Chương 1 MOT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA BỘ LUẬT TO TỤNG HÌNH SỰ VẺ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM TRONG TÓ TỤNG HÌNH SỰ 1. Một số van đề lý luận về biện pháp ngăn chặn tạm giam 4111 Khải niệm biên pháp ngăn chăn tạm giam Tạm giam là biện pháp ngăn chăn trong tô tụng hình sự do cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án áp dụng đối với bị can, bi cáo về tdi rat nghiêm trọng hoặc phạm tôi đặc biệt nghiêm trong hay bi can, bi cáo về tội nghiêm trọng, tôi it nghiêm trong theo quy định của pháp luật. Vệ đặc điểm của tạm giam: Tạm giam là biện pháp có tính nghiêm khắc nhất, hạn ché quyên con người, quyền công dan Việc ap dụng BPNC tạm giam rat chặt chế về căn cứ, trình ty, thủ tục. Chi ap dụng biện pháp tam giam khi áp dụng các BPNC khác không đạt được mục đích.
Vệ mục đích của tạm giam: Tạm giam áp dụng đôi với các bị can, bị cáo trong các giai đoạn khác nhau trong tổ tụng hình sự nhằm ngăn chặn việc bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tô, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo dam thi hành an Về hậu quả pháp lý: Tam giam là một trong những BPNC có tính chất nghiêm khắc nhật trong các BPNC của tô tụng hình su. Người bi áp dung BPNC bi cach li với xã hôi trong một thời gian nhất định, bị han chê một số quyển của công dân. Về căn cứ áp dung: Tam giam chi bi áp dung với bị can, bị cáo. Trường hợp thử nhất, bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội rat nghiêm trong.
Trường hop thứ hai, bị can, bị cáo về tôi nghiêm trong hoặc tội it nghiêm trong mà BLHS quy định hình phạt tù trên 2 năm va có căn cứ xác định người đó ở vào một trong các trường hợp sau: "Đã bi ap dụng BPNC khác nhưng vi pham, Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can, Bỏ trồn vả bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dâu hiệu bỏ trồn, Tiếp tục phạm tội hoặc có dau hiệu tiếp tục phạm tội; Có hành vi mua 9 chuéc, cưỡng ép, xúi giuc người khác khai báo gian đối, cung cấp tai liệu sai sự thật, tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đô vật của vụ án, tấu tán tải sản liên quan đến vu án, de doa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tô giác tội pham vả người thân thích của những người nảy. Ngoài ra, Tạm giam có thé áp dung đôi với bị can, bi cáo về tội it nghiêm trọng mà B6 luật hình sự quy định hình phạt tủ đến 02 năm nêu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trên va bị bắt theo quyết định truy nã. Khi phạm tôi thuôc những trường hợp trên các bi can, bị cáo ap dụng bị ap dụng BPNC. Theo từ điển Luật học thì biện pháp cưỡng chế có nghĩa là “biên pháp bắt buộc cá nhân hay tô chức phải thực hiên một nghia vụ, trách nhiệm theo quyết định đã có hiệu lực của một cá nhân, tổ chức có thâm quyền” Đây là biện pháp mang tính quyên lực nha nước do cơ quan, người có thâm quyên áp dụng theo những thủ tục, trình tự và điều kiện nhất định.
Căn cứ vào tính chất, mức đô vi phạm pháp luật mà cưỡng chế có nhiêu hình thức khác nhau như cưỡng chế dan sự, cưỡng chế hanh chính, cưỡng chế tô tung dân sự. Biên pháp cưỡng chế trong TTHS được quy định trong BLTTHS, chỉ áp dung đối với những chủ thé tham gia TTHS trên cơ sở những căn cứ nhật định, theo trình ty thủ tục do pháp luật TTHS quy định. Xuất phat từ ban chất tôi phạm là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội cũng như nhiệm vụ phát hiện, xác định tội phạm, ngăn cặn tiếp tục phạm tôi va xử lý thích dang đổi với người phạm tội, có thé thay, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong lĩnh vực TTHS là nhu câu thực sự cân thiết, khách quan, đảm bảo cho các hoạt động khởi tổ, điều tra, truy tô, xét xử va thi hanh án. So với các lĩnh vực hoạt động nha nước khác thì TTHS 1a lĩnh vực ma trong đó việc ap dụng biện pháp cưỡng chế có nguy cơ xâm phạm nhiều nhật đến quyên nhân thân, quyên tự do của cá nhân Nếu việc áp dung vượt quá giới han, trai pháp luật sé dé dẫn đền tinh trạng lạm quyên, vi phạm nghiêm trọng các quyền va lợi ích hợp pháp của ` Viên Khea học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb.
Tir điển Bách khoa và Nxb. Tư pháp, Hà Nội. Vi vậy, cần phải hạn chế việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thực tiễn TTHS cũng như cân quy định chặt chế, chính xác, cụ thé chế định các biên pháp cưỡng chế TTHS. Điêu nay thể hiện sự tôn trong của Nha nước đối với các quyền tự do cá nhân, đông thời là cơ sở pháp lý bảo đảm sự giám sat của nhân dân, xã hội đối với toàn bộ hoạt động TTHS nói chung và áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS nói riêng Trong hệ thông các biên pháp cưỡng chế TTHS, các BPNC chiêm vị trí trung tâm và có vai trò đặc biệt quan trọng.
BPNC là biện pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng đôi với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đôi với người chưa bị khởi tô (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của ho, ngăn ngừa ho tiếp tục phạm tội, trôn tránh pháp luật hoặc có hành đông gây căn trở cho việc điêu tra, truy tổ, xét xử va thi hành án hình sự”. Các biện pháp ngăn chặn có sức ảnh hưởng vô cùng lớn đến thân thể, quyền con người, hạn chế một số quyền nhân thân của công dân. Vì 1é đó, BLTTHS đã có một chương riêng để quy định các điều luật về những biên pháp ngăn chặn đó là Chương VII với tiêu dé chương là “ Biện pháp ngăn chặn, biên pháp cưỡng chế”. Để tạo điều kiện thuận loi cho việc đầu tranh phòng, chong tdi phạm, pháp luật TTHS Việt Nam quy định nhiêu biên pháp cưỡng chế khác nhau.
Những biện pháp cưỡng chế trong TTHS có nội dung tương đối rông va cu thể, được chia thành ba nhóm: - Nhóm 1: Gồm những biện pháp nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người có hành vi phạm tôi bỏ tron hoặc có hành vi gây khó khăn cho quá trinh giải quyết vụ án như giữ người trong trường hợp khan cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiên dé bao dam, cam đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. - Nhóm 2: Gồm những biên pháp bảo dam cho việc thu thập chứng cứ như khám xét, khám nghiệm hiện trường, xem xét dâu vét trên thân thể. Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật tổ tung hình sw Viết Nam Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr227. lại - Nhóm 3: Gồm những biên pháp bảo dam thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tổ, xét xử và thi hanh án như kê biên tai sản, phong töa tài khoản, tam đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân có liên quan đền hành vi phạm.
tdi của pháp nhân, buôc pháp nhân nộp một khoản tiên để bão dam thi hành án, áp giải bị can, bi cáo, người bị kết án, dẫn giải người lam chứng, những biện pháp xử lí do thẩm phan chủ toa phiên tòa áp dung doi với người có hảnh vi vị phạm nôi quy phiên tòa Tạm giam có thé coi là biên pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong số các biện pháp ngăn chăn vả được quy định cu thé tại Điêu 119 BLTTHS năm 2015. Day 1a biên pháp hạn chế tự do có thời han do cơ quan THTT áp dung đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp được luật định. Tính nghiêm khắc còn được thể hiện ở chỗ ngoài việc bị tước bö quyên tự do thân thé, người bị tạm giam còn bị hạn chế một số quyên như quyên tư do đi lại và cư trú, quyên tự do ngôn luận, hôi hop, biểu tinh, quyên tự do tín ngưỡng.3 So với các BPNC khác như câm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tién đã bảo đâm. thì các biện pháp nảy chi anh hưởng đến quyên tư do đi lại trong phạm.
vi nhất định hoặc quyên, lợi ích về tai sản ma không ảnh hưởng đến các quyên tự do khác của công dân như quyền bat kha xâm phạm vệ thân thé. Các biện pháp bat người, tam giữ cũng là BPNC nghiêm khắc nhưng thời hạn han chế quyên tự do trong bắt, tam giữ ngắn hơn nhiều so với tạm giam. Trong khoa học luật TTHS, nghiên cửu về biên pháp tạm giam cũng có nhiêu khái nhiệm chưa thống nhật: Theo Giáo tĩnh Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại hoc Luật Hà Nội: Tạm giam la BPNC trong tô tung hình sự do cơ quan điêu tra (CQDT), Viên Kiểm sát (VKS), Tòa án áp dung đối với bi can, bi cáo về tội rất nghiêm trong hoặc tôi đặc biệt nghiêm trong hay bị can, bị cáo về tội nghiêm trong, tdi it nghiêm trong theo quy định của pháp luật 3 Là Văn Những (2021), Biện pháp tạm giam và thực tiễn thi hành tại tỉnh Điện Biên, Luận vin thạc sĩ Luật học, Hi Nội tr7-8. + Đại họ Luật Hà Nai (2022), Sãd, tr253.
12 Theo Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội thì: Tạm giam là BPNC do người có thâm quyên THTT áp dụng hạn chế tự do thân thé trong một thời gian nhật định đối với bi can, bị cáo khi có căn cứ do Bộ luật TTHS quy định nhằm ngăn chan việc bị can, bi cáo sé gây khó khăn cho việc điều tra, truy tổ, xét xử hoặc sẽ tiếp tục pham tội hoặc dé dam bao thi hành án”. Quan điểm của Trường Đại học Kiểm sát Ha Nội đã chỉ ra đôi tượng ap dụng là bị can, bị cáo; căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giam Tuy nhiên, quan điểm này chỉ đưa ra một đang chủ thể có thấm quyên áp dung la người có thâm quyền tô tụng, chưa đưa ra chủ thể khác là cơ quan co thấm quyền áp dụng Bên cạnh đó, quan điểm nảy cũng chưa chỉ rổ thé nào là người có thấm quyền tô tung để quyết định áp dụng biên pháp tạm giam Quan điểm của Trường Đại hoc Luật Hà Nôi đã khắc phục được những điều đó.