Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Diệu Ly (ngành Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023) tập trung nghiên cứu đề tài "Thủ tục tố tụng đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và thực tiễn thi hành tại tỉnh Thanh Hóa". Nghiên cứu được đặt dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Mai.
Về lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ rõ người dưới 18 tuổi là đối tượng chưa phát triển hoàn thiện về thể chất, tâm sinh lý và nhận thức xã hội, do đó rất dễ bị tổn thương khi tham gia vào các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự. Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong xử lý người chưa thành niên phạm tội là không chỉ thuần túy trừng phạt, mà coi trọng giáo dục, giúp đỡ họ nhận thức sai lầm để sửa đổi, hướng tới phòng ngừa tội phạm. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS năm 2015) đã đánh dấu bước tiến pháp lý quan trọng khi dành riêng Chương XXVIII (Phần thứ bảy) gồm 18 điều luật (từ Điều 413 đến Điều 430) để điều chỉnh thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi.
Tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa — địa phương có vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ và Trung Bộ, diện tích rộng, quy mô dân số năm 2022 ước tính đạt 3.722,1 nghìn người (đứng thứ 3 cả nước) — quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế thị trường đã làm phát sinh nhiều diễn biến phức tạp về an ninh trật tự. Tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn tỉnh có chiều hướng gia tăng cả về số lượng lẫn tính chất nghiêm trọng, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xuất hiện các băng nhóm có tổ chức. Trong khi đó, việc áp dụng pháp luật tố tụng hình sự tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Thanh Hóa còn bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập giữa quy định thực định và năng lực triển khai thực tế. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống về mặt lý luận và khảo sát số liệu thực tiễn là đòi hỏi cấp thiết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục tố tụng đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, bao gồm khái niệm, đặc điểm, mục đích, cơ sở pháp lý và ý nghĩa của các quy định này.
- Phân tích nội dung các quy định của BLTTHS năm 2015 điều chỉnh thủ tục sơ thẩm đối với bị cáo dưới 18 tuổi; đồng thời đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2018 - 2022, chỉ ra những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo đảm thực hiện các quy định thủ tục tố tụng đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi trong xét xử sơ thẩm.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, hệ thống quy phạm pháp luật của BLTTHS năm 2015 về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi và thực tiễn áp dụng pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng.
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận khảo sát thực tiễn thi hành thủ tục tố tụng đối với bị cáo dưới 18 tuổi tại Tòa án nhân dân hai cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; mốc thời gian thu thập dữ liệu và số liệu thống kê được giới hạn trong 5 năm, từ năm 2018 đến hết năm 2022.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được triển khai dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về tư pháp hình sự và bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em (tiêu biểu như Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 30/5/1994 và Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 08/2002/NQ-TW và Nghị quyết số 49/2005/NQ-TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020).
Hệ thống khung lý thuyết, chuẩn mực pháp lý quốc tế và pháp luật thực định được tác giả sử dụng làm căn cứ đối chiếu bao gồm:
- Các văn kiện quốc tế về tư pháp người chưa thành niên: Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (Điều 1, Điều 12, Điều 40; Việt Nam phê chuẩn năm 1990); Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về tư pháp đối với người chưa thành niên năm 1985 (Quy tắc Bắc Kinh, đặc biệt là Quy tắc 8); Quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do năm 1990.
- Văn bản luật quốc gia: Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Điều 12 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Điều 91 về nguyên tắc xử lý); BLTTHS năm 2015 (các quy định chung tại Điều 4, Điều 9, Điều 25, Điều 72, Điều 73, Điều 76, Điều 320, Điều 322, Điều 327 và toàn bộ Chương XXVIII từ Điều 413 đến Điều 430); Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 134, Điều 135, Điều 136); Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012); Luật Trẻ em năm 2016 (Điều 30).
