Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN TREO 1. Khái niệm, đặc điểm thi hành án hình sự và thi hành án treo 1. Khái niệm, đặc điểm thi hành án hình sự Hiện nay, trong giới nghiên cứu khoa học hình sự có nhiều quan điểm về khái niệm thi hành án hình sự, nhưng tựu chung lại có hai quan điểm chính: Quan điểm thứ nhất cho rằng, thi hành án hình sự là một giai đoạn đặc biệt của tố tụng hình sự, là giai đoạn cuối của tố tụng hình sự. Tiêu biểu cho quan điểm này là nhà luật học Liên Xô cũ M.A Trenxốv và một số nhà luật học khác như TS.
Nguyễn Hữu Thư, PGS.TS Nguyễn Tất Viễn. Theo đó, các nhà luật học này cho rằng thi hành án là hoạt động bảo vệ pháp luật, nhằm đảm bảo cho bản án của Tòa án được thi hành. Vì vậy, việc Tòa án tuyên bố bản án chưa phải là kết thúc hoạt động tư pháp. Chỉ khi đảm bảo bản án được thực thi trong thực tiễn, đảm bảo bản án được thực thi đầy đủ thì mới kết thúc hoạt động tố tụng hình sự.
Do đó, thi hành án hình sự chính là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng hình sự. Thi hành các bản án là giai đoạn tiếp theo và gắn liền với các hoạt động tố tụng hình sự trước đó, không thể tách rời. Tuy cơ quan thi hành án không thuộc hệ thống các cơ quan tố tụng hình sự nhưng hoạt động của các cơ quan thi hành án lại thực hiện nhiệm vụ tư pháp, thực hiện giai đoạn cuối của hoạt động tố tụng hình sự. 12 Luan van Hơn nữa, theo quan điểm này thì thi hành án hình sự sở dĩ được coi là một giai đoạn đặc biệt trong hoạt động tố tụng hình sự còn bởi vì nó được quy định trong Luật tố tụng hình sự ở nhiều quốc gia.
Ngay trong Điều 1, Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 quy định phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Tố tụng hình sự là: “Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; (…)”[6] .Điều 1, Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam 2015: “Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; (…)”[11]. Quan điểm thứ hai cho rằng, thi hành án hình sự là một lĩnh vực hành chính tư pháp độc lập, không liên quan tới hoạt động tố tụng hình sự, được điều chỉnh bởi ngành Luật thi hành án hình sự. Tiêu biểu cho quan điểm này là GS.TSKH Đào Trí Úc, GS.TS Võ Khánh Vinh,PGS. Họ cho rằng thi hành án hình sự là một lĩnh vực độc lập bởi lẽ nó không chứa đựng các quan hệ tố tụng.
Theo đó, khi nói đến quan hệ trong tố tụng hình sự là nói đến quan hệ ngang quyền trong việc tìm kiếm bằng chứng giữa bên buộc tội và bên bị buộc tội, tranh luận giữa phiên tòa để tìm ra sự thật khách quan để quyết định áp dụng hay không áp dụng hình phạt với người bị buộc tội. Trong khi đó, hoạt động thi hành án hình sự không có tính bình đẳng, ngang quyền này. Thi hành án hình sự hoàn toàn là sự bắt buộc, thể hiện quyền uy tuyệt đối của nhà nước với người bị thi hành bản án. Hay nói cách khác, thi hành án hình sự không phải là hoạt động tư pháp mà là hoạt động hành pháp.
Hoạt động thi hành án hình sự khác với các hoạt động tố tụng hình sự mặc dù có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động tố tụng hình sự. Thủ tục thi hành án không phải là thủ tục tố tụng mà là thủ tục chấp hành, điều hành. 13 Luan van Theo tác giả, quan điểm thứ nhất bị nhầm lẫn khi cho rằng: trong một văn bản quy phạm pháp luật chỉ có thể chứa đựng các quy phạm pháp luật của ngành luật đó. Thực tế cho thấy, trong văn bản quy phạm pháp luật có thể chứa đựng các quy phạm của nhiều ngành luật khác nhau.
Do đó, không phải mọi quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự đều thuộc về ngành tố tụng hình sự. Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự có thể quy định một số thủ tục thi hành án, song do tố tụng hình sự kết thúc từ khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu có thể nói thi hành án hình sự nằm ngoài phạm vi tố tụng hình sự. Như vậy, việc xác định đúng bản chất của thi hành án hình sự có ý nghĩa lớn trong nhiều phương diện, đặc biệt là tạo là mô hình quản lý, hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án hình sự. Từ những phân tích trên và quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về thi hành án hình sự, tác giả cho rằng: thi hành án hình sự là việc các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các cá nhân có liên quan đến bản án phối hợp đưa người bị kết án phải chấp hành bản ántrên thực tế nhằm phát huy hiệu lực của bản án đã tuyên.
