Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Tố tụng hình sự của tác giả Nguyễn Đức Thịnh (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2024) nghiên cứu đề tài: "Biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và thực tiễn thi hành tại tỉnh Vĩnh Phúc".

Tác giả đặt đề tài trong bối cảnh các định hướng chính trị - pháp lý về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam:

  • Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, đặt mục tiêu đến năm 2030 cơ bản hoàn thành nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
  • Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 28/02/2023 của Chính phủ về Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật, yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân, hài hòa lợi ích giữa người dân.
  • Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (năm 2021), nhấn mạnh tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
  • Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xác định rõ yêu cầu làm rõ căn cứ tạm giam và hạn chế áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm.

Về mặt thực tiễn pháp lý, tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong các biện pháp cưỡng chế của tố tụng hình sự. Khi bị áp dụng, người bị tạm giam bị cách ly hoàn toàn khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định và bị hạn chế các quyền tự do thân thể, đi lại, cư trú theo Điều 14 Hiến pháp năm 2013. Nếu áp dụng tùy tiện hoặc thiếu thận trọng, biện pháp này gây hậu quả nghiêm trọng cho công dân, dẫn đến oan sai, tiêu tốn ngân sách nhà nước cho việc giam giữ và bồi thường thiệt hại, đồng thời làm giảm uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng. Ngược lại, nếu không áp dụng kịp thời, người phạm tội có thể bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc tiếp tục thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, trước diễn biến phức tạp của tội phạm về trật tự xã hội, ma túy và tín dụng đen, các cơ quan tiến hành tố tụng địa phương có xu hướng tăng cường áp dụng biện pháp tạm giam nhằm phục vụ hoạt động giải quyết vụ án. Tuy nhiên, quá trình áp dụng vẫn bộc lộ hạn chế do quy định pháp luật còn thiếu chặt chẽ, nghiệp vụ của một số cán bộ chưa đồng đều, dẫn đến nguy cơ lạm dụng việc tạm giam.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận gồm 3 nhiệm vụ cụ thể được xác định theo văn bản:

  1. Phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật về áp dụng biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự.
  2. Phân tích thực tiễn thi hành biện pháp tạm giam tại tỉnh Vĩnh Phúc thông qua việc đánh giá những kết quả đạt được, tồn tại và vướng mắc.
  3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự.

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống các quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng biện pháp này tại tỉnh Vĩnh Phúc. Phạm vi nghiên cứu về không gian là địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; phạm vi thời gian thu thập dữ liệu thực tiễn công tác kiểm sát việc tạm giam giới hạn từ năm 2019 đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp, bảo vệ quyền con người và đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn kiện được sử dụng làm cơ sở pháp lý bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 14).
  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (các Điều 60, 61, 109, 113, 119, 120, 125, 134, 155, 157, 173, 174, 240, 241, 277, 278, 328, 329, 346, 347, 419, 456, 462).
  • Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (các Điều 12, 16, 29).
  • Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 (Điều 13).
  • Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
  • Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23/11/2018; Thông tư số 119/2021/TT-BCA ngày 08/12/2021; Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2018; Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19/09/2017.
  • Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 (Điều 37).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật: Mổ xẻ từng điều luật của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thẩm quyền, căn cứ, thời hạn và thủ tục tạm giam.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh các quy định về thời hạn, căn cứ tạm giam giữa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; so sánh quan điểm học thuật giữa Giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội và Giáo trình của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội.
  • Phương pháp tổng hợp và thống kê số liệu: Thu thập và xử lý các chỉ số thống kê từ các Báo cáo tình hình tội phạm và kết quả công tác kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc trong 5 năm (từ năm 2019 đến năm 2023), kết hợp báo cáo của Công an tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: Đánh giá mối tương quan giữa mức độ tuân thủ luật định và số liệu phê chuẩn, hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam tại địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến biện pháp tạm giam, tập trung vào các nội dung:

