Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thành phố Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của cả nước. Bên cạnh tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng, đây cũng là địa bàn phát sinh nhiều điều kiện thuận lợi để các đối tượng phạm tội xâm phạm sở hữu, đặc biệt là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lợi dụng hoạt động. Thực tiễn công tác quản lý nhà nước còn nhiều kẽ hở trong các lĩnh vực như đất đai, tài chính - ngân hàng, quản lý giao dịch dân sự, tạo điều kiện cho hành vi gian dối diễn biến phức tạp. Đặc biệt, trong bối cảnh xã hội phục hồi sau đại dịch Covid-19, tình trạng thất nghiệp, phá sản gia tăng khiến loại tội phạm này có xu hướng tăng cả về quy mô, số lượng vụ án lẫn mức độ thiệt hại tài sản cho các tổ chức và cá nhân.

Các đối tượng phạm tội thường sử dụng thủ đoạn tinh vi, lợi dụng các kẽ hở pháp luật để tạo "vỏ bọc hợp pháp" cho hành vi chiếm đoạt trong các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, bất động sản, chứng khoán, xuất khẩu lao động. Nhằm làm rõ các đặc trưng pháp lý và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật, tác giả Nguyễn Quang Trường thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự năm 2015 từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội" dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Thị Diễm Hằng tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023).

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là đưa ra giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự thông qua việc làm rõ quy định, đánh giá thực tiễn và phát hiện các vướng mắc, bất cập. Để đạt mục đích này, khóa luận xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  2. Đánh giá thực trạng áp dụng quy định pháp luật đối với tội danh này qua thực tiễn xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm tại Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Hà Nội giai đoạn 2019 - 2023; phân tích các vướng mắc, bất cập và nguyên nhân tồn tại.
  3. Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong BLHS năm 2015 và thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Hà Nội. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các dấu hiệu pháp lý dưới góc độ khoa học luật hình sự, các số liệu xét xử sơ thẩm và phúc thẩm tại TAND thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2019 - 2023, cùng các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án.

Cơ sở pháp lý, lý luận và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở pháp lý, khóa luận căn cứ vào hệ thống văn bản pháp luật thực định của Việt Nam, trọng tâm là Điều 174 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cùng các điều khoản liên quan như Điều 12 (Tuổi chịu trách nhiệm hình sự), Điều 21 (Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự), Điều 52 (Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự), Điều 53 (Tái phạm, tái phạm nguy hiểm), và các điều luật quy định tội danh giáp ranh gồm Điều 175 (Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản), Điều 198 (Tội lừa dối khách hàng), Điều 355 (Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản). Nghiên cứu cũng sử dụng Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 (về tài sản), Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn xét xử các tội phạm tham nhũng và chức vụ, cùng các văn kiện chỉ đạo cải cách tư pháp như Nghị quyết số 08/NQ-TW (2002) và Nghị quyết số 49/NQ-TW (2005) của Bộ Chính trị.

Về cơ sở lý luận, đề tài kế thừa các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý tiêu biểu, bao gồm:

  • Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2021), Trường Đại học Luật - ĐHQG Hà Nội (2020), và Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2016).
  • Sách bình luận khoa học BLHS của các tác giả: Nguyễn Ngọc Điệp (2018), Nguyễn Thị Phương Hoa - Phan Anh Tuấn (2017), Nguyễn Ngọc Hòa (2018), Trần Văn Biên - Đinh Thế Hưng (2017).
  • Các luận văn thạc sĩ luật học chuyên sâu: Trần Thị Phương Hiền (2007), Đặng Thị Thanh Huyền (2016), Triệu Thị Tuyết (2019), Nguyễn Thị Thu Thủy (2020), Lê Lương Toản (2022), Dương Tiến Thành (2023).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp - khái quát hóa lý luận, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu lịch sử lập pháp Việt Nam qua các thời kỳ và so sánh luật hình sự nước ngoài gồm Trung Quốc và Thụy Điển), phương pháp thống kê xã hội học pháp lý và phương pháp nghiên cứu điển cứu án văn (case study) dựa trên các bản án hình sự thực tế.

Nguồn dữ liệu thực tiễn được thu thập trực tiếp từ các bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm và số liệu thống kê xét xử của TAND thành phố Hà Nội giai đoạn 2019 - 2023, bao gồm Bảng 3.1, Bảng 3.2, Bảng 3.3 và Biểu đồ 3.1 trong văn bản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Chương 1 tập trung làm rõ nguồn gốc lý luận, bản chất pháp lý và tiến trình lập pháp điều chỉnh hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

  • Khái niệm và đặc điểm: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối. Tác giả chỉ ra cấu thành của tội danh gồm hai hành vi liên kết chặt chẽ: hành vi gian dối (đóng vai trò là phương tiện, điều kiện) và hành vi chiếm đoạt (là mục đích và kết quả). Điểm mấu chốt là thủ đoạn gian dối phải xuất hiện trước thời điểm chuyển giao tài sản để làm cho người có tài sản tin tưởng mà tự nguyện giao tài sản.
  • Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam:
    • Giai đoạn 1945 - trước 1985: Thông tư 442-TTg (1955) nêu tên tội danh một cách giản đơn; hai Pháp lệnh ngày 23/10/1970 (Pháp lệnh 149-LCT về tội phạm xâm hại tài sản XHCN và Pháp lệnh 150-LCT về xâm phạm tài sản riêng của công dân) đã quy định cụ thể hành vi gian lận; Sắc lệnh 03-SL/76 tại miền Nam được hướng dẫn bởi Thông tư 03-BTP/TT (1976) và Chỉ thị 5/CT-TATC (1977) của TAND Tối cao nhằm thống nhất áp dụng pháp luật hai miền trước khi có bộ luật thống nhất.
    • Bộ luật Hình sự năm 1985: Tách thành Điều 134 (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN) và Điều 157 (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân). Qua 4 lần sửa đổi, bổ sung (1989, 1991, 1992, 1997), luật bổ sung tình tiết "có tính chất chuyên nghiệp", đưa mức phạt cao nhất lên tử hình (năm 1991), bổ sung tình tiết lợi dụng danh nghĩa cơ quan, và tách Điều 134a thành tội danh độc lập vào năm 1997.
    • Bộ luật Hình sự năm 1999: Hợp nhất các quy định phân biệt hình thức sở hữu thành một tội danh thống nhất tại Điều 139 (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản), quy định mức định lượng giá trị tài sản tối thiểu từ năm trăm nghìn đồng làm ranh giới xử lý hình sự và hành chính.
  • Pháp luật hình sự một số nước:
    • Bộ luật Hình sự CHND Trung Hoa: Điều 266 không đặt tên tội danh riêng mà mô tả cấu thành hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản công/tư với số lượng "tương đối lớn", phân chia 3 khung hình phạt (đến 3 năm; 3 - 10 năm; từ 10 năm trở lên/chung thân) và đều áp dụng kèm hình phạt tiền.
    • Bộ luật Hình sự Thụy Điển: Chương 9 quy định tội lừa đảo và các tội gian dối khác (Điều 1: tội cơ bản; Điều 2: trường hợp ít nghiêm trọng như sử dụng phương tiện, khách sạn, dịch vụ mà không trả tiền; Điều 3: trường hợp nghiêm trọng có lạm dụng chức vụ, giấy tờ giả; Điều 11: quy định xử lý hành vi chuẩn bị phạm tội).
Giai đoạn / Văn bản Tên điều luật / Tội danh Đặc điểm cấu thành và phân hóa sở hữu Mức hình phạt cao nhất
Pháp lệnh 149-LCT & 150-LCT (1970) Điều 10 (Tài sản XHCN) & Điều 7 (Tài sản công dân) Phân biệt rõ hai chế độ sở hữu: tài sản XHCN (gian lận cân đo, sổ sách) và tài sản công dân. Phạt tù theo mức độ thiệt hại
Bộ luật Hình sự 1985 Điều 134 (Tài sản XHCN) & Điều 157 (Tài sản công dân) Duy trì phân biệt sở hữu; qua 4 lần sửa đổi (bổ sung Điều 134a năm 1997). Tử hình (sửa đổi năm 1991 áp dụng cho cả hai tội)
Bộ luật Hình sự 1999 Điều 139 (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) Hợp nhất bảo vệ mọi hình thức sở hữu bình đẳng; đưa định lượng giá trị từ 500.000 đồng. Tù chung thân hoặc Tử hình (khoản 4)
Bộ luật Hình sự CHND Trung Hoa Điều 266 (Lừa đảo tài sản công/tư) Bảo vệ tài sản công và tư; phân cấp theo số lượng tương đối lớn, lớn, đặc biệt lớn. Tù chung thân, phạt tiền hoặc tịch thu tài sản
Bộ luật Hình sự Thụy Điển Chương 9 (Điều 1, Điều 2, Điều 3, Điều 11) Quy định chi tiết gian dối dữ liệu tự động, quỵt tiền dịch vụ; xử lý cả hành vi chuẩn bị phạm tội. Phạt tù từ 6 tháng đến 6 năm (khoản nghiêm trọng)

Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Chương 2 đi sâu phân tích cấu thành tội phạm, khung hình phạt và tiêu chí phân định ranh giới tội danh theo Điều 174 BLHS năm 2015:

  • Các yếu tố cấu thành tội phạm:
    • Khách thể: Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đối tượng tác động là tài sản theo Điều 105 BLDS 2015 (vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản), loại trừ các đối tượng đặc biệt chịu sự điều chỉnh của điều luật khác (ma túy theo Điều 252, tài nguyên khoáng sản theo Điều 227).
    • Mặt khách quan: Gồm hành vi gian dối (cung cấp thông tin sai lệch qua lời nói, giấy tờ giả, mạo danh...) và hành vi chiếm đoạt (chuyển dịch tài sản trái pháp luật). Định lượng khởi điểm cấu thành cơ bản là từ 2.000.000 đồng trở lên, hoặc dưới 2.000.000 đồng nếu kèm theo điều kiện phụ (đã bị xử phạt hành chính/kết án chưa xóa án tích, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, tài sản là phương tiện kiếm sống chính).
    • Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực TNHS (Điều 12 BLHS 2015 quy định người từ 14 đến dưới 16 tuổi không phải chịu TNHS về tội này).
    • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp, động cơ vụ lợi, mục đích chiếm đoạt hình thành trước khi thực hiện hành vi nhận tài sản.
  • Hệ thống hình phạt áp dụng (Điều 174):
    • Hình phạt chính: Khung 1 (khoản 1: phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm); Khung 2 (khoản 2: phạt tù từ 02 năm đến 07 năm - có tổ chức, chuyên nghiệp, từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ quyền hạn, thủ đoạn xảo quyệt); Khung 3 (khoản 3: phạt tù từ 07 năm đến 15 năm - từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng, lợi dụng thiên tai, dịch bệnh); Khung 4 (khoản 4: phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân - từ 500 triệu đồng trở lên, lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp).
    • Hình phạt bổ sung (khoản 5): Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm, hoặc tịch thu một phần/toàn bộ tài sản.
  • Phân biệt với các tội danh lân cận:
    • Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175): Khác biệt ở thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt và xuất hiện hành vi gian dối. Tội lừa đảo có ý định và hành vi gian dối trước khi nhận tài sản; tội lạm dụng nhận tài sản hợp pháp ngay thẳng trước thông qua hợp đồng, sau đó mới nảy sinh ý định chiếm đoạt và thực hiện hành vi gian dối/bỏ trốn để chiếm đoạt.
    • Tội lừa dối khách hàng (Điều 198): Chủ thể bắt buộc là người bán hàng trong quan hệ mua bán hàng hóa; hành vi gian dối thể hiện qua cân, đo, đong, đếm, tính toán sai lệch, đánh tráo loại hàng nhằm thu lợi bất chính nhỏ trong giao dịch thương mại, không nhằm tước đoạt toàn bộ quyền sở hữu như Điều 174.
    • Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355): Chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức nhà nước; hành vi là sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn được giao khi thi hành công vụ để chiếm đoạt tài sản đang thuộc quyền quản lý của người khác.
Tiêu chí phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) Tội lừa dối khách hàng (Điều 198) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn CĐTS (Điều 355)
Thời điểm có ý định chiếm đoạt Có trước khi tiếp cận và nhận tài sản Xuất hiện sau khi đã nhận tài sản hợp pháp Mục đích thu lợi bất chính trong mua bán Có trước hoặc trong khi thi hành công vụ
Bản chất hành vi gian dối Đưa thông tin sai sự thật để nạn nhân tự nguyện giao tài sản Gian dối/bỏ trốn để trốn tránh nghĩa vụ trả lại tài sản Gian lận trong cân, đo, đong, đếm, sai lệch quy cách hàng Dùng thủ đoạn lừa dối, uy hiếp tinh thần gắn với công vụ
Chủ thể thực hiện Bất kỳ cá nhân từ đủ 16 tuổi có năng lực TNHS Bất kỳ cá nhân từ đủ 16 tuổi có năng lực TNHS Chủ thể đặc biệt: Người bán hàng trong giao dịch Chủ thể đặc biệt: Người có chức vụ, quyền hạn khu vực công
Đối tượng tác động Mọi loại tài sản hợp pháp (trừ hàng quốc cấm đặc thù) Tài sản được giao nhận qua hợp đồng hợp pháp Chênh lệch giá trị hàng hóa / tiền thanh toán Tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác

Chương 3: Thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Chương 3 tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật tại TAND thành phố Hà Nội giai đoạn 2019 - 2023, đánh giá hạn chế và đề xuất giải pháp hoàn thiện:

  • Thực tiễn xét xử tại TAND TP Hà Nội: TAND thành phố Hà Nội đã thụ lý và đưa ra xét xử nhiều đại án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có quy mô thiệt hại đặc biệt lớn, điển hình như vụ Chu Minh Ngọc (Giám đốc Công ty Cimco) cùng đồng phạm lập khống hồ sơ mua bán thép vay vốn chiếm đoạt 1.124 tỷ đồng của 7 ngân hàng; vụ Nguyễn Thị Hà Thành mượn sổ tiết kiệm, giả chữ ký thực hiện 26 vụ lừa đảo chiếm đoạt hơn 430 tỷ đồng của 3 ngân hàng; vụ Hoàng Văn Hưng (nguyên Trưởng phòng thuộc Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an) lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong vụ án xảy ra tại Bộ Ngoại giao.
  • Hệ thống bảng biểu và số liệu xét xử ghi nhận trong văn bản:
    • Bảng 3.1: Tình hình xét xử các vụ án hình sự của TAND TP Hà Nội đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản giai đoạn 2019 - 2023 (trang 45).
    • Biểu đồ 3.1: Diễn biến xét xử các vụ án và số bị cáo bị xét xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản giai đoạn 2019 - 2023 tại TAND TP Hà Nội (trang 46).
    • Bảng 3.2: Quyết định hình phạt đối với bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong các vụ án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm do TAND TP Hà Nội xét xử giai đoạn 2019 - 2023 (trang 54).
    • Bảng 3.3: Số vụ án Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy bản án sơ thẩm hoặc sửa tội danh giai đoạn 2018 - 2022 (trang 57).
  • Hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân:
    • Hạn chế: Thực tiễn còn tồn tại sai sót trong định tội danh, nhầm lẫn ranh giới giữa tranh chấp dân sự/kinh tế với tội phạm hình sự; nhầm lẫn giữa Điều 174 với Điều 175, Điều 198 và Điều 355; một số bản án áp dụng khung hình phạt và xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi.
    • Nguyên nhân: Một số quy định của BLHS 2015 còn mang tính định tính, chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết (như tình tiết "dùng thủ đoạn xảo quyệt", "lợi dụng chức vụ, quyền hạn"); thủ đoạn phạm tội công nghệ cao, tài chính ngày càng tinh vi; năng lực đánh giá chứng cứ và nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ tiến hành tố tụng còn hạn chế.
  • Giải pháp đề xuất:
    • Hoàn thiện pháp luật: Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn cụ thể việc áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng tại Điều 174 (tiêu chí "thủ đoạn xảo quyệt", phân định ranh giới lợi dụng chức vụ trong lừa đảo với tội phạm chức vụ tại Chương XXIII); sửa đổi quy định định lượng giá trị tài sản phù hợp với biến động kinh tế.
    • Giải pháp tổ chức thực hiện: Nâng cao trình độ nghiệp vụ cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân; tăng cường phối hợp liên ngành giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ; đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật phòng ngừa tội phạm lừa đảo trên địa bàn.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả khoa học, công trình đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  • Phân tích toàn diện 4 yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS năm 2015, làm rõ ranh giới pháp lý giữa hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản với các tranh chấp dân sự và các tội danh giáp ranh (Điều 175, Điều 198, Điều 355).
  • Khảo cứu tiến trình lập pháp hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay và so sánh với luật hình sự Thụy Điển, Trung Quốc để rút ra các giá trị tham chiếu cho hoàn thiện pháp luật.
  • Phản ánh thực tiễn xét xử tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại TAND thành phố Hà Nội giai đoạn 2019 - 2023 thông qua các vụ án thực tế (như vụ án Phạm Tấn T, Đỗ Thị Ngọc H, Chu Minh Ngọc, Nguyễn Thị Hà Thành, Hoàng Văn Hưng) và hệ thống bảng biểu thống kê xét xử sơ thẩm, phúc thẩm (Bảng 3.1, Bảng 3.2, Bảng 3.3, Biểu đồ 3.1).

Về đóng góp mới, khóa luận góp phần củng cố hệ thống lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong bối cảnh thực thi BLHS năm 2015; đồng thời cung cấp số liệu thực tiễn và đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện lập pháp, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật hình sự tại Tòa án cấp cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có giới hạn nghiên cứu thực tiễn tập trung chủ yếu vào các bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm được xét xử tại TAND thành phố Hà Nội trong khung thời gian từ năm 2019 đến năm 2023. Do phạm vi giới hạn trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, đề tài chưa thể bao quát toàn diện số liệu thực tiễn xét xử tại các địa phương khác trên toàn quốc.

Hướng nghiên cứu mở rộng tiếp theo có thể phát triển theo các hướng:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát thực tiễn xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên phạm vi liên tỉnh hoặc toàn quốc để có đánh giá so sánh vùng miền.
  • Đi sâu nghiên cứu các phương thức phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mới phát sinh trên không gian mạng, sử dụng công nghệ cao, giao dịch tiền kỹ thuật số và các mô hình tài chính đa cấp xuyên biên giới.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự: Sử dụng phục vụ học tập, nghiên cứu các chuyên đề về nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu, kỹ năng phân biệt các tội danh giáp ranh và phương pháp phân tích bản án thực tế.
  • Cán bộ thực tiễn (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư, Điều tra viên): Tham khảo các lập luận pháp lý, tiêu chí định tội danh, đánh giá chứng cứ và các vướng mắc thường gặp trong quá trình giải quyết các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản phức tạp.

Câu hỏi thường gặp

1. Dấu hiệu cốt lõi nào giúp phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175)?
Điểm khác biệt căn bản nằm ở thời điểm xuất hiện ý định chiếm đoạt và hành vi gian dối. Trong tội lừa đảo, ý định chiếm đoạt và thủ đoạn gian dối luôn có trước thời điểm nhận tài sản; nạn nhân vì bị lừa dối nên mới tự nguyện giao tài sản. Ngược lại, trong tội lạm dụng tín nhiệm, việc nhận tài sản ban đầu là hoàn toàn hợp pháp và ngay thẳng (thông qua hợp đồng); sau khi đã nhận được tài sản rồi người phạm tội mới nảy sinh ý định chiếm đoạt và thực hiện hành vi gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt.

2. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt tối thiểu để bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015 là bao nhiêu?
Giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên sẽ cấu thành tội phạm theo khoản 1 Điều 174. Trường hợp tài sản dưới 2.000.000 đồng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp: đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt; đã bị kết án về tội này hoặc một số tội xâm phạm sở hữu khác chưa được xóa án tích; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

3. Khóa luận đã dẫn chứng những đại án tiêu biểu nào được xét xử tại TAND TP Hà Nội để chứng minh tính chất phức tạp của tội danh?
Văn bản dẫn chứng các vụ án lớn gồm: vụ Chu Minh Ngọc (Giám đốc Công ty Cimco) lập khống hồ sơ mua bán thép vay vốn chiếm đoạt 1.124 tỷ đồng của 7 ngân hàng; vụ Nguyễn Thị Hà Thành mượn sổ tiết kiệm, giả chữ ký thực hiện 26 vụ lừa đảo chiếm đoạt hơn 430 tỷ đồng của 3 ngân hàng; và vụ án Hoàng Văn Hưng (nguyên Trưởng phòng thuộc Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an) lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong vụ án xảy ra tại Bộ Ngoại giao.

4. Điểm đặc thù trong quy định về tội lừa đảo của Bộ luật Hình sự Thụy Điển được tác giả so sánh là gì?
BLHS Thụy Điển quy định hành vi lừa đảo bao gồm cả việc đưa ra thông tin sai lệch làm sai lệch kết quả xử lý dữ liệu tự động; quy định riêng hành vi sử dụng dịch vụ (nhà trọ, phương tiện giao thông, xem biểu diễn) mà không chịu trả tiền (Điều 2); và có điều khoản quy định xử lý hình sự đối với cả hành vi chuẩn bị phạm tội lừa đảo trong trường hợp nghiêm trọng (Điều 11).

5. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?
Không. Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015, danh sách các tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự (đối với tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng) không bao gồm Điều 174 (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản). Do đó, chủ thể của tội danh này bắt buộc phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Quang Trường là công trình nghiên cứu chuyên khảo pháp lý có tính hệ thống về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của BLHS năm 2015. Đề tài kết hợp giữa phân tích lý luận cấu thành tội phạm, nghiên cứu lịch sử lập pháp và khảo cứu luật hình sự quốc tế với việc đánh giá thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Hà Nội giai đoạn 2019 - 2023. Các bảng số liệu thực tiễn và giải pháp đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ hữu ích phục vụ công tác hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xét xử tội phạm xâm phạm sở hữu.