Về bản chất, thi hành án hình sự không phải một giai đoạn của tố tụng hình sự, mang tính chất của hoạt động tư pháp nặng về hành pháp mà thi hành án hình sự mang tính hành chính-tư pháp. Mục đích của thi hành án hình sự khác với mục đích của tố tụng hình sự. Thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Mối quan hệ giữa các chủ thể trong thi hành án hình sự là tổ chức thi hành, có tính hành chính, mệnh lệnh, bắt buộc chấp hành.
Theo đó, thi hành án hình sự mang những đặc điểm riêng biệt như là hoạt động có tính chấp hành; là dạng hoạt động có tính quản lý; kết hợp giữa phương pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế, mệnh lệnh bắt buộc; chủ 14 Luan van thể tham gia gồm nhiều cơ quan chức năng và tổ chức xã hội dựa theo quy định của pháp luật. Nói thi hành án là hoạt động có tính thi hành bởi lẽ thi hành án chỉ được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật cho phép nhằm hiện thực hóa, thi hành các quyết định, bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Mục đích cuối cùng của thi hành án là hiện thực hóa bản án của Tòa chứ không phải ra các văn bản áp dụng pháp luật hay các văn bản mang tính điều hành của cơ quan hành chính. Bởi vậy thi hành án phải kết hợp giữa phương pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế, mệnh lệnh bắt buộc.
Trong đó, phương pháp giáo dục, thuyết phục tuy có ý nghĩa lớn nhưng mang tính đặc thù của thi hành án lại là phương pháp cưỡng chế, mệnh lệnh bắt buộc do bản chất của việc thi hành án chính là thực thi quyết định, bản án của Tòa đã có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, ngay cả việc người phải thi hành án tự nguyện thi hành cũng là thực hiện “mệnh lệnh” bắt buộc của Tòa đã tuyên trong bản án trước đó. Khái niệm của thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo Trong lý luận và qua thực tiễn áp dụng án treo ở nước ta trong những năm gần đây có thể thấy tồn tại rất nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau về án treo. Án treo là một chế định hình sự ra đời rất sớm trong tư pháp hình sự Việt Nam và hiện diện trong khoa học pháp luật hình sự Việt Nam.
Trên thế giới, không phải luật hình sự quốc gia nào cũng có chế định án treo. Tại Việt Nam, chế định “án treo” xuất hiện từ Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 đến nay với nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau. Trong nhiều công trình nghiên cứu luật học “án treo” được hiểu là “tạm đình chỉ việc thi 15 Luan van hành án” hoặc là một biện pháp “hoãn hình phạt tù có điều kiện” hay “biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện”. Tổng hợp từ những phân tích trên, có thể hiểu “án treo” là một chế định pháp luật hình sự, là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện được Tòa áp dụng đối với những người phạm tội hình sự, không buộc họ bị giam giữ mà họ được “tại ngoại” khi có đầy đủ căn cứ và điều kiện theo pháp luật quy định về mức phạt tù, thân nhân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ… “Án treo” không phải là một loại hình phạt mà nó chỉ là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.
Điều đó có nghĩa là, khi Toà án xét xử một người phạm tội thì Toà án phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, cũng như hậu quả xảy ra để ấn định mức phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội, sau đó mới xét đến các điều kiện mà pháp luật quy định để xem xét có nên cho người đó được hưởng án treo hay không. Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định tại khoản 5 Điều 3: “Thi hành án treo là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này giám sát, giáo dục người bị phạt tù được hưởng án treo trong thời gian thử thách”[8].Quy định này không thay đổi khi Luật Thi hành án hình sự 2019 ra đời thay thế Luật Thi hành án hình sự 2010. Như vậy thi hành án treo là quá trình cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật Thi hành án hình sự giám sát người bị phạt tù được hưởng án treo (được miễn hình phạt tù có điều kiện) trong thời gian thử thách. Hay nói cách khác, người được hưởng án treo không phải chấp hành hình phạt trong trại giam, không bị cách ly gia đình, cộng đồng, xã hội nhưng vẫn bị tước một số quyền tự do nhất định như: không được di chuyển khỏi địa phương cư trú…và chịu sự giám sát của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định.
Đặc điểm của thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo Vì án treo không phải là một trong những hình phạt cho người phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam nên thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo ngoài những đặc điểm chung của thi hành án hình sự thì thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo còn mang nhiều điểm khác biệt với thi hành các hình phạt khác trong thi hành hình sự.