Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp theo định hướng của Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự nhằm bảo vệ công lý và quyền con người giữ vai trò trọng tâm. Biện pháp ngăn chặn tạm giam là một trong những chế định cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình sự Việt Nam. Biện pháp này vừa là công cụ pháp lý hữu hiệu để ngăn chặn tội phạm, bảo đảm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, vừa hạn chế trực tiếp quyền tự do thân thể của cá nhân được Hiến pháp bảo hộ. Việc áp dụng không đúng căn cứ, lạm dụng hoặc kéo dài tạm giam không chỉ gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền công dân, làm phát sinh chi phí bồi thường oan sai cho ngân sách nhà nước, mà còn làm giảm sút uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Khóa luận "Biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định của BLTTHS 2015 và thực tiễn thi hành tại tỉnh Hoà Bình" do sinh viên Bùi Lê Ngọc Hà thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Ngô Thị Vân Anh tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023) tập trung giải quyết yêu cầu hoàn thiện lý luận và thực tiễn áp dụng biện pháp này tại một địa bàn miền núi đặc thù.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và các quy định pháp luật hiện hành về biện pháp tạm giam, phân tích toàn diện thực trạng áp dụng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành và hoàn thiện quy định pháp luật. Khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự.
  2. Làm rõ những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về biện pháp ngăn chặn tạm giam.
  3. Làm rõ thực tiễn thi hành biện pháp ngăn chặn tạm giam trên địa bàn tỉnh Hòa Bình để xác định hạn chế, vướng mắc, tồn tại và bất cập trong quá trình áp dụng, từ đó rút ra nhận xét, đánh giá làm cơ sở hoàn thiện quy định pháp luật.
  4. Đưa ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả thi hành biện pháp tạm giam trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự.

Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp tạm giam và hoạt động thi hành biện pháp này trong thực tế. Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Về nội dung: Hệ thống lý luận, các điều luật trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến tạm giam và thực tiễn áp dụng của các cơ quan tiến hành tố tụng.
  • Về không gian: Khảo sát thực tiễn tại địa bàn tỉnh Hòa Bình.
  • Về thời gian: Thu thập và xử lý số liệu thực tế trong giai đoạn 5 năm, từ năm 2018 đến năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của Triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tội phạm và cải cách tư pháp.

Khung pháp lý và hệ thống khái niệm được tác giả khai thác bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 20 về quyền bất khả xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm).
  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (các điều khoản trọng yếu: Điều 113, Điều 119, Điều 125, Điều 172, Điều 173, Điều 174, Điều 240, Điều 241, Điều 277, Điều 278, Điều 328, Điều 329, Điều 346, Điều 347, Điều 419).
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 9, Điều 12, Điều 51, Điều 58, Điều 230, Điều 249, Điều 251).
  • Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (Điều 2).
  • Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 (Điều 3).
  • Luật Cư trú năm 2020 (Điều 2, Điều 11, Điều 19).
  • Các nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018).
  • Quan điểm lý luận của các học giả pháp lý trong và ngoài nước (giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - ĐHQGHN, nghiên cứu của Iu. B. Livsic, TS. Phạm Mạnh Hùng, Trần Văn Biên, Đinh Thế Hưng, Hoàng Tam Phi, Ngô Văn Vịnh, Đào Nguyễn Hồng Minh...).

Phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: phân tích, tổng hợp, diễn giải, quy nạp, so sánh luật học, thống kê xã hội học pháp lý, khảo sát thực tiễn và tham vấn ý kiến chuyên gia. Khóa luận áp dụng phương pháp tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học.

Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu thực tiễn bao gồm: Báo cáo tổng kết công tác hằng năm (2018 - 2022) của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình; Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình; các bản án hình sự đã xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình (Bản án số 52/2021/HS-PT, Bản án số 20/2019/HS-PT); số liệu thống kê dân số và địa lý của Cục Thống kê tỉnh Hòa Bình và Cổng thông tin điện tử tỉnh Hòa Bình.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về biện pháp ngăn chặn tạm giam

Chương này tập trung xây dựng nền tảng lý luận và phân tích có hệ thống các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015:

  1. Khái niệm và đặc điểm lý luận: Tác giả đưa ra định nghĩa: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng chế nhà nước trong tố tụng hình sự, do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo trong các trường hợp luật định nhằm cách ly họ khỏi đời sống xã hội trong một thời hạn nhất định, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Bốn đặc điểm cốt lõi gồm:

    • Là biện pháp có tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong nhóm biện pháp ngăn chặn;
    • Trực tiếp hạn chế quyền tự do con người, quyền công dân mang tính tạm thời;
    • Được áp dụng trên cơ sở căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục luật định chặt chẽ (lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra phải có Viện kiểm sát phê chuẩn);
    • Mục đích nhằm bảo đảm giải quyết vụ án hình sự khách quan, đúng pháp luật.
  2. Ý nghĩa của biện pháp: Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; thiết lập cơ sở pháp lý bảo vệ quyền công dân không bị giam giữ trái pháp luật; bảo đảm hoạt động thu thập chứng cứ, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án diễn ra chính xác; thể hiện bản chất ưu việt của chế độ.

  3. Đối tượng áp dụng: Theo Điều 119 BLTTHS 2015, đối tượng áp dụng chỉ là cá nhân giữ tư cách tố tụng là bị can hoặc bị cáo. Pháp nhân thương mại phạm tội không thuộc đối tượng áp dụng tạm giam. Luật quy định trường hợp đặc thù với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi (Điều 419), phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người mắc bệnh nặng (khoản 4 Điều 119).

  4. Căn cứ và trường hợp áp dụng:

    • Căn cứ chung: Khi có căn cứ chứng minh người bị buộc tội sẽ cản trở hoạt động tố tụng; khi có căn cứ chứng minh người đó sẽ tiếp tục phạm tội; để bảo đảm thi hành án.
    • Các trường hợp cụ thể:
      • Trường hợp 1: Áp dụng với tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (không cần điều kiện phụ).
      • Trường hợp 2: Tội phạm nghiêm trọng, ít nghiêm trọng phạt tù trên 2 năm khi có 1 trong 5 điều kiện (vi phạm nghĩa vụ biện pháp ngăn chặn khác; không có nơi cư trú rõ ràng/không rõ lý lịch; bỏ trốn và bị bắt theo truy nã; tiếp tục phạm tội; mua chuộc, cưỡng ép người khác khai báo gian dối, tiêu hủy chứng cứ, đe dọa người làm chứng).
      • Trường hợp 3: Tội ít nghiêm trọng phạt tù đến 2 năm nếu tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo truy nã.
  5. Thẩm quyền và thủ tục áp dụng: Thẩm quyền thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra (phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trong thời hạn 03 ngày); Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND và VKS quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Quy trình chuyển giao hồ sơ, xét phê chuẩn và thông báo cho gia đình, chính quyền địa phương được quy định thành một chu trình khép kín.

  6. Thời hạn áp dụng qua các giai đoạn tố tụng:

    • Giai đoạn điều tra (Điều 173): Tối đa 02 tháng (ít nghiêm trọng, gia hạn 1 lần 01 tháng => tối đa 03 tháng); 03 tháng (nghiêm trọng, gia hạn 1 lần 02 tháng => tối đa 05 tháng); 04 tháng (rất nghiêm trọng, gia hạn 1 lần 03 tháng => tối đa 07 tháng); 04 tháng (đặc biệt nghiêm trọng, gia hạn 2 lần, mỗi lần 04 tháng => tối đa 12 tháng).
    • Giai đoạn truy tố (Điều 240, 241): Không quá 20 ngày (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, gia hạn tối đa 10 ngày); không quá 30 ngày (rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, gia hạn từ 15 đến 30 ngày).
    • Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (Điều 277, 278): Thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa từ 75 ngày (ít nghiêm trọng) đến 150 ngày (đặc biệt nghiêm trọng); thời hạn mở phiên tòa từ 15 đến 30 ngày.
    • Giai đoạn xét xử phúc thẩm (Điều 346, 347): Tối đa 60 ngày đối với TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu; tối đa 90 ngày đối với TAND cấp cao và TAQS trung ương.
    • Giai đoạn bảo đảm thi hành án (Điều 329, 347): Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Chương 2: Thực tiễn thi hành biện pháp ngăn chặn tạm giam trên địa bàn tỉnh Hòa Bình và một số kiến nghị