  1. Khái niệm và đặc điểm lý luận: Tác giả phân tích hai quan điểm từ Giáo trình Luật Tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, từ đó tổng hợp định nghĩa: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo nhằm tước tự do và hạn chế quyền tự do của họ trong thời gian nhất định, hạn chế một số quyền công dân khi có căn cứ luật định, nhằm ngăn chặn hành vi gây cản trở điều tra, truy tố, xét xử, tiếp tục phạm tội, bỏ trốn hoặc bảo đảm thi hành án. Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự gồm 3 nhóm (nhóm ngăn chặn/ngừa bỏ trốn, nhóm bảo đảm thu thập chứng cứ, nhóm bảo đảm thuận lợi cho giải quyết vụ án), tạm giam thuộc nhóm 1 và có tính cưỡng chế cao nhất. Tác giả phân tích ý nghĩa pháp lý và ý nghĩa chính trị - xã hội của biện pháp này trong việc bảo vệ pháp luật và hạn chế lạm quyền.

  2. Đối tượng, căn cứ và trường hợp áp dụng (Điều 119 BLTTHS 2015):

  • Đối tượng: Chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo là cá nhân (không áp dụng đối với pháp nhân thương mại).
  • Căn cứ chung: Căn cứ chứng minh người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có căn cứ xác định người đó sẽ tiếp tục phạm tội (khoản 1 Điều 109).
  • Các trường hợp cụ thể:
    • Trường hợp 1: Bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng.
    • Trường hợp 2: Bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng có hình phạt tù trên 2 năm khi thỏa mãn một trong 5 điều kiện (đã áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch; bỏ trốn và bị bắt theo truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn; tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; có hành vi cản trở điều tra như mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục khai báo gian dối, tiêu hủy chứng cứ, đe dọa người làm chứng).
    • Trường hợp 3: Bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng có hình phạt tù đến 2 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
  • Đối tượng đặc biệt không áp dụng tạm giam (khoản 4 Điều 119): Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng (trừ các trường hợp bỏ trốn bị truy nã, tiếp tục phạm tội, cản trở tố tụng hoặc xâm phạm an ninh quốc gia).
  • Người dưới 18 tuổi (Điều 419): Chỉ tạm giam khi thật sự cần thiết. Đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ áp dụng với tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự kèm các điều kiện luật định. Thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba (2/3) thời hạn áp dụng đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên.
  1. Thẩm quyền và thủ tục áp dụng: Thẩm quyền được quy định tương ứng theo khoản 5 Điều 119 dẫn chiếu khoản 1 Điều 113. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra lệnh tạm giam phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trong thời hạn 03 ngày trước khi thi hành. Giai đoạn truy tố thuộc thẩm quyền Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát. Giai đoạn chuẩn bị xét xử do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết định; khi đưa vụ án ra xét xử thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Thủ tục tạm giam đòi hỏi văn bản đúng biểu mẫu ngành, kiểm tra căn cước, thông báo cho gia đình và chính quyền cơ sở, đồng thời thực hiện nghĩa vụ chăm nom người thân thích, bảo quản tài sản của người bị tạm giam (Điều 120).

  2. Thời hạn tạm giam qua các giai đoạn:

  • Giai đoạn điều tra (Điều 173): Tối đa 02 tháng (ít nghiêm trọng), 03 tháng (nghiêm trọng), 04 tháng (rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng). Thời hạn gia hạn tạm giam giảm số lần so với BLTTHS 2003: ít nghiêm trọng gia hạn 1 lần không quá 01 tháng; nghiêm trọng gia hạn 1 lần không quá 02 tháng; rất nghiêm trọng gia hạn 1 lần không quá 03 tháng; đặc biệt nghiêm trọng gia hạn 2 lần, mỗi lần không quá 04 tháng.
  • Thời hạn tạm giam điều tra bổ sung, điều tra lại (Điều 174): Viện kiểm sát trả hồ sơ thì tạm giam không quá 02 tháng; Tòa án trả hồ sơ thì tạm giam không quá 01 tháng.
  • Giai đoạn truy tố (Điều 240, 241): Không quá 20 ngày (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng) và 30 ngày (rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng); thời hạn gia hạn tương ứng không quá 10 ngày, 15 ngày hoặc 30 ngày.
  • Giai đoạn xét xử sơ thẩm (Điều 277, 278): Thời hạn tạm giam chuẩn bị xét xử tối đa 30 ngày (ít nghiêm trọng), 45 ngày (nghiêm trọng), 02 tháng (rất nghiêm trọng), 03 tháng (đặc biệt nghiêm trọng); gia hạn thêm tối đa từ 15 đến 30 ngày. Sau khi tuyên án tù, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam 45 ngày để bảo đảm thi hành án (Điều 329).
  • Thủ tục rút gọn (Điều 456, 462): Thời hạn tạm giam điều tra không quá 20 ngày, truy tố không quá 05 ngày, chuẩn bị xét xử không quá 10 ngày và không được gia hạn.
  • Cách tính thời hạn (Điều 134): Hết hạn vào lúc 24 giờ của ngày cuối cùng ghi trong lệnh. Một tháng tính bằng 30 ngày cố định.
  1. Hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam (Điều 125): Cơ quan tiến hành tố tụng phải hủy bỏ tạm giam khi vụ án bị đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc khi không còn tính chất cần thiết; hoặc thay thế bằng bảo lĩnh, đặt tiền bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú.

