Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CAN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm của quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới. Các quốc gia thành viên đã cam kết, cùng với Liên hợp quốc, phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ chung các quyền và tự do cơ bản của con người1. Theo đó, tất cả các quốc gia, các dân tộc trên thế giới đều có nghĩa vụ, trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ quyền con người.
Theo xu thế phát triển của nhân loại, quyền con người ngày càng được đề cao, các quốc gia ngày càng chú trọng và có những chính sách bảo đảm quyền con người. Ở Việt Nam hiện nay, việc bảo đảm nhân quyền - quyền con người là một trong những chính sách quan trọng để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Quyền bào chữa luôn trở thành nguyên tắc Hiến định và ngày càng phát triển hoàn thiện, bảo đảm hơn. Bảo đảm quyền bào chữa là một phần trong chính sách bảo đảm quyền con người.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa bào chữa như sau: "Bào chữa là dùng lời lẽ, chứng cứ để bênh vực một việc". Như vậy, bào chữa là việc một người dùng lý lẽ, chứng cứ để bênh vực cho ai đó đang bị coi là phạm pháp hoặc bị lên án. Hay bào chữa là gạt bỏ lý lẽ khác để chữa tội cho mình hoặc chữa cho người khác2. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm bào chữa, quyền bào chữa và người bào chữa, như: PGS.
Phạm Hồng Hải cho rằng: Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là tổng hòa các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơsở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toànbộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự3. Hoàng Thị Sơn đưa ra quan điểm: "Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định bị can, bị cáo có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ"4. 1 Liên hợp quốc (1948), Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người, Lời nói đầu. 2 Viện Ngôn ngữ học (2013), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr.
3 Phạm Hồng Hải (1999), Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 4 Hoàng Thị Sơn (2000), Về khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo,Tạp chí Luật học, số 05. 6 Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam: Quyền bào chữa trong Bộ luật Tố tụng hình sự là tổng hòa các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự5. Theo BLTTHS năm 2003 thì quyền bào chữa chỉ dành cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chứ không dành cho những đối tượng tham gia TTHS khác và quyền này chỉ giới hạn trong việc bác bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội của các cơ quan THTT hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Đối vớiviệc bảo vệ các quyền và lợi ích khác của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không trực tiếp liên quan tới việc bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong vụ án thì không thuộc về giới hạn của quyền bào chữa. Tuy nhiên, khi thực hiện bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong vụ án thì người bào chữa cũng đồng thời giúp họ trong việc bảo vệ các quyền đó của mình. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo khi tham gia tố tụng là chịu sự buộc tội của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc buộc tội này thường gắn liền với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn của các cơ quan có thẩm quyền.
Việc phải chịu trách nhiệm hình sự mà thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thầy không phải mọi trường hợp buộc tội đến với người bị buộc tội đều chính xác mà vẫn còn có những trường hợp buộc tội oan, sai, mức hình phạt chưa phù hợp. Do vậy, quyền bào chữa thuộc về người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là yêu cầu khách quan, tất yếu trong hoạt động TTHS nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được đúng đắn, khách quan, công bằng. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã mở rộng thời điểm được tham gia bào chữa của người bào chữa vào hoạt động tố tụng (tham gia sớm hơn so với BLTTHS năm 2003), bảo đảm hơn về quyền bào chữa ngay từ khi bị giữ, bị bắt10, ghi nhận quyền bào chữa đầy đủ cho các đối tượng có khả năng bị hạn chế quyền và lợi ích, đối mặt với sự nghi ngờ, khả năng bị buộc tội bởi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, "Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa". Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định các trường hợp bắt buộc phải chỉ định người bào chữa đối với người bị buộc tội về tội mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình hoặc trong trường hợp người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa, người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.
5 Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2013), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại họcQuốc gia Hà Nội, Hà Nội. 7 Để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, toàn diện và đầy đủ, tránh để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội thì Hội đồng xét xử (HĐXX) cũng cần có nhiều góc nhìn, hướng nhìn từ phía người buộc tội, người gỡ tội,. thì việc bảo đảm quyền bào chữa cho người bị buộc tội và đặc biệt là bị cáo là hết sức cần thiết để có được một phán quyết khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai. Như vậy, quyền bào chữa là tổng hợp các quyền năng TTHS của người bị buộc tội, nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với họ, hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của họ trong vụ án hình sự.
Qua sự phân tích trên cho thấy, quyền bào chữa trong TTHS Việt Nam luôn mang tính kế thừa và phát triển, tính kế thừa là nó luôn được ghi nhận là nguyên tắc Hiến định và được cụ thể hóa trong pháp luật TTHS qua các thời kỳ, tính phát triển là sau mỗi lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và pháp luật TTHS thì quyền bào chữa luôn được ghi nhận và bảo đảm hơn. Quyền bào chữa có những đặc điểm sau: - Quyền bào chữa là nguyên tắc đặc thù, chỉ có trong pháp luật TTHS. - Bảo đảm quyền bào chữa là nguyên tắc cơ bản của BLTTHS Việt Nam, nó chi phối toàn bộ quá trình giải quyết vụ án từ bắt, giữ người có dấu hiệu tội phạm, đến điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Nếu vi phạm nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa ở bất kỳ giai đoạn nào đều bị coi là vi phạm nghiêm trọng TTHS.
- Việc bảo đảm quyền bào chữa xác định trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong phạm vi, quyền hạn, trách nhiệm của mình phải tạo các điều kiện để người bị buộc tội thực hiện các quyền của mình theo quy định của BLTTHS, ở mỗi giai đoạn, mỗi tư cách thì người bị buộc tội đều có những quyền nhất định. - Quyền bào chữa của người bị buộc tội bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa cho mình. Khái niệm, đặc điểm quyền bào chữa của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm Trước khi nghiên cứu tìm hiểu về khái niệm quyền bào chữa của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự cũng như khái niệm về bị can, quyền và nghĩa vụ của bị can.
TTHS là một quá trình gồm các hoạt động được thực hiện theo một trìnhtự nhất định, có quan hệ chặt chẽ với nhau là khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành 8 án hình sự. Tham gia vào quá trình này có nhiều chủ thể khác nhau, trong đó bị can có vị trí, vai trò quan trọng. Cùng với bị cáo, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can có vị trí trung tâm trong số những người tham gia tố tụng. Bởi vì mọi hoạt động tố tụng đều hướng tới việc làm rõ các vấn đề có liên quan đến việc phạm tội hay không phạm tội của bị can.
Giai đoạn ĐTVAHS là một trong các giai đoạn của tiến trình TTHS.Trong đó, chủ thể tiến hành các hoạt động ở giai đoạn ĐTHS bao gồm CQĐT và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Giai đoạn ĐTVAHS bắt đầu từ khi tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và kết thúc khi CQĐT làm bản kết luận đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra. Giai đoạn ĐTVAHS là quá trình áp dụng pháp luật rất phức tạp. Tronggiai đoạn điều tra, cơ quan và người có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp do BLTTHS quy định để tiến hành các hoạt động điều tra như thu thập chứng cứ, bao gồm chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng và chứng cứ xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can cũng như những chứng cứ xác định các tình tiết khác của vụ án.