Chương 2 trình bày thực trạng thi hành trên cơ sở số liệu tổng kết 5 năm của các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Hòa Bình:

  1. Đặc điểm địa bàn: Tỉnh Hòa Bình có diện tích 4.590,30 km², dân số năm 2021 khoảng 0,87 triệu người, mật độ 190 người/km², gồm 6 dân tộc chính: Mường (63,3%), Kinh (27,73%), Thái (3,0%), Tày (2,7%), Dao (1,7%), Mông (0,52%). Tỉnh là cửa ngõ Tây Bắc, tiếp giáp Thủ đô Hà Nội và cách biên giới Việt - Lào 30km. Vị trí này tiềm ẩn nguy cơ các đối tượng phạm tội lẩn trốn ra nước ngoài, đồng thời sự gia tăng lao động nhập cư tại các khu công nghiệp làm gia tăng các vụ án ma túy, trộm cắp tài sản và lừa đảo qua không gian mạng.

  2. Số liệu thực tế áp dụng giai đoạn 2018 - 2022:

Bảng 1: Số liệu thụ lý án hình sự trên địa bàn tỉnh Hòa Bình (2018 - 2022)

Năm Tổng số vụ án khởi tố Tổng số bị can, bị cáo Tỷ lệ bị can/vụ
2018 631 972 1,54
2019 642 1.063 1,66
2020 685 1.129 1,65
2021 714 1.158 1,62
2022 763 1.329 1,74
Tổng cộng 3.435 5.651 -

(Nguồn: Báo cáo Tổng kết công tác các năm từ 2018 đến 2022 của VKSND tỉnh Hòa Bình)

Từ năm 2018 đến 2022, số vụ án khởi tố tăng 1,21 lần và số bị can tăng 1,37 lần. Tổng số bị can bị tạm giam trong giai đoạn này là 4.082/5.651 bị can thụ lý (năm 2018: 513 bị can; năm 2019: 705 bị can; năm 2020: 844 bị can; năm 2021: 962 bị can; năm 2022: 1.058 bị can).

Bảng 2: Tương quan giữa tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác (2018 - 2022)

Năm Tạm giam Cấm đi khỏi nơi cư trú Bảo lĩnh Đặt tiền bảo đảm Tạm hoãn xuất cảnh
2018 513 279 42 0 103
2019 705 261 51 0 114
2020 844 35 65 6 134
2021 962 201 42 9 167
2022 1.058 303 36 0 185
Tổng cộng 4.082 1.049 226 15 703

(Nguồn: Báo cáo Tổng kết công tác các năm từ 2018 đến 2022 của VKSND tỉnh Hòa Bình)

Tạm giam chiếm tỷ lệ 67,10% trong tổng số các biện pháp ngăn chặn được áp dụng. Biện pháp đặt tiền để bảo đảm rất ít được áp dụng (chỉ 15 trường hợp trong 5 năm, nhiều năm bằng 0).

Bảng 3: Tình hình Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra

Năm Số bị can có lệnh tạm giam của CQĐT Lệnh được VKS phê chuẩn Tỷ lệ phê chuẩn (%)
2018 488 486 99,59
2019 483 480 99,38
2020 426 426 100,00
2021 430 420 97,67
2022 417 417 100,00
Tổng cộng 2.235 2.229 99,73

(Nguồn: Báo cáo Tổng kết công tác các năm từ 2018 đến 2022 của VKSND tỉnh Hòa Bình)

Tỷ lệ Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra chỉ chiếm chưa tới 1% (6 trường hợp không phê chuẩn trên tổng số 2.235 lệnh trong 5 năm).