- Văn bản dưới luật và hướng dẫn thi hành: Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 về phối hợp thực hiện một số quy định của BLTTHS đối với người dưới 18 tuổi; Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng; Thông tư số 01/2016/TT-CA ngày 12/4/2016 của TANDTC; Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 và Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 của Chánh án TANDTC; Công văn số 58/TANDTC-PC ngày 14/4/2016 của Chánh án TANDTC về triển khai mô hình phòng xử án thân thiện.
Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để làm rõ nội hàm các khái niệm pháp lý, phân tích các điều khoản của BLTTHS năm 2015 và các văn bản liên quan.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực pháp lý quốc tế để chỉ ra các khoảng trống và điểm tương thích.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp và xử lý dữ liệu xét xử thực tế của TAND tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2018 - 2022.
Nguồn dữ liệu của đề tài được trích xuất từ: Báo cáo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (số liệu bị cáo chưa thành niên trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2015 - 2022) và Báo cáo thống kê số liệu xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa từ năm 2018 đến năm 2022.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thủ tục tố tụng đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận về chế định thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt áp dụng cho bị cáo dưới 18 tuổi ở giai đoạn xét xử sơ thẩm:
- Khái niệm và đặc điểm: Trên cơ sở Điều 1 Công ước Quyền trẻ em năm 1989, Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 62 BLTTHS năm 2015, tác giả đưa ra định nghĩa: Bị cáo là người dưới 18 tuổi là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm, bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử theo trình tự, thủ tục luật định. Khóa luận phân tích các đặc trưng tâm sinh lý lứa tuổi: chưa phát triển đầy đủ về nhân cách, nhận thức nông cạn, bốc đồng, muốn tự khẳng định bản thân nhưng thiếu kỹ năng sống, dễ bị lôi kéo và nhạy cảm sâu sắc trước các biện pháp cưỡng chế tư pháp (dễ dẫn đến khủng hoảng tâm lý, chống đối hoặc nảy sinh ý định tự sát). Thủ tục xét xử đối với nhóm đối tượng này vừa mang tính độc lập tương đối vừa gắn liền với thủ tục chung, có những quy định bắt buộc riêng biệt về chỉ định người bào chữa, thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) và không gian phiên tòa nhằm hạn chế tối đa tổn hại tâm lý.
- Mục đích và cơ sở: Thủ tục tố tụng đặc biệt này nhằm bảo đảm quyền con người, thể chế hóa đường lối nhân đạo của Đảng, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên, ngăn chặn việc lạm quyền từ cơ quan tiến hành tố tụng và hạn chế oan sai. Cơ sở hình thành chế định gồm: đặc điểm lứa tuổi; cơ sở chính trị - pháp lý trong nước; yêu cầu hội nhập quốc tế và nội luật hóa các điều ước quốc tế; cùng cơ sở thực tiễn từ diễn biến gia tăng của tội phạm vị thành niên toàn quốc (số liệu VKSNDTC cho thấy số bị cáo dưới 18 tuổi bị đưa ra xét xử sơ thẩm tăng từ 106.078 bị cáo năm 2015 lên 133.930 bị cáo năm 2022).
- Ý nghĩa: Chế định mang ý nghĩa chính trị - xã hội trong việc xây dựng nền tư pháp thân thiện, dân chủ và bảo đảm công bằng xã hội; đồng thời mang ý nghĩa pháp lý khi xác lập khuôn khổ bắt buộc đối với cơ quan, người tiến hành tố tụng, nếu vi phạm sẽ bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Chương 2: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục tố tụng đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và thực tiễn thi hành tại tỉnh Thanh Hóa
Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích cả khía cạnh pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng tại địa phương:
- Quy định của BLTTHS năm 2015:
- Phân tích 7 nguyên tắc cơ bản quy định tại Điều 414: bảo đảm thủ tục thân thiện, phù hợp tâm lý; giữ bí mật cá nhân (theo Điều 40 Công ước Quyền trẻ em và Quy tắc 8 Quy tắc Bắc Kinh); bảo đảm quyền tham gia của người đại diện, nhà trường, đoàn thể; tôn trọng quyền tham gia, trình bày ý kiến (Điều 12 Công ước Quyền trẻ em); bắt buộc bảo đảm quyền bào chữa, trợ giúp pháp lý (Điều 422); tuân thủ các nguyên tắc xử lý của Điều 91 BLHS năm 2015 (ưu tiên miễn trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng giáo dục tại trường giáo dưỡng trước khi tuyên phạt tù); giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời.
- Chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng: Điều 415 BLTTHS và Điều 5 TTLT số 06/2018 đòi hỏi điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán phải có kinh nghiệm hoặc được đào tạo về tâm lý học, khoa học giáo dục. Khoản 1 Điều 423 quy định HĐXX sơ thẩm bắt buộc phải có 1 Hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên, hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi. Về chủ thể tham gia, phân tích quy định bắt buộc chỉ định người bào chữa theo Điều 76 và Điều 422; xác định thứ tự người đại diện theo Thông tư 06/2018 (cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, người giám hộ, người Tòa án chỉ định) và trách nhiệm tham gia phiên tòa của đại diện nhà trường, tổ chức xã hội (Điều 420).
- Trình tự phiên tòa sơ thẩm: Khoản 2 Điều 423 quy định Tòa án có thể xét xử kín trong trường hợp đặc biệt cần bảo vệ bị cáo; hạn chế tối đa việc xét xử lưu động; triển khai mô hình phòng xử án thân thiện theo Công văn số 58/TANDTC-PC và Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC (bố trí trên cùng một mặt phẳng, Thẩm phán không mặc áo choàng, giảm bớt tính uy nghiêm áp chế); thủ tục xét hỏi và tranh luận (Khoản 4 Điều 423, Điều 322) phải từ tốn, nhẹ nhàng, tôn trọng quyền bình đẳng tranh tụng.
- Thực tiễn thi hành tại tỉnh Thanh Hóa (2018 - 2022):
- Tác giả tổng hợp số liệu thực tế qua bảng thống kê xét xử của TAND hai cấp tỉnh Thanh Hóa:
| Năm |
Tổng số vụ án hình sự sơ thẩm |
Tổng số bị cáo sơ thẩm |
Số vụ án có bị cáo dưới 18 tuổi |
Tỷ lệ vụ án (%) |
Số bị cáo dưới 18 tuổi |
Tỷ lệ bị cáo (%) |
| 2018 |
1.703 |
3.121 |
27 |
1,59% |
27 |
0,86% |
| 2019 |
1.759 |
3.865 |
43 |
2,45% |
52 |
1,35% |
| 2020 |
2.055 |
4.023 |
41 |
1,99% |
42 |
1,04% |
| 2021 |
2.245 |
4.562 |
70 |
3,12% |
85 |
1,86% |
| 2022 |
2.147 |
4.530 |
81 |
3,78% |
107 |
2,36% |
| Tổng cộng |
10.409 |
20.101 |
262 |
2,64% |
313 |
1,56% |
(Nguồn: Thống kê Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa)
- Kết quả đạt được: TAND hai cấp tỉnh Thanh Hóa cơ bản giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, hạn chế oan sai; từ ngày 01/01/2018 đã thành lập và vận hành Tòa Gia đình và người chưa thành niên tại TAND tỉnh Thanh Hóa; chủ động liên hệ Trung tâm trợ giúp pháp lý và Đoàn luật sư để cử người bào chữa; lựa chọn Thẩm phán có kinh nghiệm tham gia xét xử.
- Hạn chế, tồn tại:
- Hoạt động bào chữa còn mang tính hình thức, luật sư chỉ định chủ yếu đồng tình với cáo trạng của Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt, kỹ năng tranh tụng chưa sâu.
- Người tiến hành tố tụng đôi khi chưa giải thích đầy đủ quyền, nghĩa vụ; một số Thẩm phán vẫn giữ thái độ gay gắt, quát tháo, định kiến hình phạt đối với bị cáo chưa thành niên.
