Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính ở Việt Nam" được nghiên cứu và thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Mạnh Hùng, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phạm Hồng Thái, tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2013), thuộc chuyên ngành Lí luận và lịch sử nhà nước và pháp luật (mã số: 62.01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Công tác giải quyết khiếu nại và tranh chấp hành chính luôn giữ vị trí trọng yếu trong quản lí nhà nước. Ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, đặt nền tảng pháp lí đầu tiên cho phương thức giải quyết khiếu nại hành chính. Nhằm đáp ứng yêu cầu dân chủ hóa đời sống xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát triển kinh tế thị trường, từ ngày 01/07/1996, phương thức xét xử hành chính tại Tòa án nhân dân được thiết lập và vận hành song song với phương thức giải quyết khiếu nại hành chính.

Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật cho thấy tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm giải quyết tranh chấp giữa hai phương thức này vẫn diễn ra phổ biến; sự mất cân đối về số lượng và chất lượng giải quyết tranh chấp chưa được khắc phục, làm hạn chế quyền lựa chọn phương thức của cá nhân, tổ chức. Nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ việc phân định thẩm quyền giữa hai phương thức chưa thực sự hợp lí. Mặt khác, các công trình khoa học pháp lí trước đây chủ yếu nghiên cứu biệt lập từng loại thẩm quyền; chưa có công trình cấp độ luận án tiến sĩ nào nghiên cứu tập trung, toàn diện và có hệ thống về vấn đề phân định giữa thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách hành chính và cải cách tư pháp.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn (về phương diện xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật) cho việc phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính, nhằm bảo đảm tối đa quyền lựa chọn của người khiếu kiện, phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của từng phương thức, tăng cường mối tương quan thống nhất giữa hai loại thẩm quyền và nâng cao hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính ở Việt Nam.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án giải quyết 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Thứ nhất: Làm sáng tỏ các căn cứ lí luận và thực tiễn để phân định hợp lí thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính ở Việt Nam.
  2. Thứ hai: Đánh giá khách quan, toàn diện, có hệ thống về thực trạng phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính ở Việt Nam hiện nay cả về phương diện cơ sở pháp lí và tổ chức thực hiện pháp luật.
  3. Thứ ba: Đề xuất quan điểm, giải pháp về phương diện cơ sở pháp lí và tổ chức thực hiện pháp luật nhằm bảo đảm việc phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm 3 nhóm vấn đề chính:

  • Những quan điểm lập pháp, nội dung và phương pháp quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính ở Việt Nam, có sự đối chiếu với một số quốc gia.
  • Thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật về phân định hai loại thẩm quyền này trong những năm gần đây tại Việt Nam.
  • Tâm lí của nhân dân và các đánh giá khoa học đối với hiệu quả, phạm vi, cách thức xác định thẩm quyền giải quyết khiếu nại và thẩm quyền xét xử hành chính.

Phạm vi nghiên cứu được xác định theo không gian tại Việt Nam (có so sánh kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia như Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia, Indonesia, Anh, Canada, New Zealand); thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ khi thiết lập Tòa hành chính (01/07/1996) đến thời điểm bảo vệ luận án (gắn với Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và Hiến pháp năm 2013).


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài theo các nhóm tài liệu trong và ngoài nước:

Các luận án tiến sĩ luật học trong nước và quốc tế

  • Luận án của Nguyễn Thế Thuấn (2001), Tăng cường hiệu quả pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ở Việt Nam hiện nay, nghiên cứu khái niệm, điều kiện bảo đảm và giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo.
  • Luận án của Nguyễn Thanh Bình (2003), Thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính, tập trung vào thẩm quyền của Tòa án nhân dân đối với khiếu kiện hành chính.
  • Luận án của Nguyễn Hạnh (2005), Hoàn thiện thủ tục pháp lí về giải quyết khiếu nại của công dân, nghiên cứu thủ tục giải quyết khiếu nại qua các thời kỳ lịch sử.
  • Luận án của Trần Văn Sơn (2006), Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay, phân tích hoạt động giải quyết khiếu nại dưới góc độ nguyên tắc pháp chế.
  • Luận án của Hoàng Quốc Hồng (2007), Đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà hành chính đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay, nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính.
  • Luận án của Nguyễn Văn Quang (2007), A comparative study of the systems of review of administrative action by courts and tribunals in Australia and Viet Nam: What Vietnam can learn from Australian experience (Đại học Latrobe, Melbourne, Australia), so sánh hệ thống xét xử hành chính bằng Tòa án và cơ quan tài phán hành chính ở Úc và Việt Nam.
  • Luận án của Ngô Mạnh Toan (2008), Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, phân tích quá trình hình thành, phát triển và giải pháp hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo.
  • Luận án của Nguyễn Thị Thủy (2009), Quyền khiếu nại hành chính của công dân ở Việt Nam hiện nay, nghiên cứu quyền khiếu nại hành chính của công dân và các biện pháp bảo đảm thực hiện.
  • Luận án của Trần Kim Liễu (2011), Toà hành chính trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân, phân tích cơ sở lí luận và pháp lí cho sự tồn tại của Tòa hành chính.

Sách chuyên khảo và nghiên cứu quốc tế

  • Cuốn Quyết định hành chính, hành vi hành chính - Đối tượng xét xử của Toà án do TS. Phạm Hồng Thái chủ biên (2001).
  • Cuốn Pháp luật về khiếu nại và tố cáo do PGS. Phạm Hồng Thái chủ biên (2003).
  • Cuốn Cơ chế giải quyết khiếu nại - Thực trạng và giải pháp do TS. Hoàng Ngọc Giao chủ biên (2009).
  • Cuốn Administrative Division Court in Vietnam: Model, Jurisdiction and Lesson from foreign experiences của Dr. Phạm Hồng Quang (2010).
  • Các nghiên cứu quốc tế: Administrative Courts in Indonesia: A Socio-legal Study của Adriaan Bedner (2001); Tribunals in the Common Law World do Robin Creyke chủ biên (2008); bài viết của GS. Franz Reimer và GS. A (CHLB Đức); nghiên cứu Reforming Administrative Dispute Resolution in China của Ji Hongbo.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết

Mặc dù các công trình nêu trên đã giải quyết nhiều khía cạnh lí luận và thực tiễn của khiếu nại hoặc xét xử hành chính, nhưng hai phương thức này chủ yếu được xem xét biệt lập. Nhiều nội dung đã có sự thay đổi trước các biến chuyển lập pháp (như Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Luật Khiếu nại năm 2011, Hiến pháp năm 2013). Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Mạnh Hùng là công trình tập trung nghiên cứu toàn diện, có hệ thống mối quan hệ tương hỗ và các căn cứ phân định thẩm quyền giữa cơ quan hành chính và Tòa án nhân dân trong giải quyết tranh chấp hành chính tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ

  • Cơ sở lí luận nền tảng: Phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (đặc biệt là Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/08/2007 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X) và các nguyên tắc hiến định tại Hiến pháp năm 2013 về phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp (khoản 3 Điều 2) và quyền khiếu nại, khởi kiện của công dân (Điều 30).
  • Khái niệm khiếu kiện hành chính: Là quyền tự vệ và tự định đoạt của đối tượng quản lí hành chính nhà nước, được thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm chính thức yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hành chính để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm trái pháp luật hoặc không hợp lí bởi việc thực thi quyền hành pháp. Khiếu kiện hành chính gồm hai hình thức: khiếu nại hành chính và khởi kiện vụ án hành chính.
  • Bản chất tranh chấp hành chính (theo nghĩa hẹp): Là sự xung đột về quyền, lợi ích giữa chủ thể quản lí và đối tượng quản lí hành chính nhà nước phát sinh từ việc thực thi quyền hành pháp mang tính "quyền lực - phục tùng". Quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp này chỉ thuộc về phía đối tượng quản lí hành chính nhà nước.
Tiêu chí phân định Thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính Thẩm quyền xét xử hành chính
Bản chất quyền lực Xác lập trên cơ sở quyền hành pháp (dùng quyền hành pháp kiểm soát quyền hành pháp). Xác lập trên cơ sở quyền tư pháp (quyền tư pháp kiểm soát việc thực thi quyền hành pháp).
Thủ tục thực hiện Thủ tục hành chính do Luật Hành chính điều chỉnh. Thủ tục tố tụng hành chính do Luật Tố tụng hành chính điều chỉnh.
Phạm vi xem xét Xem xét, phán quyết về cả tính hợp pháp và tính hợp lí của quyết định, hành vi bị khiếu nại. Chỉ xem xét, phán quyết về tính hợp pháp của quyết định, hành vi hành chính bị khởi kiện.
Tính chất chủ thể Không độc lập hoàn toàn với bên bị khiếu nại (là chính chủ thể ban hành hoặc cấp trên trực tiếp). Tòa án độc lập với cơ quan hành pháp, nhân danh quyền lực nhà nước để ra phán quyết khách quan.
Ưu điểm chính Nhanh chóng, thuận tiện, giải quyết triệt để tính hợp lí, củng cố quan hệ giữa nhà nước và nhân dân. Bảo đảm tính công bằng, khách quan, vô tư và bảo vệ quyền con người từ góc độ tư pháp.
Nhược điểm chính Tính khách quan bị hạn chế; thiếu tính chuyên trách (là nhiệm vụ phái sinh của quản lí). Thủ tục chặt chẽ, chi phí và thời gian tố tụng có thể dài hơn; không can thiệp vào tính hợp lí chuyên môn.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đa dạng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và pháp lí:

  • Phương pháp hệ thống: Xâu chuỗi các thông tin liên quan giữa khiếu nại và khởi kiện vụ án hành chính, giữa phạm vi tranh chấp và quy trình thụ lí trong một chỉnh thể thống nhất.
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các định nghĩa, đặc điểm, nội dung và căn cứ phân định thẩm quyền.
  • Phương pháp thống kê: Phân tích nhu cầu khiếu kiện, số lượng và chất lượng thụ lí, giải quyết tranh chấp hành chính tại cơ quan hành chính và Tòa án.
  • Phương pháp phân tích: Làm rõ các quan điểm lí luận, chuẩn mực pháp lí thực định và dữ liệu thực tiễn.
  • Phương pháp so sánh: So sánh các quan điểm lập pháp, đối chiếu các quy định pháp luật Việt Nam với mô hình tài phán của các nước (Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Úc, Indonesia...).
  • Phương pháp lịch sử cụ thể: Đánh giá sự phát triển của các quy định pháp luật gắn với từng thời kỳ kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
  • Phương pháp xã hội học pháp luật: Kế thừa kết quả điều tra xã hội học từ các công trình trước về ý thức pháp luật và tâm lí của người dân, cán bộ, công chức.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn dữ liệu của luận án dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Sắc lệnh 64/SL năm 1945, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 sửa đổi 2004, 2005, Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Luật Khiếu nại năm 2011, Hiến pháp năm 2013); các đạo luật nước ngoài (Luật Tòa án hành chính năm 1960 của Đức, Luật Kiện tụng hành chính năm 1962 của Nhật Bản...); văn kiện của Đảng; các số liệu tổng kết thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tối cao và công tác giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài

Chương 1 tổng thuật và đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu khoa học pháp lí trong và ngoài nước liên quan đến 6 nội dung trọng tâm:

  1. Khái niệm và hình thức khiếu kiện hành chính: Đánh giá các quan niệm đồng nhất khiếu nại với tranh chấp hành chính hoặc coi khởi kiện là một dạng khiếu nại; khẳng định khiếu nại hành chính và khởi kiện vụ án hành chính là hai hình thức biểu hiện của khiếu kiện hành chính.
  2. Đa dạng hóa phương thức giải quyết tranh chấp hành chính: Phân tích sự tồn tại song song giữa cơ chế nội bộ và tư pháp, đánh giá các đề xuất thiết lập cơ quan tài phán hành chính (Administrative tribunal) theo Nghị quyết 17-NQ/TW hoặc thiết chế hòa giải trung gian (Ombudsman) theo mô hình của Pháp, Thụy Điển, Tây Ban Nha.
  3. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính: Đánh giá các quan điểm về phạm vi chủ thể, quyền xem xét tính hợp lí và phương pháp phân cấp thẩm quyền (mô hình hai cấp giải quyết).
  4. Thẩm quyền xét xử hành chính: Đánh giá phạm vi thực hiện quyền lực tư pháp, quyền phán quyết tính hợp pháp và quyền kiến nghị xử lí văn bản pháp luật trái pháp luật có liên quan.
  5. Thụ lí khiếu nại hành chính: Tổng hợp các quan điểm về thời hiệu khiếu nại, thời điểm tính thời hiệu và hình thức khiếu nại (bổ sung hình thức gửi đơn qua bưu điện, điện tử, độ tuổi người khiếu nại từ đủ 16 tuổi).
  6. Thụ lí vụ án hành chính: Phân tích điều kiện khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và việc loại trừ thủ tục tiền tố tụng bắt buộc.

Chương 2: Cơ sở lí luận của phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính

Chương 2 tập trung xây dựng hệ thống lí luận về bản chất của khiếu kiện và thẩm quyền giải quyết:

  • Khiếu kiện hành chính được định vị là quyền trung tâm trong nhóm quyền hành chính - chính trị của đối tượng quản lí, đóng vai trò là cơ chế phản kháng hợp pháp trước việc áp đặt ý chí đơn phương của quyền hành pháp.
  • Luận giải cơ sở lí luận của việc tồn tại đồng thời hai loại thẩm quyền: thẩm quyền giải quyết khiếu nại mang tính chất hành pháp thuần túy, có ưu thế về tính linh hoạt, khả năng xem xét cả tính hợp lí và tăng tính tự chịu trách nhiệm của nền hành chính; trong khi thẩm quyền xét xử mang tính tư pháp độc lập, vô tư, bảo đảm tính khách quan trong việc phán quyết tính hợp pháp.
  • Xác định nội dung và căn cứ phân định thẩm quyền: phân định về thẩm quyền theo vụ việc (bằng phương pháp định tính hoặc định lượng) và phân định về quyền hạn giải quyết; các căn cứ phân định bao gồm tính chất tranh chấp, bản chất của quyền lực nhà nước, năng lực thực tế của cơ quan hành chính và Tòa án, cùng mức độ bảo đảm quyền con người.

Chương 3: Thực trạng phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 phân tích quy định thực định và đánh giá thực tiễn thi hành:

  • Về tranh chấp thuộc thẩm quyền: Đánh giá việc quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo phương pháp định lượng (liệt kê tại các Điều 17 đến 23 Luật Khiếu nại năm 2011) và thẩm quyền xét xử của Tòa án theo Điều 28, Điều 29 Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Chỉ ra hạn chế của phương pháp liệt kê và tính chưa triệt để của phương pháp loại trừ trong Luật Tố tụng hành chính năm 2010.
  • Về phân cấp thẩm quyền: Phân tích bất cập trong quy định trao thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân đối với quyết định, hành vi của Ủy ban nhân dân cùng cấp (vi phạm nguyên tắc tập thể lãnh đạo, thiểu số phục tùng đa số); phân tích sự quá tải và hạn chế thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện.
  • Về thụ lí tranh chấp: Đánh giá các quy định về thời hiệu, điều kiện tiền tố tụng, hình thức nộp đơn; chỉ ra thực trạng người dân e ngại khởi kiện ra Tòa án do thủ tục phức tạp và tâm lí e ngại cơ quan công quyền, dẫn đến tình trạng khiếu nại dồn ứ tại các cơ quan hành chính trong khi số lượng án hành chính tại Tòa án chưa tương xứng với thực tế tranh chấp phát sinh.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính ở Việt Nam

Chương 4 đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Hệ thống quan điểm: Phân định thẩm quyền phải quán triệt nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực theo Hiến pháp năm 2013; bảo đảm quyền tự do lựa chọn phương thức của người khiếu kiện; nâng cao vị thế độc lập của Tòa án trong kiểm soát hành pháp.
  • Giải pháp về cơ sở pháp lí:
    • Hoàn thiện phương pháp lập pháp: kết hợp phương pháp định tính với phương pháp loại trừ để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án, tránh bỏ sót các quyết định hành chính cá biệt có ảnh hưởng đến quyền lợi công dân.
    • Sửa đổi quy định phân cấp giải quyết khiếu nại: xác định rõ thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc về người có quyết định, hành vi bị khiếu nại; giải quyết lần hai thuộc thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp; không quy định Chủ tịch UBND giải quyết khiếu nại quyết định của tập thể UBND cùng cấp.
    • Mở rộng quyền hạn của Tòa án: bổ sung thẩm quyền tuyên bố văn bản quy phạm pháp luật dưới luật là trái pháp luật hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền bãi bỏ văn bản quy phạm trái luật là căn cứ ban hành quyết định hành chính bị kiện.
    • Đơn giản hóa điều kiện thụ lí, minh bạch hóa thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khiếu kiện (tính từ thời điểm người dân thực tế biết được quyết định hoặc hành vi hành chính).
  • Giải pháp về tổ chức thực hiện pháp luật:
    • Nâng cao trình độ chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức công vụ của đội ngũ Thẩm phán Tòa hành chính và cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại.
    • Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật tố tụng hành chính nhằm thay đổi tâm lí e ngại khởi kiện của người dân.
    • Tiếp tục nghiên cứu các điều kiện thực tiễn để từng bước thí điểm thiết lập cơ quan tài phán hành chính chuyên trách hoặc thiết chế hòa giải trung gian phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 5 đóng góp mới về mặt khoa học lí luận và thực tiễn:

  1. Về khái niệm: Xây dựng hoàn chỉnh khái niệm khiếu kiện hành chính với hai hình thức cụ thể là khiếu nại hành chính và khởi kiện vụ án hành chính.
  2. Về bản chất thẩm quyền: Xây dựng khái niệm thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính; luận giải xu hướng đa dạng hóa các loại thẩm quyền giải quyết tranh chấp hành chính ở Việt Nam và trên thế giới; làm rõ ưu điểm, nhược điểm nội tại của từng loại thẩm quyền.
  3. Về cơ sở phân định: Xây dựng khái niệm phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính; xác lập cơ sở lí luận, nội dung và các căn cứ khoa học cho việc phân định hai loại thẩm quyền này.
  4. Về đánh giá thực trạng: Đánh giá có hệ thống, toàn diện và khách quan thực trạng phân định thẩm quyền giữa cơ quan hành chính và Tòa án nhân dân tại Việt Nam trên cả hai bình diện: cơ sở pháp lí và thực tiễn thi hành.
  5. Về giải pháp: Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật nhằm hoàn thiện cơ chế phân định thẩm quyền, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào loại tranh chấp hành chính theo nghĩa hẹp (tranh chấp giữa chủ thể quản lí hành chính nhà nước và đối tượng quản lí hành chính nhà nước), chưa đi sâu giải quyết tranh chấp hành chính giữa các cơ quan hành chính với nhau hoặc tranh chấp nội bộ trong hoạt động công vụ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục nghiên cứu sâu về mô hình, điều kiện thành lập và cơ chế vận hành của cơ quan tài phán hành chính chuyên trách (Administrative tribunal) trực thuộc Chính phủ hoặc cơ quan trung gian hòa giải (Ombudsman) tại Việt Nam; nghiên cứu tác động của việc áp dụng công nghệ thông tin và dịch vụ công trực tuyến đối với quy trình thụ lí, giải quyết khiếu kiện hành chính.

Giá trị tham khảo

  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh tại các cơ sở đào tạo luật học trong các môn học Luật Hành chính, Luật Tố tụng hành chính và Lí luận về Nhà nước và pháp luật.
  • Đối với cơ quan lập pháp và quản lí: Cung cấp cơ sở lí luận và luận cứ thực tiễn phục vụ công tác sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại, Luật Tố tụng hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Đối với cán bộ thực tiễn: Giúp đội ngũ Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thanh tra viên và cán bộ tiếp dân nắm vững các tiêu chí phân định thẩm quyền, giải quyết chính xác các vụ việc khiếu nại và thụ lí đúng thẩm quyền các vụ án hành chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Thuật ngữ "khiếu kiện hành chính" được luận án định nghĩa như thế nào?

Theo luận án, khiếu kiện hành chính là quyền tự vệ và tự định đoạt của đối tượng quản lí hành chính nhà nước, được thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm chính thức yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hành chính để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm trái pháp luật hoặc không hợp lí bởi việc thực thi quyền hành pháp. Khiếu kiện hành chính bao gồm hai hình thức: khiếu nại hành chính và khởi kiện vụ án hành chính.

2. Sự khác biệt cơ bản giữa thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính là gì?

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính được xác lập trên cơ sở quyền hành pháp, thực hiện theo thủ tục hành chính, giải quyết mối quan hệ trực thuộc và có quyền xem xét cả tính hợp pháp lẫn tính hợp lí của quyết định, hành vi bị khiếu nại. Ngược lại, thẩm quyền xét xử hành chính được xác lập trên cơ sở quyền tư pháp, do Tòa án nhân dân tiến hành theo thủ tục tố tụng hành chính độc lập và chỉ xem xét, phán quyết về tính hợp pháp của quyết định, hành vi hành chính bị khởi kiện.

3. Tại sao luận án cho rằng quy định Chủ tịch UBND giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định của UBND cùng cấp là không hợp lí?

Chủ tịch UBND là một thành viên của tập thể UBND, có trách nhiệm chấp hành các nghị quyết, quyết định của tập thể UBND. Việc trao quyền cho Chủ tịch UBND giải quyết khiếu nại đối với quyết định của UBND cùng cấp đồng nghĩa với việc cho phép một cá nhân phán quyết về tính hợp pháp của tập thể mà mình là thành viên, trái với nguyên tắc tập thể lãnh đạo, thiểu số phục tùng đa số và không phù hợp với các quy định pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương.

4. Ưu điểm và nhược điểm nội tại của phương thức giải quyết khiếu nại hành chính là gì?

Ưu điểm: giải quyết nhanh chóng, thuận tiện; xem xét toàn diện cả tính hợp lí và hợp pháp; tăng cường tính tự chịu trách nhiệm của cơ quan hành chính và củng cố mối quan hệ giữa nhân dân với nhà nước. Nhược điểm: mang tính chất "dùng quyền hành pháp kiểm soát quyền hành pháp", do đó thiếu tính khách quan độc lập giữa người giải quyết và người bị khiếu nại; giải quyết tranh chấp chỉ là nhiệm vụ phái sinh chứ không mang tính chuyên trách như Tòa án.

5. Phương pháp quy định thẩm quyền nào được luận án đề xuất áp dụng cho Tòa án hành chính?

Luận án đề xuất kết hợp phương pháp định tính và phương pháp loại trừ. Theo đó, pháp luật quy định nguyên tắc chung là Tòa án có thẩm quyền giải quyết mọi tranh chấp phát sinh từ quyết định, hành vi hành chính xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, trừ những quyết định, hành vi thuộc phạm vi bí mật nhà nước, an ninh, quốc phòng, ngoại giao hoặc chỉ đạo, điều hành nội bộ đã được pháp luật loại trừ cụ thể.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng đã luận giải một cách có hệ thống cơ sở lí luận và thực tiễn về phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ bản chất của khiếu kiện hành chính, chỉ ra ưu điểm và hạn chế nội tại của từng phương thức giải quyết tranh chấp trong mối quan hệ giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp. Trên cơ sở phân tích thực trạng các quy định thực định và tổ chức thực hiện, luận án đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp lập pháp đồng bộ, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức và phục vụ công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.