Bảng 4: Tình hình thay thế, hủy bỏ biện pháp tạm giam (2018 - 2022)

Năm Tổng số bị tạm giam Thay đổi sang BPNC khác Hủy bỏ tạm giam HĐXX tuyên trả tự do
2018 513 385 33 45
2019 705 511 91 63
2020 844 498 91 42
2021 962 538 95 39
2022 1.058 505 48 11
Tổng cộng 4.082 2.431 358 200

(Nguồn: Báo cáo Tổng kết công tác kiểm sát tạm giam, tạm giữ và thi hành án hình sự của VKSND tỉnh Hòa Bình)

  1. Tồn tại, hạn chế:

    • Vẫn còn tình trạng lạm dụng tạm giam, công văn đề nghị phê chuẩn của Cơ quan điều tra còn ghi chung chung "để phục vụ điều tra, mở rộng vụ án" hoặc "xét thấy hành vi phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần thiết phải tạm giam" (như vụ án Bùi Tiến D tại huyện Yên Thủy);
    • Áp dụng căn cứ "có dấu hiệu tiếp tục phạm tội" trong các vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 BLHS) và mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 BLHS) khi chứng cứ chứng minh dấu hiệu này chưa rõ ràng;
    • Cơ quan tiến hành tố tụng lúng túng khi thời hạn tạm giam để điều tra đã hết nhưng vụ án phức tạp chưa thể hoàn tất điều tra;
    • Vi phạm về thủ tục và hồ sơ tạm giam: Lệnh tạm giam thiếu ghi khoản của điều luật, thiếu chữ ký người bị tạm giam, tính sai thời hạn; hồ sơ chuyển giao thiếu lý lịch bị can, lệnh trích xuất, danh bản, chỉ bản, biên bản bàn giao, không kiểm tra sức khỏe khi tiếp nhận;
    • Chậm trễ trong việc gửi văn bản đề nghị gia hạn tạm giam: Điều 173 BLTTHS quy định phải gửi trước 10 ngày, nhưng thực tế có vụ việc chỉ còn 3 - 4 ngày trước khi hết hạn mới chuyển hồ sơ lên VKSND cấp trên, gây khó khăn cho công tác nghiên cứu hồ sơ.
  2. Nguyên nhân hạn chế:

    • Nguyên nhân pháp lý: Các căn cứ "có dấu hiệu bỏ trốn", "có dấu hiệu tiếp tục phạm tội" tại khoản 2 Điều 119 BLTTHS còn định tính, thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết; khái niệm "không có nơi cư trú rõ ràng" theo Luật Cư trú năm 2020 gặp vướng mắc khi xử lý bị can ngoại tỉnh có cả nơi thường trú, tạm trú và nơi lưu trú thực tế; xung đột về quy định đối tượng áp dụng giữa BLTTHS (Điều 113, 119 chỉ quy định bị can, bị cáo) với Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 và các điều 329, 347, 391 BLTTHS (áp dụng cả với người bị kết án); khái niệm "người già yếu", "người bị bệnh nặng" chưa có quy định giải thích cụ thể trong BLTTHS 2015 (Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP đã hết hiệu lực, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP chỉ hướng dẫn cho một số trường hợp nhất định).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính và số liệu thực tiễn

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa toàn diện thực trạng thi hành biện pháp ngăn chặn tạm giam trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong 5 năm (2018 - 2022):

  • Khảo sát 3.435 vụ án hình sự với 5.651 bị can/bị cáo được khởi tố;
  • Ghi nhận 4.082 trường hợp bị can bị áp dụng biện pháp tạm giam, chiếm 67,10% tổng số các biện pháp ngăn chặn được áp dụng trên toàn địa bàn;
  • Thống kê 2.229/2.235 lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra được Viện kiểm sát phê chuẩn (đạt tỷ lệ 99,73%), tỷ lệ không phê chuẩn dưới 1%;
  • Thống kê việc xử lý thay đổi biện pháp ngăn chặn cho 2.431 trường hợp, hủy bỏ tạm giam cho 358 trường hợp và Hội đồng xét xử tuyên trả tự do tại phiên tòa cho 200 trường hợp.

