Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Vấn đề bảo đảm quyền con người, đặc biệt đối với người chưa thành niên (theo pháp luật hiện hành gọi là người dưới 18 tuổi), luôn giữ vị trí trung tâm trong đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Quan điểm này được thể chế hóa trong Điều 37 Hiến pháp năm 2013, Luật Trẻ em năm 2016 cùng các văn kiện cải cách tư pháp như Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị. Trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, người dưới 18 tuổi được xác định là đối tượng cần có sự chăm sóc, giáo dục và bảo vệ đặc biệt ngay cả khi họ thực hiện hành vi phạm tội.

Chính sách pháp luật tố tụng hình sự (CSPLTTHS) đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một bộ phận cấu thành của chính sách hình sự (CSHS), giữ vai trò định hướng cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự (TTHS). Tuy nhiên, về mặt lý luận, các công trình khoa học trong nước trước đây chủ yếu tập trung vào CSHS hoặc phân tích các điều luật thực định riêng lẻ, chưa có công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội dưới góc độ kết hợp khoa học pháp lý và khoa học chính sách công.

Về mặt thực tiễn giai đoạn 2009–2019, quá trình giải quyết các vụ án do người dưới 18 tuổi thực hiện còn bộc lộ nhiều bất cập: một số quy định mang tính hình thức, đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng còn thiếu kiến thức về tâm lý học và khoa học giáo dục người dưới 18 tuổi, tình trạng vi phạm thủ tục tố tụng dẫn đến oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố và xét xử vẫn còn xảy ra; công tác tổng kết thực tiễn chưa được quan tâm tương xứng. Do đó, việc nghiên cứu đề tài mang tính cấp thiết nhằm giải quyết khoảng trống lý luận và tháo gỡ các vướng mắc thực tiễn.

Mục tiêu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

  • Câu hỏi nghiên cứu trọng tâm: Làm thế nào để hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả CSPLTTHS Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội?
  • Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và đánh giá thực tiễn thực hiện CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở Việt Nam, luận án nhận xét và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tội phạm do nhóm đối tượng này thực hiện trong giai đoạn hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, qua đó xác định vấn đề nghiên cứu.
    2. Nghiên cứu xây dựng khái niệm CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; làm rõ đặc điểm, nội dung, hình thức, phương tiện và phân tích các yếu tố tác động đến CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
    3. Phân tích CSPLTTHS Việt Nam hiện hành đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thể hiện qua các quy định của pháp luật TTHS và thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
    4. Đưa ra những giải pháp hoàn thiện CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong thời gian tới.
  • Giả thuyết nghiên cứu:
    • Giả thuyết 1: CSPLTTHS Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố nhân thân người phạm tội đóng vai trò quan trọng.
    • Giả thuyết 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội còn nhiều bất cập, nhất là tình trạng vi phạm thủ tục tố tụng hình sự trong điều tra, truy tố, xét xử.
    • Giả thuyết 3: Các giải pháp hoàn thiện CSPLTTHS Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chưa được quan tâm xây dựng và thực hiện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận của CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; thực tiễn thực hiện CSPLTTHS thông qua quy định pháp luật TTHS và thực trạng áp dụng; các giải pháp hoàn thiện CSPLTTHS phù hợp với định hướng cải cách tư pháp và điều ước quốc tế.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào nội dung thực hiện CSPLTTHS trên 4 phương diện: mục tiêu, nguyên tắc tiến hành tố tụng, thủ tục tiến hành tố tụng và tổ chức cơ quan tiến hành tố tụng (THTT). Khái niệm "người dưới 18 tuổi phạm tội" trong luận án được tiếp cận dưới góc độ người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật trên phạm vi cả nước, trong đó tập trung phân tích điển hình các vụ án tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khác.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thống kê và thực tiễn xét xử được thu thập, phân tích trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu ngoài nước

Tác giả luận án đã phân loại và tổng quan các công trình quốc tế liên quan theo hai nhóm chủ đề chính:

