. Cũng giống như quan điểm thứ nhất, quan điểm này cũng cơ bản làm rõ được các dấu hiệu của biện pháp tạm giữ như chủ thé có thầm quyền và đối tượng áp dụng, tính chất cưỡng chế, trường hợp và mục đích áp dụng nhưng lại chưa chỉ rõ được căn cứ áp dụng biện pháp tạm git. Quan điểm thứ sáu: Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do người có thâm quyền của cơ quan điều tra và các cơ quan khác do pháp luật quy định áp dụng, tạm thời hạn chế tự do thân thé trong thời hạn ngắn đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã, nhằm ngăn chan tội phạm, hành vi can trở hoạt động điều tra của người bị tạm giữ, bảo đảm cho Cơ quan điều tra có thời gian tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu để trên cơ sở đó đưa ra các quyết định tố tụng như khởi tố bị can, tạm giam, áp dụng biện pháp ngăn chặn khác hoặc trả tự do cho ho’. Theo tác giả đánh giá, quan điểm thứ sáu này đã nêu được chính xác bản chất pháp lý của biện pháp tạm giữ là biện pháp cưỡng chế trong TTHS thê hiện ở việc tạm thời hạn chế quyền tự do cá nhân của người bi áp dụng nó, ngoài ra cũng chính xác về chủ thé áp dụng, đối tượng và mục dich áp dụng.
Tuy nhiên, hạn chế của quan điểm này là do căn cứ vào quy định của BLTTHS năm 2003 nên vẫn xác định một trong những đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ là “người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp”. Theo quy 7 Viện khoa học pháp lý — Bộ tư pháp (2006), Tir điểm luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr. Š Trân Quang Tiệp (2005), Vé tw do cá nhân và biện pháp ngăn chặn trong to tụng hình sự, Nxb.
Chính trị Quoc gia, Hà Nội, tr. 14 định tại khoản 1 Điều 117 của BLTTHS hiện hành thì đối tượng của biện pháp tạm giữ có thé áp dụng đối với người bị giữ trong trường hop khan cấp. Như vậy, những quan điểm nêu trên đã được phân tích và đánh giá ở nhiều khía cạnh khác nhau của biện pháp tạm giữ và tương đối thống nhất khi dé cập đến ban chất pháp lý của nó. Trong BLTTHS hiện hành vẫn chưa có quy định cụ thé về khái niệm biện pháp tạm giữ.
Cho nên, van còn có những quan điểm khác nhau về biện pháp ngăn chặn này. Dé nêu ra được khái niệm chính xác về biện pháp tạm giữ cần phải đưa ra đầy đủ những nội dung như: Ban chất pháp ly, căn cứ áp dung, chủ thé có thầm quyền áp dụng, đối tượng bị áp dụng và mục đích áp dụng. Về bản chất pháp lý: Tạm giữ là biện pháp chăn chặn được quy định trong luật TTHS, thể hiện việc hạn chế quyền tự do thân thể, quyền tự do đi lại của mỗi con người. Hạn chế những quyền vừa nêu trên dé cách ly họ khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định được quy định cụ thể trong BLTTHS.