Giải pháp và kiến nghị

Trên cơ sở thực tiễn tại địa phương, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:

  1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự:
    • Ban hành văn bản liên tịch hướng dẫn cụ thể tiêu chí xác định các căn cứ: "có dấu hiệu bỏ trốn", "có dấu hiệu tiếp tục phạm tội", "không có nơi cư trú rõ ràng" (đồng bộ với Luật Cư trú năm 2020);
    • Bổ sung định nghĩa pháp lý rõ ràng về "người già yếu", "người bị bệnh nặng" tại khoản 4 Điều 119 BLTTHS 2015;
    • Chuẩn hóa và thống nhất quy định về đối tượng áp dụng biện pháp tạm giam đối với người bị kết án phạt tù hoặc tử hình đang chờ thi hành án;
    • Ban hành quy chế hướng dẫn chi tiết điều kiện thi hành các biện pháp thay thế tạm giam như bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm.
  2. Nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Hòa Bình:
    • Tăng cường trách nhiệm kiểm sát của Viện kiểm sát trong khâu xét phê chuẩn lệnh tạm giam, kiên quyết từ chối phê chuẩn các văn bản đề nghị nêu căn cứ chung chung;
    • Chấm dứt vi phạm về thời hạn gửi hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giam (bảo đảm gửi trước ít nhất 10 ngày theo Điều 173 BLTTHS);
    • Khắc phục các vi phạm thủ tục hồ sơ (lập đầy đủ danh bản, chỉ bản, biên bản giao nhận, kiểm tra y tế đầu vào tại cơ sở giam giữ);
    • Nâng cao trình độ nghiệp vụ, đạo đức công vụ cho đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán; đầu tư cơ sở vật chất cho các nhà tạm giữ, trại tạm giam trên địa bàn tỉnh.

Đóng góp khoa học

Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên đánh giá một cách toàn diện, có hệ thống số liệu về thực tiễn thi hành chế định tạm giam theo BLTTHS 2015 tại một địa bàn miền núi có đường biên giới và cơ cấu dân cư đa dân tộc như tỉnh Hòa Bình.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:

  • Phạm vi số liệu thực tiễn giới hạn trong giai đoạn 2018 - 2022 tại một địa phương (tỉnh Hòa Bình), chưa đối sánh chuyên sâu với các tỉnh miền núi phía Bắc lân cận có cùng đặc điểm tự nhiên - xã hội.
  • Nguồn dữ liệu chủ yếu khai thác từ báo cáo ngành Kiểm sát và một số bản án của Tòa án, chưa tiếp cận sâu số liệu nội bộ về điều kiện cơ sở vật chất giam giữ thực tế tại từng nhà tạm giữ Công an cấp huyện.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi đánh giá so sánh thực tiễn thi hành tạm giam giữa các tỉnh miền núi Tây Bắc sau khi có các văn bản hướng dẫn mới của liên ngành tư pháp Trung ương.
  • Nghiên cứu cơ chế kiểm soát tư pháp đối với việc áp dụng các biện pháp thay thế tạm giam (đặt tiền để bảo đảm, bảo lĩnh) trong bối cảnh tăng cường bảo đảm quyền con người.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học ngành Luật học, chuyên ngành Luật Tố tụng hình sự: Tham khảo cấu trúc phân tích quy định pháp luật kết hợp xử lý số liệu thực tế tại địa phương.
  • Cán bộ tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán): Tham khảo các vướng mắc thực tế liên quan đến thời hạn tạm giam, thủ tục lập hồ sơ và căn cứ phê chuẩn để hạn chế sai sót nghiệp vụ.
  • Những phần đáng tham khảo nhất trong văn bản:
    • Hệ thống hóa thời hạn tạm giam qua từng giai đoạn tố tụng (Chương 1);
    • Hệ thống 5 bảng số liệu thống kê thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn tại Hòa Bình giai đoạn 2018 - 2022 (Chương 2);
    • Phân tích xung đột pháp lý giữa Điều 119 BLTTHS 2015 với Luật Cư trú năm 2020 và các quy định về đối tượng áp dụng tạm giam (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ phê chuẩn lệnh tạm giam của Viện kiểm sát nhân dân đối với Cơ quan điều tra tại Hòa Bình giai đoạn 2018 - 2022 là bao nhiêu?
Trong giai đoạn 2018 - 2022, Viện kiểm sát nhân dân tại tỉnh Hòa Bình đã phê chuẩn 2.229 trên tổng số 2.235 lệnh tạm giam do Cơ quan điều tra đề nghị, đạt tỷ lệ 99,73%. Tỷ lệ không phê chuẩn chiếm chưa tới 1% (chỉ có 6 trường hợp không phê chuẩn trong 5 năm).