Nhóm nghiên cứu Tác giả, công trình tiêu biểu Nội dung học thuật cốt lõi
Lý luận chung về CSHS và CSPLTTHS Revin V. (2018), Chính sách hình sự: giáo trình cho hệ cử nhân và thạc sỹ, Nxb Yurayt.
Tập thể tác giả ĐH Lomonosov (2012), Luật hình sự Liên bang Nga. Phần chung.
Alexandrov A. (2003), Chính sách hình sự và tố tụng hình sự của nhà nước Nga...
Chelokhsaev O.D. (2009), Chính sách pháp luật tố tụng hình sự hiện nay.
Gorazd Meško & Helmut Kury (2009), Crime policy, crime control and crime prevention - Slovenian perspectives.
Hans G. Nilsson, bài viết trong Báo cáo EU Criminal Policy - Successor to the Stockholm Programme.
Donald J. Schmid (2002), Restorative justice: a new paradigm for criminal justice policy.
GS. Học viện Tổng công tố LB Nga, bài viết về chính sách TTHS.
Phân tích CSHS và CSPLTTHS như một bộ phận của chính sách đấu tranh chống tội phạm; xác định hai hình thức hiện thực hóa chính sách là xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật. Đánh giá xu hướng công lý phục hồi, các giải pháp thay thế hình phạt và các yếu tố tác động đến sự ổn định của quy trình TTHS.
CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Zhao Ruohui, Zhang Hongwei & Liu Jianhong, Chương 6 China's Juvenile Justice... trong Juvenile justice: international perspectives, models, and trends.
Markovichev E. (2013, 2017), các bài viết trên Tập san TTHS và hình pháp học Siberia.
Hiệp hội Luật gia Hoa Kỳ (ABA), Báo cáo Youth in the Criminal System.
Barry C. Feld, bài viết Abolish the Juvenile Court: Youthfulness, Criminal Responsibility, and Sentencing Policy.
Đề cập đến mô hình tư pháp người chưa thành niên (NCTN); sự phân hóa giữa thủ tục tố tụng thông thường và thủ tục thân thiện; 6 nguyên tắc tố tụng đối với người trẻ tuổi (phân biệt sự phát triển, cho tại ngoại, chương trình tái hòa nhập bắt buộc, không được từ chối luật sư nếu không được tham vấn, cá thể hóa hình phạt, áp dụng biện pháp thay thế); tranh luận về việc duy trì hay bãi bỏ Tòa án vị thành niên chuyên biệt.

Các hướng nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, các công trình được phân chia theo ba nhóm tiếp cận:

  1. Nghiên cứu về chính sách pháp luật và chính sách hình sự nói chung:
    • Giáo trình Sau đại học Chính sách pháp luật của GS.TS Võ Khánh Vinh (2020) và chuỗi bài viết của tác giả trên Tạp chí Nguồn nhân lực (2015–2017) xác lập hệ thống lý luận nền tảng về khái niệm, khách thể, mục tiêu, nguyên tắc, phương tiện và hình thức thực hiện chính sách pháp luật.
    • Các công trình của GS.TSKH Đào Trí Úc (sách Luật hình sự Việt Nam và bài báo năm 2017), GS.TS Hồ Trọng Ngũ (2001), GS.TSKH Lê Cảm (báo cáo năm 2002, sách chuyên khảo Sau đại học Phần chung), TS. Phạm Văn Lợi (2005), Luận án tiến sĩ của Phạm Thư (2005), cùng Báo cáo hội thảo của Bộ Tư pháp và Dự án VIE 02/015 (2008). Các tài liệu này tập trung luận giải cơ sở khoa học của việc hoạch định CSHS trong xây dựng Nhà nước pháp quyền.
    • Các chuyên khảo tiếp cận quyền con người đa ngành, liên ngành do GS.TS Võ Khánh Vinh và TS. Lê Mai Thanh chủ biên.
  2. Nghiên cứu về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội:
    • Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của GS.TS Võ Khánh Vinh phân tích cơ sở quy định chương "Biệt lệ" trong BLHS, nguyên tắc nhân đạo và phân hóa trách nhiệm hình sự dựa trên đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi.
    • Luận án tiến sĩ của Hoàng Minh Đức (2016) về Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay, tập trung chủ yếu vào chính sách luật hình sự (tội phạm và hình phạt).
    • Chuyên khảo của Trần Quang Thông và Hoàng Minh Đức về Tư pháp hình sự người chưa thành niên ở Việt Nam hiện nay, một số vấn đề lý luận và thực tiễn.
  3. Nghiên cứu về thủ tục tố tụng và bảo vệ quyền của người chưa thành niên:
    • Các luận án tiến sĩ tiêu biểu: Đỗ Thị Phượng (2008) về thủ tục tố tụng đối với NCTN trong Luật TTHS; Lê Minh Thắng (2012) về đảm bảo quyền của NCTN trong TTHS; Trần Hưng Bình (2013) về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN; Nguyễn Hữu Thế Trạch (2014) về quyền bào chữa của bị can, bị cáo là NCTN.
    • Các bài viết chuyên khảo của Phạm Mai Bộ, Ngô Duy Hiểu, Phan Trung Hoài, Phạm Văn Hùng, Nguyễn Hải Ninh, Trần Văn Dũng, Trần Hoài Nam, Tường An, Nguyễn Trung Hoan, Ngô Sỹ Quý, Vũ Văn Hùng, Huỳnh Thị Kim Ánh, Lê Thị Nga, Lê Huỳnh Tấn Duy, Võ Thị Kim Dung, Lê Thị Thùy Dương, Trần Thị Minh Thư, Hoàng Minh Khôi, Hồng Phong Minh, Trần Thị Thu Hiền, Nguyễn Phương Anh...

