CHƯƠNG 1 CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 1. Hoạt động xây dựng và những đặc thù chỉ phối việc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động xây dựng Xây dựng là một hoạt động kinh tế — kỹ thuật có vai trò hết sức quan trong trong nền kinh tế. Nó góp phần tạo nên bộ mặt của nền kinh tế đất nước, đồng thời tạo lập cơ sở vật chất — kỹ thuật ban đầu cho các ngành sản xuất khác phát triển. Công trình xây dựng, sản phẩm của hoạt động xây dựng, là một sản phẩm đặc biệt.
Nó được tạo nên bởi thành quả của nhiều người có trình độ về chuyên môn, nghề nghiệp. Công trình xây dựng có công năng rất đa dạng và phong phú, tác động đến môi trường, thể hiện tâm tư, tình cảm và thẩm mỹ của con người. Hơn nữa nó là sản phẩm tồn tại trong thời gian dài, có thể qua nhiều thể kỷ. Xác định được vai trò và ý nghĩa quan trọng đó, bất kỳ một hệ thống pháp luật nào cũng đều chú trọng điều chỉnh hoạt động xây dựng.
Điều 3 - Luật Xây Dựng ban hành ngày 1/7/2004 giải thích hoạt động xây dựng như sau: hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quan lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. Khái niệm hoạt động xây dựng cũng được giải thích rõ tại Điều 1.2 của Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam: là mọi hoạt động kỹ thuật liên quan đến xây lắp các công trình xây dựng với hai giai đoạn chính là quy hoạch xây dựng gồm: lập quy hoạch và quản lý xây dựng theo quy hoạch, và xây dựng công trình gồm: lập dự án đầu tư, khảo sát, thiết kế, thi công xây lắp và bảo trì các công trình xây dựng. Từ những quy định này có thể đi đến một khái niệm mang tính khái quát vẻ hoạt động xây dựng như sau: hoạt động xây dựng là tổng hợp các hoạt động kinh tế - kỹ thuật bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sat xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn -5- nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình, do các tổ chức, cá nhân hoạt động đầu tư xây dựng trực tiếp thực hiện bằng tiền vốn, vật tư, thiết bị và nhân công trong một khoảng thời gian nhất định mà kết quả của nó là các sản phẩm xây dựng và công trình xây dựng hoàn thành. Từ khái niệm này có thể thấy hoạt động xây dựng có các đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, về chủ thể của hoạt động xây dựng, đó là doanh nghiệp, cá nhân có đủ điều kiện, năng lực hoạt động xây dựng theo quy định của pháp luật.
Tuỳ thuộc vào vị trí, vai trò của mỗi chủ thể trong quá trình hoạt động xây dựng mà doanh nghiệp đó có thể là tổ chức thiết kế quy hoạch xây dựng, chủ đầu tư, đơn vị tư vấn khảo sát, thiết kế, nhà tư vấn quản lý dự án, nhà thâu xây lắp hay đơn vị cung cấp vật tư, thiết bị. Thứ hai, về mặt hình thức kinh tế thì hoạt động xây dựng là loại hình đầu tư trực tiếp do các chủ thể hoạt động xây dựng tiến hành bằng tiền vốn, thiết bị, nhân công của mình nhằm gia tăng giá trị tài sản phục vụ cho kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh của chủ thể đó. Như vậy, đầu tư xây dựng khác với các loại hình đầu tư gián tiếp khác mà điển hình là đầu tư tài chính, trong đó có việc mua trái phiếu — một nguồn huy động vốn quan trọng phục vụ cho các dự án đầu tư phát triển hiện nay. Th ứ ba, kết quả của hoạt động xây dựng là các sản phẩm xây dựng, công trình xây dựng đã hoàn thành.
Tương ứng với mỗi hoạt động xây dựng cụ thể sẽ cho kết quả là các sản phẩm xây dựng hay công trình xây dựng khác nhau: đồ án quy hoạch xây dựng là sản phẩm của hoạt động thiết kế quy hoạch xây dựng; dự án đầu tư (với các hình thức báo cáo đầu tư, báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi) là sản phẩm của hoạt động tư vấn lập dự án đầu tư xây dựng: số liệu khảo sát xây dựng là sản phẩm của hoạt động khảo sát xây dựng; thiết kế xây dựng (bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công) là sản phẩm của hoạt động thiết kế xây dựng; công trình xây dựng hoàn thành (một căn nhà, một nhà máy, một con đường hay một cây cầu.) là sản phẩm của hoạt động xây lap. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách đầy đủ và toàn diện hơn thì công trình xây dựng hoàn thành chính là kết quả tổng hợp của tất cả các hoạt động xây dựng. Đồ án quy hoạch ~ Gx xây dựng, dự án đầu tư, số liệu khảo sát xây dựng, bản vẽ thiết kế xây dựng, tất cả đều nhằm chuẩn bị cho hoạt động thi công xây lắp và là cơ sở, điều kiện để tạo nên một công trình xây dựng hoàn chỉnh. Điều 3 - Luật Xay dựng giải thích: “Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế”.