2. Biện pháp ngăn chặn nào chiếm tỷ lệ cao nhất và thấp nhất trong thực tiễn tại Hòa Bình giai đoạn 2018 - 2022?
Biện pháp tạm giam được áp dụng nhiều nhất với 4.082 bị can, chiếm tỷ lệ 67,10% tổng số các biện pháp ngăn chặn được áp dụng. Ngược lại, biện pháp đặt tiền để bảo đảm được áp dụng ít nhất với tổng cộng 15 trường hợp trong 5 năm, trong đó các năm 2018, 2019 và 2022 không ghi nhận trường hợp nào.

3. Theo BLTTHS 2015, thời hạn tạm giam bị can để điều tra đối với từng loại tội phạm được quy định tối đa là bao lâu?
Theo Điều 173 BLTTHS 2015: Tội ít nghiêm trọng tối đa 02 tháng (gia hạn 1 lần không quá 01 tháng => tối đa 03 tháng); tội nghiêm trọng tối đa 03 tháng (gia hạn 1 lần không quá 02 tháng => tối đa 05 tháng); tội rất nghiêm trọng tối đa 04 tháng (gia hạn 1 lần không quá 03 tháng => tối đa 07 tháng); tội đặc biệt nghiêm trọng tối đa 04 tháng (được gia hạn 2 lần, mỗi lần không quá 04 tháng => tối đa 12 tháng).

4. Những thiếu sót cụ thể về thủ tục, hồ sơ tạm giam tại các cơ quan tố tụng tỉnh Hòa Bình được tác giả chỉ ra là gì?
Các vi phạm gồm: Lệnh tạm giam không ghi rõ khoản của điều luật áp dụng; lệnh tạm giam thiếu chữ ký của người bị tạm giam; tính sai thời hạn tạm giam; hồ sơ tạm giam thiếu lý lịch bị can, thiếu lệnh trích xuất, thiếu danh bản, chỉ bản, biên bản bắt và biên bản bàn giao người bị bắt; không kiểm tra tình trạng sức khỏe của bị can khi đưa vào nơi tạm giam; gửi hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giam chậm (chỉ còn 3 - 4 ngày trước khi hết hạn mới gửi lên Viện kiểm sát cấp trên thay vì 10 ngày).

5. Vì sao việc xác định căn cứ "không có nơi cư trú rõ ràng" để tạm giam gặp vướng mắc trên thực tế?
Vì khoản 2 Điều 119 BLTTHS 2015 chưa có hướng dẫn chi tiết để đối chiếu với Luật Cư trú năm 2020. Khi áp dụng với các bị can là người ngoại tỉnh đến Hòa Bình phạm tội (vừa có nơi đăng ký thường trú, vừa có nơi đăng ký tạm trú, hoặc đang lưu trú thực tế tại địa phương khác), các cơ quan tố tụng gặp lúng túng trong việc xác định đối tượng có thuộc trường hợp "không có nơi cư trú rõ ràng" để áp dụng tạm giam hay không.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Lê Ngọc Hà đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp ngăn chặn tạm giam. Thông qua nguồn số liệu thực tiễn 5 năm (2018 - 2022) tại tỉnh Hòa Bình, công trình đã phản ánh chính xác kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những tồn tại, lạm dụng và vi phạm thủ tục trong áp dụng tạm giam tại địa phương. Các kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật và giải pháp nghiệp vụ được đề xuất có giá trị thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm đi đôi với bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự.