Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÉT PHÊ CHUẨN CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, ý nghĩa của xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Phê chuẩn là một từ gốc Hán Việt, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 1998 thì: “Phê chuẩn” là xét duyệt, đồng ý cho thi hành. Còn theo Từ điển luật học Nhà xuất bản từ điển bách khoa khái niệm phê chuẩn là: “Xét duyệt để cho phép sử dụng hoặc thực hiện một văn bản, công việc, vấn đề hay lĩnh vực nào đó”.
Phê chuẩn còn được hiểu là: “Việc thực hiện quyền lực của cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền (thường là cấp trên) chấp thuận một hay nhiều đề nghị, yêu cầu của cấp phụ thuộc (thường là cấp dưới) được ghi vào văn bản có ký tên hoặc ký tên và đóng dấu, cho phép cấp phụ thuộc được thực hiện yêu cầu, đề nghị đó. Phê chuẩn thường xuất hiện trong quá trình giải quyết những công việc chung của các cơ quan nhà nước, khi cấp phụ thuộc (tổ chức cá nhân) có một số yêu cầu về công việc cần thiết mà điều kiện tiên quyết để thực hiện yêu cầu đó là sự chấp thuận của cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền, khi đó cấp phụ thuộc phải làm một văn bản như: tờ trình, đơn đề nghị, bản yêu cầu, dự thảo đề án, hiệp ước… gửi cho cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền. Trong văn bản cấp phụ thuộc nêu rõ yêu cầu, lý do, nội dung, mục đích và các điều kiện thực hiện. Sau khi xem xét các văn bản đó, nếu thấy không trái với pháp luật và thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền phê vào văn bản đó yêu cầu của mình, có ký tên hoặc ký tên và đóng dấu cho phép hoặc không cho phép cấp phụ thuộc được thực hiện.
Có thủ tục phê chuẩn toàn bộ hoặc chỉ phê chuẩn một hay một số yêu cầu đề nghị nào đó trong văn bản yêu cầu của cấp phụ thuộc. Phê chuẩn có giá trị pháp lý nếu các yêu cầu, đề nghị của cấp phụ thuộc được cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền chấp thuận nằm trong các quy định của pháp 9 Luan van luật hiện hành [34]. Các khái niệm trên về thuật ngữ “phê chuẩn” đều đề cập đến mối quan hệ quyền lực nhà nước giữa cơ quan có thẩm quyền giám sát, thẩm tra với cơ quan có thẩm quyền thi hành những hoạt động nhất định do pháp luật quy định phải chịu sự giám sát, thẩm tra thông qua thủ tục phê chuẩn. Biện pháp ngăn chặn là một loại biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự do các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị buộc tội khi các cơ quan, người có thẩm quyền này có căn cứ cho rằng những người này sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, giải quyết vụ án hình sự.
Các BPNC là một trong những chế định pháp lý quan trọng có ý nghĩa to lớn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Việc nhận thức thống nhất, đồng thời các quy định và áp dụng đúng đắn các BPNC là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của TTHS để phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. BLTTHS năm 2015 mặc dù không đưa ra khái niệm về biện pháp ngăn chặn, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 109 BLTTHS năm 2015 thì: “ Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.” Các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, gây tác động, ảnh hưởng nhất định đến các quyền và lợi ích của đương sự, thậm chí hạn chế một số quyền, hạn chế tự do. đối với người bị áp dụng.
Buộc tội là một quá trình diễn ra trong suốt quá trình chứng minh tội phạm, chứng minh người thực hiện hành vi phạm tội. Để thực hiện được nhiệm vụ này đòi hỏi phải có một lực lượng chuyên môn về điều tra thu thập toàn diện chứng cứ xác định tội phạm, người phạm tội hoặc để xác định người vô tội trong giai đoạn điều tra. Những hoạt động điều tra này chủ yếu do CQĐT và các Điều tra viên (ĐTV) 10 Luan van thực hiện. Tuy nhiên, quyền buộc tội phải do cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố tức VKS thực hiện.
Trong phạm vi chức năng của mình, VKS có quyền và trách nhiệm quyết định cuối cùng về những vấn đề liên quan đến việc buộc tội một chủ thể nào đó; kiểm soát được việc phát hiện, điều tra tội phạm và xử lý tội phạm. VKS và CQĐT là các cơ quan tiến hành tố tụng có chức năng khác nhau, phải được phân định nhiệm vụ, quyền hạn có tính độc lập tương đối nhằm đảm bảo từng cơ quan thực hiện đúng và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuy vậy, luật TTHS không thể chia tách, cắt khúc quyền lực tư pháp để từ đó làm suy giảm khả năng đấu tranh phòng, chống tội phạm. Mối quan hệ giữa VKS và CQĐT là mối quan hệ vừa chế ước, vừa phối hợp.
Đó chính là cội nguồn xuất phát của xét phê chuẩn của VKS trong TTHS. Trong luật TTHS có chủ thể tiến hành tố tụng được độc lập thực hiện các hoạt động tố tụng nhưng có những chủ thể khi thực hiện một số hoạt động cần phải được sự phê chuẩn của chủ thể khác. Điều này xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mỗi chủ thể trong tố tụng là khác nhau. Chủ thể trong TTHS là các cơ quan được tiến hành tố tụng: CQĐT, cơ quan công tố là VKS, cơ quan xét xử là Tòa án (TA) thực hiện các chức năng tương ứng là điều tra, truy tố, xét xử.
Trong các cơ quan tiến hành tố tụng tại Việt Nam, hệ thống CQĐT gồm nhiều tiểu hệ thống, với nhiều đầu mối quản lý đang tồn tại và hoạt động độc lập với nhau, được tổ chức trong lực lượng cảnh sát, an ninh, trong quân đội và VKS. Tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi hệ thống mà tổ chức nhiều cấp. Trung bình mỗi tỉnh có 3 CQĐT cấp tỉnh, cả nước 63 tỉnh, thành thì chỉ riêng CQĐT cấp tỉnh ở cả nước ta có khoảng 200 CQĐT, chưa kể đến CQĐT cấp huyện và hàng chục CQĐT trong quân đội. Mối quan hệ giữa các CQĐT thuộc hệ thống đều có sự độc lập và khép kín về phương diện, điều hành và lãnh đạo chuyên môn.
Hiện tại, BLTTHS, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự và một văn bản pháp luật của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn chung cho hoạt động của cả bộ máy điều tra tố tụng, xác định rõ mối quan hệ giữa các CQĐT trong cùng ngạch cũng như khác ngạch, chỉ có những văn bản hướng dẫn riêng của cơ quan hành chính quản lý ngành đối 11 Luan van với CQĐT thuộc ngành mình. Bên cạnh các CQĐT mang tính chuyên trách, pháp luật TTHS còn cho phép một số cơ quan hành chính cũng được quyền tham gia vào một số hoạt động điều tra: Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm và các cơ quan khác thuộc lực lượng cảnh sát nhân dân (Cảnh sát kinh tế, hình sự, cảnh sát phòng chống ma túy …); thuộc lực lượng an ninh nhân dân (chống gián điệp, phản động …) và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Có thể gọi chung các cơ quan này là các cơ quan có thẩm quyền tố tụng khác. Đây là một phả hệ tổ chức phức tạp, xét cả về chiều dọc lẫn chiều ngang [12].
Luật TTHS quy định người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng được quyền tiến hành một số hoạt động tố tụng hình sự như bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ hình sự, gia hạn tạm giữ hình sự. Đồng thời quy định việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp và gia hạn tạm giữ đều phải có sự phê chuẩn của VKS. Việc áp dụng các lệnh, quyết định này của người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi các phương tiện đã rời khỏi sân bay, bến cảng là họ đã thực hiện hoạt động của CQĐT nhằm đảm bảo hiệu quả của hoạt động TTHS. Như vậy, CQĐT là cơ quan được thành lập để thực hiện nhiệm vụ điều tra các vụ án hình sự, ngoài ra CQĐT còn bao gồm một số các cơ quan có thẩm quyền tố tụng khác được giao tiến hành thực hiện một số hoạt động điều tra và các chủ thể có thẩm quyền ra một số lệnh, quyết định TTHS trong tình huống khẩn cấp theo luật định.
Hoạt động điều tra của CQĐT là hoạt động thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ để tìm ra sự thật của vụ án, sự thật của hành vi phạm tội và xác định người đã thực hiện hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra, để thu thập chứng cứ CQĐT có quyền áp dụng các biện pháp tố tụng về điều tra. Song, nhiều biện pháp tố tụng có liên quan tới quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật, như bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giam. phải có sự phê chuẩn của VKS.
Nếu VKS không phê chuẩn, thì các lệnh, quyết định đó không được thi hành. Trong trường hợp không phê chuẩn thì trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do. Ngoài ra BLTTHS, còn quy định VKS phê chuẩn một số quyết định tố tụng của một số cơ quan có thẩm quyền tố tụng khác.