So với các hoạt động sản xuất khác trong nền kinh tế thì hoạt động xây dựng có một số đặc điểm riêng. Xuất phát từ những đặc thù của hoạt động xây dựng so với các hoạt động sản xuất khác mà việc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động này cần có những quy định phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động xây dựng và phát huy vị thế quan trọng của nó trong nền kinh tế. Thứ nhất, sản phẩm của hoạt động xây dựng là các công trình xây dựng đã hoàn chỉnh, mang tính đơn chiếc và có giá trị kinh tế cao. Có thể thấy trong xây dựng ít có lĩnh vực sản xuất sẵn hàng loạt sản phẩm để bán, trừ một số trường hợp có thể xây dựng sẵn các khu chung cư để bán hoặc cho thuê.
Ngay cả trong trường hợp xây dựng theo thiết kế mẫu (chẳng hạn như công trình nhà ở, trạm y tế, trường học.) thì mỗi công trình đều phải được bổ sung, thay đổi cho phù hợp với điều kiện địa chất, khí hậu. tại địa điểm xây dựng công trình. Như vậy, sản xuất xây dựng không sản xuất được hàng loạt hàng hóa như trong các ngành công nghiệp khác mà thường sản xuất theo đơn đặt hàng đơn chiếc. Do đó, sản phẩm của xây dựng chưa hiện hữu vào thời điểm giao kết hợp đồng.
Đặc điểm này của hoạt động xây dựng đòi hỏi pháp luật phải quy định các tiêu chuẩn, quy phạm kỹ thuật cần thiết, làm cơ sở cho các bên xác định đối tượng của hợp đồng khi giao kết hợp đồng. Đồng thời, pháp luật cũng cần quy định các hình thức và biện pháp giúp cho bên đầu tư vốn (Chủ đầu tư) có thể lựa chọn được người thực hiện dự án tối ưu nhất. Vì thế, các quy định về đấu thầu, lựa chọn Nhà thầu trong hoạt động xây dựng có ý nghĩa hết sức quan trọng. Mặt khác, các sản phẩm xây dựng, từ các công trình có quy mô nhỏ như nhà ở đơn lẻ, cho đến công trình có quy mô rất lớn như công trình hạ tầng, công trình công nghiệp phiệp đều là những 8 sản P phẩm được kết tinh từ khối lương lớn vật liêu : ong AE HỆ xây y dưng dựng vẻ thuộc nhiều chủng loại, từ rất nhiều nhân công lao động và hao phí máy móc, thiết bị.
Vì thế, giá trị kinh tế của một công trình xây dựng hoàn thành cao hơn hẳn so với các sản phẩm công nghiệp thông thường khác. Hơn nữa, sản phẩm của hoạt động xây dựng có những tác động to lớn và nhiều mat đến đời sống kinh tế — xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của nhân dân và thời hạn sử dụng của các công trình xây dựng thường là rất dài. Chính giá trị kinh tế và tâm quan trọng đặc biệt như vậy của các công trình xây dựng đặt ra đòi hỏi nghiêm ngặt đối với chất lượng của công trình xây dựng. Xuất phát từ đặc điểm này của hoạt động xây dựng, pháp luật cần phải quy định cụ thể về các tiêu chuẩn xây dựng, quy chuẩn xây dựng, các định mức kinh tế — kỹ thuật áp dung bắt buộc trong hoạt động xây dựng, cũng như quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng đối với việc đảm bảo chất lượng công trình xây dựng.
Đặc điểm này chi phối đến một số điều khoản trong hợp đồng xây dựng như điều khoản về đối tượng của hợp đồng; điều khoản về yêu cầu đối với chất lượng công trình; điều khoản bảo hành; điều khoản giải quyết sự cố công trình; điều khoản về nghiệm thu, bàn giao công trình. Bên cạnh đó, do vai trò quan trọng của các công trình xây dựng và tác động lâu dài của nó đến cuộc sống của người dân và môi trường xung quanh mà các vấn dé có liên quan đến kiến trúc, mỹ quan, bảo vệ môi trường. cũng cần được chú trọng trong các quy định pháp luật về xây dựng. Thứ hai, quá trình hoạt động xây dựng rất phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể.
Có thể thấy để có được sản phẩm cuối cùng là công trình xây dựng hoàn chỉnh, quá trình hoạt động xây dựng phải trải qua rất nhiều khâu từ lập dự án đầu tư, đến khảo sát, thiết kế, mua sắm vật tư thiết bị, thi công xây lắp. và trong mỗi khâu lại có rất nhiều các công việc cụ thể, chỉ tiết.