Khoảng trống luận án giải quyết

Mặc dù số lượng công trình nghiên cứu về CSHS và thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên tương đối phong phú, phần lớn các công trình chỉ khai thác sâu các quy định thực định của Bộ luật TTHS hoặc khía cạnh hình sự nội dung (tội danh, khung hình phạt). Đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, tổng thể và trực tiếp về chính sách pháp luật tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội dưới góc độ liên ngành giữa Luật học và Khoa học Chính sách công. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh và đánh giá thực tiễn thi hành từ năm 2009 đến năm 2019 để kiến nghị các giải pháp hoàn thiện đồng bộ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

Luận án được triển khai dựa trên các khung lý thuyết nền tảng:

  • Hệ thống lý luận về hình sự và tố tụng hình sự, lý luận về chính sách pháp luật và chính sách hình sự: Tiếp cận CSPLTTHS như một phân hệ của CSHS, định hình cách thức tổ chức đời sống pháp luật TTHS.
  • Lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Chiến lược cải cách tư pháp: Làm cơ sở xác định mục tiêu dân chủ hóa, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan THTT.
  • Lý thuyết về quyền con người và bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự: Đặt quyền và lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi làm trọng tâm điều chỉnh.
  • Khung phân tích của Khoa học Chính sách công: Sử dụng các yếu tố cấu thành chính sách (chủ thể, khách thể, mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, hình thức, phương tiện) để mổ xẻ CSPLTTHS.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp phân tích tài liệu (áp dụng tại Chương 1, 2, 3, 4): Hệ thống hóa văn bản pháp luật, quan điểm chỉ đạo của Đảng, các nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước; phân tích quá trình thực hiện CSPLTTHS từ năm 2009 đến 2019 để so sánh tính kế thừa và phát triển.
  • Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh số liệu (áp dụng tại Chương 3): Xử lý số liệu khảo sát thực tế về tình hình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án do người dưới 18 tuổi thực hiện giai đoạn 2009–2019.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn (áp dụng tại Chương 3): Đánh giá các tài liệu thực tế áp dụng các quy định của Bộ luật TTHS, phát hiện bất cập trong hoạt động của CQĐT, VKSND và TAND.
  • Phương pháp so sánh pháp luật (áp dụng tại Chương 2): Đối chiếu các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam với pháp luật tố tụng của một số quốc gia và các chuẩn mực, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (tiêu biểu là Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em).
  • Phương pháp chuyên gia (áp dụng tại Chương 2, 3, 4): Tham vấn ý kiến của các chuyên gia nghiên cứu lý luận, cán bộ thực tiễn tại các cơ quan tiến hành tố tụng qua phỏng vấn trực tiếp, tọa đàm khoa học và các ấn phẩm chuyên khảo.
  • Phương pháp nghiên cứu điển hình (áp dụng tại Chương 3): Phân tích các vụ án hình sự cụ thể do người dưới 18 tuổi thực hiện, đánh giá việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn (bắt, tạm giữ, tạm giam) và quy trình xét xử thân thiện.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam: Hiến pháp 2013, BLHS, Bộ luật TTHS, Luật Trẻ em 2016, các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Các văn kiện của Đảng: Cương lĩnh xây dựng đất nước năm 2011, Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW.
  • Dữ liệu thống kê ngành Tòa án, Viện kiểm sát và Công an về giải quyết án hình sự người dưới 18 tuổi giai đoạn 2009–2019 tại TP. Hồ Chí Minh và một số địa phương.
  • Các điều ước quốc tế, công ước về quyền trẻ em và các tài liệu chuẩn mực của Liên Hợp Quốc.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tập trung phân loại, đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về CSHS, CSPLTTHS nói chung và CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng.

  • Nghiên cứu quốc tế: Tác giả phân tích các hệ thống lý thuyết về mô hình tư pháp hình sự vị thành niên tại Nga, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Slovenia và Liên minh Châu Âu; chỉ ra xu hướng vận động giữa mô hình công lý trừng phạt và công lý phục hồi, cũng như các tiêu chuẩn tố tụng đối với người chưa thành niên.
  • Nghiên cứu trong nước: Phân loại hệ thống giáo trình, đề tài khoa học, luận án tiến sĩ và bài báo chuyên ngành về chính sách pháp luật, CSHS, quyền con người và thủ tục tố tụng người chưa thành niên; xác định rõ những đóng góp có thể kế thừa từ các công trình đi trước của các học giả như Võ Khánh Vinh, Đào Trí Úc, Lê Cảm, Đỗ Thị Phượng, Hoàng Minh Đức...
  • Khoảng trống xác định: Khẳng định sự thiếu vắng của một công trình nghiên cứu tổng thể, chuyên sâu về CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Việt Nam, từ đó xác lập 4 vấn đề trọng tâm cần tiếp tục giải quyết trong các chương tiếp theo.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về chính sách pháp luật tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Chương 2 thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh cho đề tài với các nội dung trọng tâm:

  • Khái niệm và vị trí: CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một bộ phận của CSPLTTHS, cấu thành chính sách hình sự của Nhà nước; là phương thức định hướng, tổ chức và điều chỉnh đời sống pháp luật TTHS liên quan đến người bị buộc tội dưới 18 tuổi.
  • Chủ thể của CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: Được chia thành 3 nhóm cơ bản:
    1. Cơ quan quyền lực nhà nước: Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội (hoạch định, ban hành chính sách và văn bản quy phạm pháp luật).
    2. Cơ quan hành chính nhà nước cao nhất: Chính phủ (tổ chức thi hành, đề xuất dự án luật, ban hành nghị quyết, nghị định bảo đảm thực thi).
    3. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cùng các tổ chức xã hội tham gia tố tụng.
  • Khách thể: Đời sống pháp luật tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (các hoạt động, hành vi, quan hệ pháp luật tố tụng và ý thức pháp luật của các chủ thể).
  • Mục đích: Tăng cường bảo vệ quyền và tự do của người dưới 18 tuổi phạm tội; bảo đảm lợi ích hợp pháp của Nhà nước và xã hội; nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm; bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật; ưu tiên áp dụng nguyên tắc khoan hồng, giáo dục và thuyết phục.
  • 6 nguyên tắc cơ bản của CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:
    1. Nguyên tắc được lập luận khoa học: Dựa trên các thành tựu khoa học pháp lý và đặc điểm tâm lý học lứa tuổi.
    2. Nguyên tắc hệ thống: Đảm bảo tính chỉnh thể, tương tác đồng bộ giữa các hình thức xây dựng, áp dụng, giải thích và giáo dục pháp luật.
    3. Nguyên tắc nhất quán: Xuyên suốt trong chiến lược dài hạn gắn với cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
    4. Nguyên tắc hướng đích: Tập trung bảo vệ tốt nhất quyền, tự do cho người dưới 18 tuổi phạm tội.
    5. Nguyên tắc dự báo: Nhìn trước khả năng phát triển các quan hệ xã hội và phản ứng chính sách để ngăn ngừa tác động tiêu cực.
    6. Nguyên tắc khả thi: Phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, văn hóa, truyền thống và nguồn lực thực tế.
  • 4 phương diện nội dung của CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:
    • Về mục tiêu: Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền; khắc phục bất cập thực tiễn; bảo đảm tương thích quốc tế (Công ước Quyền trẻ em); tăng cường vai trò giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội.
    • Về nguyên tắc tiến hành tố tụng (7 nguyên tắc): (1) Thủ tục tố tụng thân thiện; (2) Giữ bí mật cá nhân; (3) Bảo đảm quyền tham gia của người đại diện, nhà trường, đoàn thể; (4) Tôn trọng quyền tham gia, trình bày ý kiến; (5) Bảo đảm quyền bào chữa và trợ giúp pháp lý; (6) Tuân thủ nguyên tắc xử lý của BLHS; (7) Giải quyết nhanh chóng, kịp thời.
    • Về thủ tục tố tụng đặc biệt: Quy định chi tiết các thủ tục lấy lời khai, hỏi cung, đối chất, áp dụng biện pháp ngăn chặn/cưỡng chế, quyền bào chữa và bảo vệ an toàn sức khỏe.
    • Về tổ chức cơ quan tiến hành tố tụng: Phát triển mô hình tố tụng thân thiện và hoàn thiện thiết chế Tòa Gia đình và người chưa thành niên (thành lập từ năm 2014).

Chương 3: Chính sách pháp luật tố tụng hình sự và thực hiện chính sách pháp luật tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở Việt Nam

Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật TTHS thực định và đánh giá bức tranh thực tiễn:

  • Khung pháp lý hiện hành: Phân tích các quy định đặc thù dành cho người dưới 18 tuổi trong Bộ luật TTHS (thủ tục thân thiện, chỉ định người bào chữa, sự tham gia của đại diện gia đình và nhà trường, quy định hạn chế áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam).
  • Thực trạng thực hiện giai đoạn 2009–2019: Khảo sát, tổng hợp số liệu thực tế về việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án có người dưới 18 tuổi phạm tội tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khác.
  • Đánh giá hạn chế, bất cập:
    • Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đôi khi còn lạm dụng, chưa thực sự coi là biện pháp cuối cùng.
    • Việc tham gia của người bào chữa, người đại diện trong các hoạt động điều tra (hỏi cung, lấy lời khai) ở một số vụ án còn mang tính hình thức.
    • Cơ sở vật chất phục vụ tố tụng thân thiện chưa đồng bộ; thiếu phòng xử án chuyên biệt tại nhiều địa phương.
    • Đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán chuyên trách về người chưa thành niên còn thiếu, chưa được đào tạo chuyên sâu về tâm lý học và khoa học giáo dục.

Chương 4: Hoàn thiện chính sách pháp luật tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở nước ta hiện nay

Chương 4 xác định các yêu cầu và đề xuất các nhóm giải pháp có tính hệ thống:

  • Yêu cầu hoàn thiện: Đáp ứng tinh thần cải cách tư pháp, cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tính tương thích với các công ước quốc tế về quyền trẻ em, kết hợp hài hòa giữa trừng trị và giáo dục phục hồi.
  • Các nhóm giải pháp đề xuất:
    • Hoàn thiện quy định pháp luật TTHS: Sửa đổi, bổ sung các điều luật về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn; quy định chặt chẽ hơn thủ tục lấy lời khai, hỏi cung thân thiện; luật hóa cơ chế xử lý chuyển hướng ngoài tố tụng hình sự.
    • Hoàn thiện mô hình tổ chức cơ quan THTT: Kiện toàn Tòa Gia đình và người chưa thành niên tại TAND cấp tỉnh và cấp huyện; thiết lập bộ phận điều tra viên và kiểm sát viên chuyên trách xử lý án người dưới 18 tuổi.
    • Nâng cao năng lực chủ thể tiến hành tố tụng: Đưa nội dung tâm lý học tư pháp và kỹ năng tố tụng thân thiện vào chương trình đào tạo bắt buộc cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư.
    • Tăng cường cơ sở vật chất và phối hợp xã hội: Trang bị phòng thẩm vấn, phòng xử án thân thiện; xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan THTT với gia đình, nhà trường, Đoàn Thanh niên và các tổ chức trợ giúp pháp lý.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Xác lập nội hàm khái niệm và khung lý thuyết: Luận án là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống về CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; làm rõ các dấu hiệu đặc trưng, xác định 3 nhóm chủ thể, phân tích khách thể là đời sống pháp luật TTHS, xác định mục đích và 6 nguyên tắc chỉ đạo của chính sách.
  2. Làm rõ các yếu tố bảo đảm: Luận giải các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đặc điểm nhân thân người dưới 18 tuổi và các chuẩn mực quốc tế tác động đến việc hoạch định và thực hiện CSPLTTHS tại Việt Nam.
  3. Phát triển phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức của Luật TTHS, Luật Hình sự, Tội phạm học, Tâm lý học tư pháp và Khoa học Chính sách công trong việc đánh giá và hoàn thiện quy trình tư pháp người chưa thành niên.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Đánh giá toàn diện thực trạng thi hành (2009–2019): Phân tích dữ liệu thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, chỉ rõ những vướng mắc, sai phạm về thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
  2. Hệ thống hóa các giải pháp đồng bộ: Đưa ra hệ thống giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật TTHS, giải pháp về kiện toàn tổ chức cơ quan THTT (mô hình tố tụng thân thiện, Tòa Gia đình và người chưa thành niên) và các giải pháp bảo đảm nguồn nhân lực chuyên trách.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Luận án giới hạn phạm vi thu thập số liệu thống kê thực tiễn trong giai đoạn 2009–2019; do đó, các biến động mới về tình hình tội phạm và thực tiễn thi hành sau năm 2019 chưa được phản ánh trong số liệu của công trình.
    • Nghiên cứu khảo sát thực tế và phân tích điển hình tập trung chủ yếu tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành lân cận, chưa bao quát toàn bộ các vùng miền đặc thù (như vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động của Bộ luật TTHS năm 2015 trong giai đoạn thi hành sau năm 2019 đối với các vụ án người dưới 18 tuổi phạm tội.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế xử lý chuyển hướng (diversion) và mô hình công lý phục hồi (restorative justice) áp dụng riêng cho người dưới 18 tuổi phạm tội tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học cho Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương trong việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS và xây dựng Luật Tư pháp người chưa thành niên.
  • Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án): Làm tài liệu tham khảo trong việc chuẩn hóa quy trình tố tụng thân thiện, áp dụng biện pháp ngăn chặn và tổ chức bộ máy chuyên trách (Tòa Gia đình và người chưa thành niên).
  • Đối với các cơ sở nghiên cứu và đào tạo luật học: Làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh trong các bộ môn Luật Tố tụng hình sự, Luật Hình sự, Tội phạm học, Khoa học Điều tra hình sự và Chính sách công.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa khách thể của CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là gì?

Khách thể của CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một bộ phận của khách thể CSPLTTHS nói chung, đó là đời sống pháp luật tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đây là tổng thể các loại hoạt động, hành vi tố tụng, các quan hệ giữa các chủ thể diễn biến trong hiện thực pháp luật TTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, phản ánh trình độ phát triển pháp luật, hiện thực áp dụng (cả tích cực và tiêu cực), ý thức, thái độ và quá trình phát triển lịch sử của pháp luật TTHS đối với nhóm đối tượng này.

2. CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được xây dựng và thực hiện dựa trên những nguyên tắc cơ bản nào?

Luận án xác định 6 nguyên tắc cơ bản bao gồm:

  1. Nguyên tắc được lập luận khoa học;
  2. Nguyên tắc hệ thống;
  3. Nguyên tắc nhất quán;
  4. Nguyên tắc hướng đích;
  5. Nguyên tắc dự báo;
  6. Nguyên tắc khả thi.

3. Chủ thể của CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội gồm những cơ quan nào?

Chủ thể được chia thành 3 nhóm:

  • Nhóm 1 (Cơ quan quyền lực nhà nước): Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Nhóm 2 (Cơ quan hành chính nhà nước cao nhất): Chính phủ.
  • Nhóm 3 (Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng): Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và các cơ quan, tổ chức khác tham gia tố tụng.

4. Bốn phương diện nội dung chính của CSPLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong luận án là gì?

Nội dung của chính sách được phân tích trên 4 phương diện:

  1. Mục tiêu của quá trình tố tụng hình sự;
  2. Nguyên tắc tiến hành tố tụng hình sự (gồm 7 nguyên tắc tiến hành tố tụng cụ thể);
  3. Trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng hình sự đặc biệt (quyền bào chữa, sự tham gia của đại diện/nhà trường, giữ bí mật thông tin, an toàn sức khỏe);
  4. Tổ chức các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự (mô hình tố tụng thân thiện, Tòa Gia đình và người chưa thành niên).

5. Dữ liệu thực tiễn và phạm vi không gian của luận án được khảo sát như thế nào?

Luận án sử dụng các số liệu thống kê thu thập từ năm 2009 đến năm 2019 trên phạm vi cả nước, đồng thời tiến hành phân tích điển hình các vụ án tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khác.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Chính sách pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội" đã xây dựng hệ thống lý luận liên ngành giữa Luật học và Khoa học Chính sách công về CSPLTTHS dành riêng cho người dưới 18 tuổi. Thông qua việc phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành giai đoạn 2009–2019, luận án chỉ rõ các bất cập trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn và quy trình tố tụng thân thiện. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện khung pháp lý, tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực chủ thể tiến hành tố tụng, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người và phòng ngừa tội phạm người chưa thành niên tại Việt Nam.