Chương 2: Thực tiễn thi hành biện pháp ngăn chặn tạm giam tại tỉnh Vĩnh Phúc và một số kiến nghị

Chương 2 phản ánh tình hình thực tế áp dụng luật tại địa phương:

  1. Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc ảnh hưởng đến công tác tạm giam: Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, nằm trong quy hoạch Vùng Thủ đô Hà Nội. Năm 2022, toàn tỉnh xếp thứ 37 về dân số, thứ 13 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP đạt 152.178 tỉ đồng, tương ứng 6,62 tỉ USD), thứ 09 về GRDP bình quân đầu người (đạt 105 triệu đồng, tương ứng 5.494 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,06%. Địa bàn có 4 tuyến sông chính (sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy, sông Cà Lồ) cùng mạng lưới đường bộ (Quốc lộ 2, cao tốc Hà Nội - Lào Cai) và đường sắt thuận lợi nhưng cũng là tuyến trung chuyển ma túy và phát sinh tội phạm. Năm 2023, toàn tỉnh phát hiện 1.130 vụ/việc với 1.226 đối tượng về trật tự xã hội và kinh tế, khởi tố 456 vụ với 505 đối tượng phạm tội về ma túy, 793 vụ vi phạm pháp luật môi trường; tội phạm trộm cắp và tín dụng đen chiếm tỷ lệ cao.

  2. Kết quả đạt được giai đoạn 2019 - 2023:

  • Tỷ lệ áp dụng biện pháp tạm giam ở mức cao: Trong 5 năm, tổng số bị can thụ lý khởi tố là 10.137 người, trong đó áp dụng tạm giam 5.724 người, đạt tỷ lệ trung bình 56,4%. Năm 2021 có tỷ lệ tạm giam cao nhất (60,8%), tiếp đến là năm 2023 (57,4%), năm 2020 và 2022 (56,2%), năm 2019 (50,8%).
  • Tỷ lệ phê chuẩn lệnh tạm giam đạt 100%: Toàn bộ yêu cầu đề nghị phê chuẩn lệnh tạm giam từ Cơ quan Cảnh sát điều tra đều được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phê chuẩn (năm 2019 phê chuẩn 887 bị can, năm 2022 phê chuẩn 1.228 bị can, năm 2023 phê chuẩn cao nhất với 1.440 bị can; số lượng bị can không phê chuẩn là 0 người).
  • Công tác hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam được thực hiện nhưng tỷ lệ còn thấp: Từ năm 2019 đến 2023, chỉ có 33 bị can được hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp tạm giam sang biện pháp ngăn chặn khác; Hội đồng xét xử trả tự do cho 50 bị cáo tại phiên tòa (riêng năm 2019 có 3 bị can được hủy bỏ/thay thế và 7 bị cáo được trả tự do).
  • Bảo đảm thời hạn tạm giam theo quy định: Các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Vĩnh Phúc không để xảy ra trường hợp nào bị tạm giam quá hạn hoặc giam giữ trái pháp luật.
  1. Hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân:
  • Xu hướng lạm dụng biện pháp tạm giam: Biện pháp tạm giam vẫn chiếm vị trí chủ đạo thay vì các biện pháp ngăn chặn phi giam giữ. Một số trường hợp bị can phạm tội nghiêm trọng có nơi cư trú rõ ràng, tính chất hành vi không lớn nhưng Cơ quan điều tra vẫn đề nghị và Viện kiểm sát vẫn phê chuẩn tạm giam.
  • Tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung: Mặc dù tỷ lệ nhỏ, việc phải trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng do thu thập chứng cứ chưa đầy đủ đã làm kéo dài thời hạn tạm giam thực tế của bị can.
  • Nguyên nhân: Các quy định pháp luật về căn cứ áp dụng tạm giam (như tiêu chí xác định "có dấu hiệu bỏ trốn" hoặc "có dấu hiệu tiếp tục phạm tội") còn mang tính định tính, chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết; trình độ và nhận thức của một số cán bộ tiến hành tố tụng còn thiên về phương án tạm giam để phòng ngừa rủi ro cho quá trình điều tra.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các số liệu thực chứng về công tác tạm giam tại tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2019 - 2023 qua bảng thống kê sau:

Chỉ số thống kê thực tiễn thi hành tạm giam tại tỉnh Vĩnh Phúc 2019 2020 2021 2022 2023 Tổng cộng (2019-2023)
Tổng số bị can đã thụ lý khởi tố (người) 1.020 - - - - 10.137
Tổng số bị can bị áp dụng tạm giam (người) - - - - - 5.724
Tỷ lệ bị can bị tạm giam trên tổng số thụ lý (%) 50,8% 56,2% 60,8% 56,2% 57,4% 56,4%
Số bị can CQĐT đề nghị VKS phê chuẩn lệnh tạm giam (người) 887 1.724 - 1.228 1.440 -
Số bị can được VKS phê chuẩn lệnh tạm giam (người) 887 1.724 - 1.228 1.440 100% lệnh đề nghị
Số bị can VKS không phê chuẩn lệnh tạm giam (người) 0 0 0 0 0 0
Số bị can được hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam (người) 3 - - - - 33
Số bị cáo được Hội đồng xét xử trả tự do (người) 7 - - - - 50
Số trường hợp tạm giam quá hạn luật định (người) 0 0 0 0 0 0

Ghi chú: Dấu (-) thể hiện các ô số liệu chi tiết theo từng năm không được văn bản liệt kê đầy đủ trong phần trích lục.

Về mặt giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất:

  • Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự: Sửa đổi, hướng dẫn cụ thể các căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam tại khoản 2 Điều 119 BLTTHS năm 2015; lượng hóa rõ ràng các trường hợp "có căn cứ xác định người đó có dấu hiệu bỏ trốn" hoặc "tiếp tục phạm tội" để tránh việc áp dụng chủ quan.
  • Tăng cường kiểm sát tư pháp: Viện kiểm sát phải thẩm định chặt chẽ hồ sơ đề nghị phê chuẩn lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra, kiên quyết không phê chuẩn các trường hợp không cần thiết; khuyến khích áp dụng các biện pháp ngăn chặn thay thế như bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị can có nơi cư trú rõ ràng.
  • Hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung nhằm tránh kéo dài thời hạn tạm giam không cần thiết của người bị buộc tội.

Đóng góp của khóa luận: Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên phân tích chuyên biệt và có hệ thống về thực tiễn thi hành biện pháp ngăn chặn tạm giam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 5 năm liên tục (2019 - 2023). Tác giả đã chỉ ra nghịch lý thực tế: dù tỷ lệ phê chuẩn đạt 100% và không có trường hợp quá hạn, tỷ lệ áp dụng tạm giam tại địa phương vẫn ở mức cao (56,4%), trong khi tỷ lệ hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp tạm giam còn rất thấp (chỉ 33 trường hợp trong 5 năm).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có những điểm giới hạn nhất định phản ánh từ văn bản nghiên cứu:

  • Dữ liệu thực tiễn chủ yếu dựa trên báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và tập trung vào giai đoạn điều tra, truy tố; số liệu thống kê về việc áp dụng tạm giam trong giai đoạn xét xử của Tòa án nhân dân còn hạn chế (mới chỉ dừng lại ở số liệu 50 bị cáo được Hội đồng xét xử trả tự do).
  • Các bảng số liệu trong văn bản trích lục chưa phân tách chi tiết tỷ lệ áp dụng tạm giam theo từng nhóm tội danh cụ thể (tội phạm rất nghiêm trọng, nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng) mà chủ yếu phản ánh số lượng cơ học theo từng năm.
  • Hướng mở nghiên cứu tiếp: Cần có các nghiên cứu thực nghiệm sâu hơn về cơ chế kiểm soát quyền lực giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong khâu phê chuẩn lệnh tạm giam; đánh giá chi tiết việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn thay thế (đặt tiền bảo đảm, bảo lĩnh) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và các địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Đức Thịnh có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Tố tụng hình sự, Luật Hình sự tại các cơ sở đào tạo luật (Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Tư pháp, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội...) khi tìm hiểu về chế định các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.
  • Cán bộ làm công tác thực tiễn tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân tại tỉnh Vĩnh Phúc và các địa phương lân cận, nhằm nhìn nhận khách quan về tỷ lệ phê chuẩn và áp dụng biện pháp tạm giam.
  • Các phần có giá trị tham khảo cao nhất: Bảng tổng hợp đối chiếu thời hạn tạm giam theo quy định của BLTTHS năm 2015 qua các giai đoạn tố tụng (Chương 1) và hệ thống dữ liệu thực tế 5 năm công tác kiểm sát tạm giam tại Vĩnh Phúc (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ bị can bị áp dụng biện pháp tạm giam tại tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2019 - 2023 là bao nhiêu và năm nào có tỷ lệ cao nhất?
Trong giai đoạn 2019 - 2023, các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Vĩnh Phúc đã thụ lý 10.137 bị can, trong đó áp dụng biện pháp tạm giam đối với 5.724 người, đạt tỷ lệ trung bình 56,4%. Năm có tỷ lệ tạm giam cao nhất là năm 2021 với 60,8%, tiếp theo là năm 2023 với 57,4%, năm 2020 và 2022 chiếm 56,2%, và năm 2019 chiếm 50,8%.

Hoạt động phê chuẩn lệnh tạm giam của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc trong 5 năm có đặc điểm gì?
Toàn bộ các lệnh tạm giam do Cơ quan điều tra đề nghị trong giai đoạn 2019 - 2023 đều được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phê chuẩn (tỷ lệ 100%, có 0 trường hợp bị từ chối phê chuẩn). Số lượng bị can được phê chuẩn tăng dần qua các năm, từ 887 người năm 2019 lên 1.228 người năm 2022 và đạt đỉnh 1.440 người vào năm 2023.

Thời hạn tạm giam đối với bị can là người dưới 18 tuổi được quy định như thế nào trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015?
Theo khoản 1 Điều 419 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thời hạn tạm giam đối với bị can là người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba (2/3) thời hạn tạm giam đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên. Biện pháp này chỉ được áp dụng khi thật sự cần thiết và khi các biện pháp giám sát hoặc biện pháp ngăn chặn khác không mang lại hiệu quả.

Những đối tượng đặc biệt nào không bị áp dụng biện pháp tạm giam theo khoản 4 Điều 119 BLTTHS năm 2015?
Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không áp dụng biện pháp tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Tuy nhiên, họ vẫn có thể bị tạm giam nếu thuộc các trường hợp: bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã; tiếp tục phạm tội; có hành vi mua chuộc, xúi giục khai báo gian dối, tiêu hủy chứng cứ, đe dọa người làm chứng; hoặc phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia.

Từ năm 2019 đến năm 2023 tại Vĩnh Phúc có bao nhiêu trường hợp được hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam hoặc được trả tự do?
Trong tổng số 5.724 bị can bị tạm giam trong 5 năm, chỉ có 33 trường hợp được các cơ quan tiến hành tố tụng hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn khác. Đồng thời, có 50 bị cáo được Hội đồng xét xử ra quyết định trả tự do tại phiên tòa.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Đức Thịnh đã làm rõ bản chất lý luận, thẩm quyền, thủ tục và thời hạn của biện pháp ngăn chặn tạm giam theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Thông qua các số liệu thống kê của ngành kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2019 - 2023, tác giả đã phản ánh trung thực thực trạng thi hành luật tại địa phương, trong đó nổi bật là việc đảm bảo không có trường hợp quá hạn nhưng tỷ lệ áp dụng biện pháp tạm giam vẫn chiếm đa số. Công trình cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn có giá trị cho việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự.