Chương 1: Cơ sở lý luận về mô hình Thừa phát lại ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng mô hình Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện mô hình Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay 6 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC THỪA PHÁT LẠI Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò mô hình Thừa phát lại ở Việt Nam 1.
Khái niệm Để làm rõ cái khái niệm về mô hình tổ chức của TPL ở Việt Nam, tác giả tập trung nghiên cứu một số các khái niệm cơ bản có liên quan như sau: 1. Khái niệm TPL ở Việt Nam Trong thời gian qua cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến Thừa phát lại và khái niệm Thừa phát lại. Qua nghiên cứu cho thấy: Tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 61/2009/NĐ-CP quy định: Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan [16]. Với cách nhìn nhận trên thì Thừa phát lại là một chức danh đặc thù được Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện một số nhiệm vụ bổ trợ tư pháp như thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định.
Ở một khía cạnh khác, có quan điểm cho rằng: Thừa phát lại là một nghề xuất hiện trên thế giới hàng trăm năm nay, hiện có 72 nước là thành viên của Liên minh Thừa phát lại quốc tế. Ở Việt Nam, Thừa phát lại xuất hiện từ thời Pháp thuộc, miền Bắc gọi là Chưởng tòa, miền Trung gọi là Mõ tòa, miền Nam là Thừa phát lại…. Trong trường hợp này, không định nghĩa cụ thể về Thừa phát lại nhưng lại có những tên gọi rất đặc thù theo từng vùng miền khác nhau. Ngoài những quan niệm trên, có ý kiến lại cho rằng: Thừa phát lại là người có các tiêu chuẩn, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để làm các 7 Luan van công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định [87].
Thừa phát lại tương tự như chức mõ tòa (Người giữ việc báo tin và thi hành các quyết định của tòa án trong xã hội cũ, có khi trông nom cả việc bán các động sản của Nhà nước) và chấp hành viên”. Quan niệm này cũng có những nét tương đồng với quan điểm thứ hai nhưng lại làm rõ hơn một số khía cạnh, trong đó có những khía cạnh thể hiện sự tương đồng với quan điểm thứ nhất. Kế thừa các quan điểm nghiên cứu trước đây, tác giả luận văn thấy rằng khái niệm TPL theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 61/2009/NĐ- CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ quy định: “TPL là người được Nhà nước bổ nhiệm đề làm các công việc về THADS, tống đạt giấy tờ, lập Vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan” [16]. Đến Nghị định số 135/2013/NĐ – CP ngày 18/10/2013, Nghị định sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số Điều của Nghị Định số 61/2009/NĐ – CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh đã xác định: “Thừa phát lại là người có các tiêu chuẩn, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để làm các công việc theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan” [19].
Thừa phát lại được tham gia thực hiện những công việc hỗ trợ Tòa án, cơ quan THADS trong tống đạt các văn bản giấy tờ; hoạt động xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thi hành án và lập Vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức, là phù hợp nhất. Khái niệm về mô hình và mô hình tổ chức Về khái niệm mô hình: Hiện nay cũng còn có nhiều cách hiểu khác nhau về mô hình. Có quan điểm điểm cho rằng: Mô hình (model) là sự đơn giản hóa hiện thực một cách có chủ định. Nó cho phép nhà nghiên cứu bỏ qua các mặt thứ 8 Luan van yếu để tập trung vào phương diện chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng đối với vấn đề nghiên cứu.
Theo Từ điển Tiếng việt thì:“Mô hình theo nghĩa Danh từ là vật cùng hình dạng nhưng được làm thu nhỏ lại nhiều lần, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để tiện trình bày, nghiên cứu như: mô hình máy bay; mô hình khu đô thị mới, hình thức diễn đạt hết sức gọn các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng theo một phương tiện nào đó để nghiên cứu đối tượng ấy .” Tôi cho rằng, dù với cách hiểu nào thì mô hình cũng chỉ là sự đơn giản hóa hiện thực một cách có chủ định, mô phỏng cấu tạo tổ chức và hoạt động của một vật khác để tiện trình bày, nghiên cứu. Nó cho phép nhà nghiên cứu bỏ qua các mặt thứ yếu để tập trung vào phương diện chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng đối với vấn đề nghiên cứu. Về khái niệm tổ chức: Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về khái niệm tổ chức. Kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, tổ chức là một hệ thống gồm nhiều người cùng hoạt động vì mục đích chung (danh từ tổ chức).
Hay tổ chức là quá trình triển khai các kế hoạch (động từ tổ chức theo nghĩa rộng). Như vậy chúng ta có thể hiểu chức năng tổ chức là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm thiết lập một cơ cấu, hệ thống các vị trí cho mỗi cá nhân và các bộ phận sao cho các cá nhân và bộ phận có thể phối hợp với nhau một cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu của tổ chức. Có thể nói về bản chất tổ chức là việc phân công lao động một cách khoa học. Có nhiều hình thức của tổ chức như tổ chức kinh tế xã hội, tổ chức đoàn thể…phân loại tùy theo chức năng của tổ chức.
Khái niệm về mô hình tổ chức Thừa phát lại ở Việt Nam Qua việc nghiên cứu các khái niệm về TPL, mô hình tổ chức ở trên, tác giả cho rằng: Mô hình tổ chức TPL là việc mô phỏng tổ chức, hoạt động của TPL với cơ cấu, hệ thống các vị trí cho mỗi cá nhân, các bộ phận sao cho cá 9 Luan van nhân và bộ phận có thể phối hợp với nhau một cách tốt nhất, qua đó duy trì hiệu quả hoạt động của TPL với tư cách là công lại được Nhà nước trao quyền để cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm, đặt dưới sự quản lý nhà nước, đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Đặc điểm mô hình tổ chức Thừa phát lại ở Việt Nam Về mục tiêu của tổ chức: Xã hội hóa là giải pháp cải cách tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, huy động nguồn lực và tăng cường trách nhiệm của xã hội đối với các hoạt động của Nhà nước mà nội dung trọng tâm là chuyển giao công việc của Nhà nước đang trực tiếp thực hiện cho các tổ chức xã hội, góp phần làm giảm và từng bước chuyển giao công việc không cần thiết phải do Nhà nước thực hiện với mục đích phát huy tiềm năng của cá nhân, tổ chức trong xã hội. Đây chính là mục tiêu để Nhà nước hướng đến xây dựng mô hình tổ chức TPL ở Việt Nam. Hoạt động của Thừa phát lại bước đầu đã đạt được mục tiêu đặt ra cho hoạt động Thừa phát lại.
Về chức năng, nhiệm vụ của mô hình tổ chức TPL: Thừa phát lại được thực hiện những công việc như tống đạt theo yêu cầu của tòa án hoặc cơ quan thi hành án dân sự; lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự; trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của tòa án theo yêu cầu của đương sự và theo quy định của pháp luật. Về cơ cấu tổ chức: Thừa phát lại là nghề bổ trợ tư pháp, hoạt động của Thừa phát lại có tác động đối với kinh tế - xã hội, đối với hoạt động tư pháp và nhu cầu của người dân. Do vậy, việc xây dựng mô hình tổ chức, đội ngũ Thừa phát lại cần phải hướng tới chuyên nghiệp; việc quản lý nhà nước đối với các hoạt động này phải bảo đảm hiệu quả, vừa tạo điều kiện hỗ trợ Thừa phát lại nhưng đồng thời phải kịp thời ngăn chặn, chấn chỉnh những vi phạm, 10 Luan van sai sót. Bên cạnh đó, chế định Thừa phát lại được xây dựng trong mối tương quan, quan hệ với các nghề bổ trợ tư pháp khác.
Về quyền lực của tổ chức: Phạm vi, thẩm quyền hoạt động của Thừa phát lại được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định trước đây về các công việc mà Thừa phát lại được làm: tống đạt văn bản của Tòa án và cơ quan thi hành án, tống đạt văn bản của đương sự trong các vụ việc dân sự, hành chính; thực hiện tống đạt văn bản của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp (theo Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại) và tống đạt văn bản của các cơ quan, tổ chức khác; lập vi bằng; xác minh điều kiện thi hành án liên quan đến việc thi hành án thuộc thẩm quyền thi hành của các cơ quan thi hành án dân sự trên phạm vi toàn quốc; tổ chức thi hành án dân sự trong phạm vi được pháp luật cho phép. Về nguồn lực của tổ chức: - Nguồn lực con người. Là nguồn lực đặc biệt không thể thiếu, nó quyết định tới sự thành bại của tổ chức. Quá trình tồn tại cũng như sự phát triển của nguồn nhân lực không chỉ chịu sự tác động của biến động tự nhiên (sinh, chết.) và biến động cơ học (di dân) mà còn chịu sự ảnh hưởng của hệ thống các quy luật: quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… Nguồn lực con người được xem xét trên hai khía cạnh chính là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực.
Trong trường hợp này thì nguồn lực để đáp ứng yêu cầu của tổ chức TPL chính là đội ngũ TPL và thư ký. Lực lượng này đòi hỏi phải được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp cả về chuyên môn và kỹ năng nghề. - Nguồn lực công nghệ.