Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA BỊ CAN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Nhận thức về quyền con người 1. Khái niệm quyền con người Quan niệm về quyền con người xuất hiện rất sớm trong lịch sử chính trị - tư tưởng của nhân loại (được ghi nhận trong Bộ luật Hammurabi - khoảng năm 1780 TCN). Thuật ngữ quyền con người thường được sử dụng, nhưng cho đến nay chưa có quan niệm thống nhất.
Các học giả quốc tế thường viện dẫn khái niệm quyền con người của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người. Để nhìn nhận đầy đủ, khách quan nhất về quyền con người, chúng ta phải nhìn nhận dưới ánh sáng của Học thuyết Mác - Lênin - một chỉnh thể thống nhất thể hiện những tư tưởng nhân văn chân chính nhất của loài người, là sự kế thừa một cách biện chứng những giá trị tinh hoa của con người. Theo đó, con người là sản phẩm của tự nhiên - xã hội, chịu sự tác động của các quy luật khách quan của tự nhiên - xã hội, hay nói cách khác, con người là thực thể thống nhất biện chứng giữa mặt tự nhiên và xã hội. Vì vậy, quyền con người không chỉ thuần túy là những quyền tự nhiên mà nó gồm tổng hòa các mối quan hệ xã hội, chịu sự tác động các quy luật vận động và phát triển xã hội; không có quyền con người đứng ngoài xã hội cũng như con người đứng ngoài xã hội.
Việc đưa ra khái niệm đúng đắn về quyền con người phải giải quyết được các quan hệ giữa cá nhân với xã hội, giữa tính nhân loại với tính giai cấp, giữa các giá trị đạo đức, văn hóa với pháp luật và quyền lực nhà nước, giữa quan hệ quốc tế với lợi ích quốc gia, giữa khả năng và nhu cầu tự nhiên với những nỗ lực chủ quan. Vì thế, có thể đưa ra khái niệm quyền con người như sau: là những giá trị và nhu cầu tự nhiên vốn có và chỉ có ở con người - thành viên xã hội, được nhà nước ghi nhận, thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Một số quyền con người cơ bản Quyền con người là một phạm trù đa diện, có nội dung bao trùm lên nhiều lĩnh vực khác nhau trong xã hội. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề này, khoa học pháp lý đã chia quyền con người theo các lĩnh vực hoạt động của đời sống con người thành hai nhóm chính: các quyền dân sự; chính trị và các quyền về kinh tế, văn hóa.
Các quyền này được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (UDHR) năm 1948 sau đó được cụ thể hóa trong hai công ước về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1966, gồm: Công ước về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR). - Nhóm quyền về dân sự, bao gồm: quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật; quyền sống, tự do và an ninh cá nhân; quyền xét xử công bằng; quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục; quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện; quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị tước tự do; quyền xét xử công bằng; quyền tự do đi lại, cư trú; quyền được bảo vệ đời tư; quyền tự do chính kiến, niềm tin, tín ngưỡng, tôn giáo; quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân. - Nhóm các quyền về chính trị, bao gồm: quyền tự do lập hội; quyền tự do ý kiến và biểu đạt; quyền được tham gia vào đời sống chính trị; quyền tự do hội họp một cách hòa bình; quyền bầu cử, ứng cử. - Nhóm các quyền về kinh tế, bao gồm: quyền làm việc và hưởng thù lao công bằng, hợp lý; quyền tự do kinh doanh; quyền sở hữu; quyền sở hữu hợp pháp về thừa kế; quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng; quyền được sống trong môi trường trong lành; quyền tiếp cận các dịch vụ y tế.
- Nhóm các quyền về xã hội, bao gồm: quyền được hưởng an sinh xã hội; quyền được hỗ trợ về gia đình; quyền được hưởng sức khỏe về thể chất và tinh thần; quyền trẻ em; quyền thanh niên; quyền người cao tuổi. - Nhóm các quyền về văn hóa, bao gồm: quyền được giáo dục; quyền nghiên cứu, phát minh, sáng chế; quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu khoa học. Thời đại ngày nay cùng với sự thay đổi thường xuyên và nhanh chóng trên 9 tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị - kinh tế - xã hội, quyền con người được phát triển không ngừng, phong phú hơn cả về nội dung và hình thức. Trong tiến trình phát triển đó, có một số quyền con người chưa được pháp điển hóa bằng các điều ước quốc tế mà chủ yếu được đề cập đến trong một số tuyên bố, tuyên ngôn quốc tế và khu vực cũng như pháp luật của một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, không có hiệu lực pháp lý ràng buộc với các quốc gia; gồm một số quyền sau: - Quyền tự quyết dân tộc: là quyền của các quốc gia, dân tộc đối với chủ quyền trên lãnh thổ của mình như: quyền tự do lựa chọn các thể chế chính trị, kinh tế, quyền được trợ giúp không điều kiện về kỹ thuật và tài chính từ các tổ chức quốc tế và các quốc gia khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
- Quyền phát triển: chủ thể của quyền phát triển là các nước đang phát triển, nghèo đói, đang phải gánh chịu các hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh; đang gặp phải những khó khăn trầm trọng về kinh tế như đói nghèo, dốt nát, bệnh tật. vì vậy họ có quyền được giúp đỡ về kinh tế, tài chính từ các quốc gia, tổ chức khác đặc biệt các quốc gia phát triển. - Quyền về môi trường: là quyền của mọi người trong thế hệ hiện tại và tương lai được sống trong môi trường trong lành, có lợi cho sức khỏe. Sự phát triển bền vững của đất nước, chất lượng cuộc sống, sức khỏe của dân cư và an ninh quốc gia chỉ có thể được đảm bảo trong điều kiện bảo tồn và gìn giữ được tình trạng môi trường trong sạch.
- Quyền của những người đồng tính, lưỡng tính, chuyển giới: là quyền được nhà nước, cộng đồng thừa nhận, tôn trọng, không phân biệt đối xử; quyền được tự do kết hôn; quyền được nhận nuôi con nuôi; quyền được bảo đảm các quyền con người khác mà không bị phân biệt do xu hướng tình dục và giới tính của họ. - Các quyền khác như quyền với các nguồn tài nguyên thiên nhiên; quyền được sống trong hòa bình; quyền được thông tin và các quyền về thông tin. Ngoài ra, căn cứ vào mức độ điều chỉnh của pháp luật, quyền con người được phân thành các quyền cơ bản và các quyền pháp lý khác. Quyền cơ bản của công dân (hay quyền hiến định) là các quyền quan trọng nhất, cơ bản nhất thể hiện mối quan hệ cơ bản nhất giữa Nhà nước và công dân được ghi nhận trong Hiến pháp, làm cơ sở cho việc cụ thể hóa các quyền pháp lý khác.
Quyền pháp lý khác là 10 sự cụ thể hóa các quyền cơ bản của công dân trong các lĩnh vực pháp lý khác nhau được ghi nhận trong các văn bản pháp luật cụ thể. Các quyền con người liên quan rất chặt chẽ với nhau, chúng tác động lên nhau rất lớn và phải được coi trọng như nhau. Thực tế cho thấy, mọi sự hạn chế các quyền dân sự, chính trị đều sẽ làm suy yếu sự phát triển mọi mặt của của quốc gia và do đó làm giảm mức độ hưởng thụ các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân. Trong khi đó, sự nghèo nàn về các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội chắc chắn làm tổn hại đến khả năng và mức độ tham gia của người dân vào đời sống chính trị của đất nước.
Nhận thức về giai đoạn điều tra vụ án hình sự, bị can và quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm điều tra vụ án hình sự Theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì, điều tra là một giai đoạn của tố tụng hình sự, là hoạt động của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm xác định hành vi phạm tội và người đã thực hiện hành vi phạm tội đó, lập hồ sơ đề nghị truy tố; xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục; tôn trọng sự thật, tiến hành điều tra một các khách quan, toàn diện, đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ chứng minh vô tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can. Hoạt động điều tra do thủ trưởng, phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, điều tra viên tiến hành theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Các hoạt động điều tra tố tụng hình sự được tiến hành dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát và sự tham gia của người bào chữa nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra tuân theo các nguyên tắc và thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong tố tụng hình sự, giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, kết thúc bằng hành vi kết thúc điều tra mà hình thức pháp lý thể hiện là bản kết luận điều tra. Thực chất của hoạt động điều tra là quá trình tìm kiếm, thu thập chứng cứ để chứng minh; đết quả của sự tìm kiếm, thu thập tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra là cơ sở cho các quyết định truy tố của Viện kiểm sát, là cơ sở cho các phán quyết của Tòa án.