- Tác giả trích dẫn vụ án điển hình: Bị cáo vị thành niên L.K (17 tuổi) đồng phạm tội Cướp tài sản với vai trò thứ yếu cùng 2 bị cáo đã thành niên. Thẩm phán chủ tọa và HĐXX sơ thẩm xử phạt 18 tháng tù giam; cấp phúc thẩm y án; sau đó cấp giám đốc thẩm đã tuyên hủy bản án để xét xử lại theo hướng cho hưởng án treo, do tính chất vai trò thứ yếu và để bị cáo tiếp tục học tập.
- Bất cập về lập pháp và cơ sở vật chất: Việc xác định độ tuổi gặp nhiều trở ngại do sai lệch giữa giấy khai sinh và thể trạng thực tế; quy định tiêu chuẩn cán bộ tại Điều 415 mang tính định tính; mâu thuẫn câu chữ giữa Điều 415 BLTTHS ("người tiến hành tố tụng") và Điều 5 TTLT 06/2018 ("người có thẩm quyền tiến hành tố tụng"); xung đột thuật ngữ giữa Khoản 3 Điều 422 ("lựa chọn") và Khoản 1 Điều 76 ("không mời"); vướng mắc khi Hội thẩm nhân dân chuyển công tác khỏi trường học hoặc Đoàn thanh niên; mâu thuẫn giữa quy định xét xử kín (Khoản 2 Điều 423) nhưng Điều 327 lại bắt buộc tuyên án công khai phần quyết định (vốn ghi đầy đủ họ tên, lý lịch bị cáo, làm triệt tiêu nguyên tắc bảo mật thông tin); mô hình Tòa chuyên trách mới chỉ triển khai ở TAND cấp tỉnh, cấp huyện hầu hết chưa lập được và phải sử dụng chung phòng xử án thông thường.
Chương 3: Một số giải pháp bảo đảm thực hiện các quy định về thủ tục tố tụng đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
Dựa trên các phân tích hạn chế và nguyên nhân ở Chương 2, tác giả xây dựng hệ thống các giải pháp đồng bộ:
- Hoàn thiện quy định pháp luật:
- Thống nhất thuật ngữ giữa các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt giữa BLTTHS năm 2015 và Thông tư liên tịch số 06/2018 về phạm vi "người có thẩm quyền tiến hành tố tụng"; chuẩn hóa khái niệm "lựa chọn" và "không mời" người bào chữa tại Điều 422 và Điều 76.
- Sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể về việc tuyên án công khai tại Điều 327 trong các vụ án xét xử kín: cần có quy định giới hạn không đọc các thông tin định danh cá nhân (họ tên, địa chỉ cư trú) của bị cáo dưới 18 tuổi nhằm bảo đảm triệt để nguyên tắc giữ bí mật đời tư.
- Quy định chi tiết các trường hợp Tòa án quyết định xét xử kín, tránh sự tùy nghi của Thẩm phán; quy định rõ hệ quả pháp lý (hoãn phiên tòa hay xử vắng mặt) khi người đại diện hoặc đại diện nhà trường, tổ chức vắng mặt có lý do chính đáng tại Khoản 3 Điều 423.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ tiến hành và tham gia tố tụng:
- Định lượng hóa các tiêu chuẩn của Điều 415 BLTTHS bằng việc bắt buộc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải trải qua các khóa bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu và có chứng chỉ về tâm lý học tư pháp, khoa học giáo dục trẻ em.
- Đổi mới kỹ năng điều hành phiên tòa của Thẩm phán, khắc phục lối xét hỏi quy chụp, nâng cao thái độ tôn trọng quyền bình đẳng tranh tụng.
- Nâng cao trách nhiệm và kỹ năng tranh tụng của đội ngũ luật sư, trợ giúp viên pháp lý trong các vụ án chỉ định bào chữa; xóa bỏ tình trạng bào chữa thụ động, chiếu lệ.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy và bảo đảm cơ sở vật chất:
- Khẩn trương nghiên cứu, từng bước thành lập Tòa Gia đình và người chưa thành niên tại TAND cấp huyện (nơi trực tiếp thụ lý phần lớn các vụ án hình sự sơ thẩm người chưa thành niên).
- Bố trí ngân sách đầu tư xây dựng các phòng xử án thân thiện độc lập theo đúng tiêu chuẩn tại Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC và Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC; chấm dứt tình trạng dùng chung phòng xử án thông thường cho các vụ án có bị cáo dưới 18 tuổi.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể thông qua hệ thống dữ liệu thực chứng và lập luận pháp lý:
- Về mặt định lượng: Khóa luận phản ánh bức tranh toàn cảnh 5 năm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có bị cáo dưới 18 tuổi tại TAND tỉnh Thanh Hóa (2018 - 2022). Trong tổng số 10.409 vụ án với 20.101 bị cáo được Tòa án hai cấp xét xử, có 262 vụ án (chiếm 2,64%) với 313 bị cáo là người dưới 18 tuổi (chiếm 1,56%). Số vụ án và bị cáo có xu hướng tăng liên tục qua các năm: từ 27 vụ/27 bị cáo (năm 2018) tăng lên 81 vụ/107 bị cáo (năm 2022), tương ứng tỷ lệ số vụ tăng từ 1,59% lên 3,78%.
- Về mặt thực tiễn áp dụng: Đề tài nhận diện chính xác sự chênh lệch lớn giữa quy định pháp luật và điều kiện thi hành tại cơ sở: mô hình Tòa Gia đình và người chưa thành niên mới chỉ dừng lại ở cấp tỉnh; cấp huyện hoàn toàn thiếu phòng xử án thân thiện chuyên biệt; kỹ năng tranh tụng của người bào chữa chỉ định còn mờ nhạt; thái độ của một bộ phận Thẩm phán còn mang tính áp đặt, nặng về trừng phạt mà coi nhẹ biện pháp giáo dục, phục hồi (minh chứng qua việc bản án sơ thẩm xử tù giam đối với bị cáo L.K bị cấp giám đốc thẩm hủy án cho hưởng án treo).
- Đóng góp khoa học của đề tài: So với các công trình nghiên cứu trước đây (như các luận văn thạc sĩ nghiên cứu tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Nội hay luận án tiến sĩ về thủ tục tố tụng nói chung), khóa luận của tác giả Trần Thị Diệu Ly đã tiếp cận chuyên sâu giai đoạn xét xử sơ thẩm gắn chặt với đặc thù kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa. Khóa luận chỉ ra các mâu thuẫn kỹ thuật lập pháp cụ thể giữa BLTTHS năm 2015 với các Thông tư liên tịch hướng dẫn (về tên gọi người tiến hành tố tụng, thuật ngữ chỉ định người bào chữa, mâu thuẫn giữa tuyên án công khai và xét xử kín), từ đó cung cấp hệ thống giải pháp sửa đổi điều luật mang tính khả thi cao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Khóa luận chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm của TAND hai cấp tỉnh Thanh Hóa trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2022; chưa có điều kiện khảo sát liên thông với toàn bộ các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố cũng như giai đoạn thi hành án hình sự đối với người dưới 18 tuổi trên cùng địa bàn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế phối hợp liên ngành (Công an - Viện kiểm sát - Tòa án - Cơ quan Lao động, Thương binh và Xã hội) trong toàn bộ chu trình tố tụng; nghiên cứu sâu hơn về các biện pháp xử lý chuyển hướng tư pháp (chuyển hướng ngoài tố tụng hình sự) dành cho người dưới 18 tuổi theo tinh thần cải cách tư pháp và kinh nghiệm quốc tế.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn:
- Phù hợp cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự tham khảo về phương pháp phân tích quy phạm pháp luật gắn liền với số liệu thống kê xét xử thực tế tại một địa phương cụ thể.
- Cung cấp tài liệu tham khảo nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý khi tham gia xét xử các vụ án hình sự người chưa thành niên.
- Phần phân tích các điểm bất cập, mâu thuẫn về kỹ thuật lập pháp tại Chương 2 và hệ thống giải pháp tại Chương 3 là nguồn cứ liệu thực tiễn hữu ích phục vụ công tác rà soát, sửa đổi BLTTHS năm 2015 và quá trình xây dựng dự án Luật Tư pháp người chưa thành niên tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm bị cáo là người dưới 18 tuổi được tác giả xác định như thế nào trong khóa luận?
Dựa trên Điều 12 BLHS năm 2015 và Điều 62 BLTTHS năm 2015, tác giả định nghĩa: Bị cáo là người dưới 18 tuổi là những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm, bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử theo trình tự, thủ tục luật định.
2. Tình hình xét xử sơ thẩm vụ án có bị cáo dưới 18 tuổi tại TAND tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2018 - 2022 diễn biến ra sao?
Số vụ án và bị cáo có chiều hướng gia tăng rõ rệt: năm 2018 Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý xét xử 27 vụ với 27 bị cáo (chiếm 1,59% số vụ và 0,86% số bị cáo); đến năm 2022 con số này tăng lên 81 vụ với 107 bị cáo (chiếm 3,78% số vụ và 2,36% số bị cáo). Tổng số trong 5 năm là 262 vụ án với 313 bị cáo dưới 18 tuổi.
3. Pháp luật quy định thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án có bị cáo dưới 18 tuổi có điểm bắt buộc gì đặc biệt?
Theo Khoản 1 Điều 423 BLTTHS năm 2015, thành phần HĐXX sơ thẩm bắt buộc phải có một Hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi. Nếu không đáp ứng thành phần này thì phiên tòa bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
4. Khóa luận chỉ ra mâu thuẫn kỹ thuật lập pháp nào giữa quy định xét xử kín và nguyên tắc giữ bí mật đời tư cho bị cáo dưới 18 tuổi?
Khoản 2 Điều 423 BLTTHS năm 2015 cho phép Tòa án xét xử kín trong trường hợp đặc biệt để bảo vệ bị cáo, nhằm giữ bí mật đời tư theo Điều 414. Tuy nhiên, theo Điều 25 và Điều 327 BLTTHS, khi xét xử kín Tòa án vẫn bắt buộc phải tuyên án công khai phần quyết định của bản án. Do phần quyết định ghi đầy đủ họ tên, thông tin nhân thân của bị cáo, việc tuyên công khai đã vô tình làm lộ danh tính của người chưa thành niên ra cộng đồng.
5. Vụ án bị cáo L.K (17 tuổi) tại Thanh Hóa phản ánh tồn tại gì trong hoạt động xét xử sơ thẩm?
Vụ án L.K đồng phạm tội Cướp tài sản với vai trò thứ yếu phản ánh tình trạng Thẩm phán và HĐXX cấp sơ thẩm còn nặng về định kiến trừng phạt, chưa xem xét thấu đáo các nguyên tắc nhân đạo của Điều 91 BLHS. HĐXX sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 18 tháng tù giam; sau đó cấp giám đốc thẩm đã phải hủy bản án để xét xử lại theo hướng cho hưởng án treo nhằm tạo cơ hội cho bị cáo tiếp tục học tập.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Diệu Ly đã làm sáng tỏ hệ thống lý luận và đánh giá toàn diện thực tiễn thi hành thủ tục tố tụng đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét xử sơ thẩm tại tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2018 - 2022. Công trình đã sử dụng dữ liệu thực chứng tin cậy để phản ánh xu hướng gia tăng của tội phạm vị thành niên, đồng thời chỉ rõ những bất cập về kỹ thuật lập pháp, kỹ năng tranh tụng và hạ tầng phòng xử án thân thiện ở cấp huyện. Trên cơ sở đó, các kiến nghị sửa đổi BLTTHS năm 2015 và kiện toàn mô hình Tòa chuyên trách được đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho người chưa thành niên trong hoạt động tư pháp hình sự.