Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về thủ tục tố tụng tại phiên toà xét xử vụ án hình sự. - Chương 2: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm và thực tiễn áp dụng. 9 - Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thủ tục tố tụng tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ.
KHÁI NIỆM THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM; VỊ TRÍ, VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA XÉT XỬ SƠ THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ.1 Khái niệm thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm. Trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm đem lại sự bình ổn cho đất nƣớc, Đảng và Nhà nƣớc ta đã sử dụng nhiều hình thức, biện pháp, công cụ khác nhau. Một trong những biện pháp tƣơng đối hiệu quả có tác dụng răn đe mạnh mẽ đó là việc ban hành các văn bản pháp luật quan trọng nhƣ đề ra các quy định về tội phạm và hình phạt trong Bộ luật Hình sự áp dụng đối với những hành vi vi phạm và ngƣời vi phạm pháp luật và Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trình tự thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Thực hiện nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ nghĩa đã đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992, bảo đảm “Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật” (Điều 3 BLHS năm 1999).
Bộ luật tố tụng hình sự đã khẳng định :”Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải tiến hành theo quy định của Bộ luật này”. Nhƣ vậy là để giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, toàn diện, đúng pháp luật bắt buộc phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và do nhiều cơ quan khác nhau tiến hành. Tất cả các hoạt động tố tụng của các cơ quan này đều phải đƣợc quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, mỗi giai đoạn tố tụng hình sự phải đƣợc tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật đã quy định. 10 Theo từ điển tiếng Việt năm 2004 của Viện ngôn ngữ học, thủ tục đƣợc hiểu là “những việc cụ thể phải làm theo một trình tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức“.[48] Tố tụng là việc “Tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự “.
Phiên toà là “ Lần họp để xét xử cuả Toà án”. Sơ thẩm là “Xét xử một vụ án với tư cách là Toà án ở cấp xử thấp nhất”. Hoạt động xét xử sơ thẩm là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong tố tụng hình sự. Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nƣớc, xã hội cũng nhƣ quyền lợi chính đáng của công dân việc xét xử vụ án hình sự có thể phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau.
Thông thƣờng, xét xử sơ thẩm là bắt buộc đối với mọi vụ án hình sự. Trên cơ sở Cáo trạng của Viện kiểm sát chuyển sang, Toà án cấp sơ thẩm lần đầu tiên đƣa vụ án ra xem xét công khai tại phiên toà. Trong trƣờng hợp có kháng cáo, kháng nghị, vụ án có thể đƣợc đƣa ra xét xử phúc thẩm và khi có một số điều kiện nhất định, vụ án có thể đƣợc xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Dù ở giai đoạn nào thì việc xét xử cũng phải tuân theo một thủ tục nhất định đã đƣợc quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đƣợc tiến hành sau khi Toà án nhận đƣợc bản Cáo trạng và hồ sơ vụ án do Viện Kiểm sát chuyển sang. Pháp luật tố tụng hình sự thƣờng quy định một khoảng thời gian nhất định cho Toà án nghiên cứu hồ sơ vụ án và chuẩn bị các công việc cần thiết cho việc mở phiên toà sơ thẩm. Trƣớc hết, Toà án phải xác định vụ án có thuộc thẩm quyền xét xử của mình hay không. Nếu qua nghiên cứu thấy không thuộc thẩm quyền, Thẩm phán đƣợc phân công chủ toạ phiên toà sẽ đề nghị Chánh án Toà án chuyển vụ án cho Toà án có thẩm quyền.
Trong trƣờng hợp vụ án thuộc thẩm quyền, Toà án sẽ tiếp tục tiến hành các công việc khác và có thể ra một trong các quyết định bao gồm quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định 11 tạm đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định đƣa vụ án ra xét xử. Quá trình xét xử vụ án hình sự phải có sự tham gia của những ngƣời tiến hành tố tụng và ngƣời tham gia tố tụng. Trong số những ngƣời này có những ngƣời mà sự có mặt của họ là bắt buộc, không thể thiếu nhƣng cũng có những ngƣời họ có mặt tại phiên toà hay không cũng không ảnh hƣởng nhiều đến việc giải quyết vụ án. Tính chất bắt buộc hay không bắt buộc đối với việc tham gia phiên toà cuả những ngƣời tiến hành tố tụng, ngƣời tham gia tố tụng có sự khác nhau giữa các nƣớc theo mô hình tố tụng tranh tụng và các nƣớc theo mô hình tố tụng thẩm vấn.
Cần phải khẳng định rằng mô hình tố tụng của Việt Nam là kiểu tố tụng thẩm vấn có chứa đựng một số nội dung tranh tụng. Do đó, BLTTHS của chúng ta cũng có quy định về những ngƣời cần có mặt tại phiên toà khác với các nƣớc khác. BLTTHS năm 2003 quy định thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một thẩm phán và hai Hội thẩm. Trong trƣờng hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm.
Các thành viên của Hội đồng xét xử phải có mặt từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên toà. Nếu có thẩm phán hoặc Hội thẩm không tiếp tục tham gia xét xử đƣợc thì phải có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết thay thế. Những ngƣời này cũng phải có mặt tại phiên toà từ đầu thì mới đƣợc tham gia xét xử. Trong trƣờng hợp không có thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết thay thế hoặc phải thay đổi chủ toạ phiên toà thì Toà án phải hoãn phiên toà và vụ án phải đƣợc xét xử lại từ đầu.
Quy định này nhằm bảo đảm cho thành phần Hội đồng xét xử phải có mặt xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án, có nhƣ vậy mới nắm bắt đƣợc toàn bộ diễn biến phiên toà, từ đó có đƣợc các quyết định đúng đắn. Sự tham gia của Kiểm sát viên trong phiên toà hình sự sơ thẩm cũng mang tính bắt buộc. Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định: “Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có những quyền hạn sau đây: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong 12 hoạt động xét xử của Toà án nhân dân. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; kiểm sảt các bản án, quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật…”.
Nhƣ vậy, có thể thấy bên cạnh quyền công tố, truy tố ngƣời phạm tội trƣớc Toà án, Kiểm sát viên tham gia phiên toà còn có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, chấp hành các thủ tục tố tụng tại phiên toà của ngƣời tiến hành tố tụng, ngƣời tham gia tố tụng nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của ngƣời tham gia tố tụng cũng nhƣ đảm bảo cho việc xét xử đƣợc tiến hành đúng pháp luật. Do đó, BLTTHS năm 2003 quy định kiểm sát viên cùng cấp phải tham gia phiên toà. Nếu vụ án có tính chất phức tạp, nghiêm trọng thì có thể có hai kiểm sát viên cùng tham gia. Trong trƣờng hợp kiểm sát viên vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà và báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Sự có mặt của bị cáo tại phiên toà vừa là nghĩa vụ đồng thời cũng là quyền. Họ có nghĩa vụ tham gia phiên toà vì họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, việc họ có mặt tại phiên toà cũng là quyền để họ có thể tự bào chữa cho mình trƣớc Toà. Vì vậy, Toà án phải triệu tập bị cáo đến phiên toà.
Nếu bị cáo không có mặt tại phiên toà thì chủ toạ phiên toà phải kiểm tra xem họ đã nhận đƣợc giấy triệu tập hay chƣa?. Trƣờng hợp họ không đƣợc giao giấy triệu tập hợp lệ và họ có yêu cầu thì Toà án phải hoãn phiên toà. Nếu bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị áp giải. Tuy nhiên, Toà án cũng có thể xử vắng mặt bị cáo trong trƣờng hợp bị cáo trốn tránh và việc truy nã không có kết quả; bị cáo đang ở nƣớc ngoài và không thể triệu tập đến phiên toà; bị cáo đã đƣợc giao giấy triệu tập hợp lệ nhƣng vẫn vắng mặt mà sự vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử.
Ngƣời bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên toà để làm nhiệm vụ bào chữa cho bị cáo, giúp đỡ bị cáo thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng mà pháp luật quy định. Sự có mặt của ngƣời bào chữa sẽ đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động xét xử, đảm bảo cho việc tranh tụng công khai trƣớc phiên toà. Tuy nhiên, sự có mặt của ngƣời bào chữa không phải là bắt buộc đối với 13 mọi vụ án. Chỉ trong trƣờng hợp bị cáo là ngƣời chƣa thành niên hoặc có nhƣợc điểm về thể chất, tâm thần hoặc trƣờng hợp bị cáo bị truy tố đƣa ra xét xử về tội có khung hình phạt cao nhất là tử hình đƣợc quy định tại BLHS năm 1999 thì bắt buộc phải có sự tham gia của ngƣòi bào chữa.
Nếu ngƣời bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên toà. Tuy nhiên ngay cả trong trƣờng hợp này nếu bị cáo là ngƣời chƣa thành niên hoặc có nhƣợc điểm về thể chất, tâm thần, nếu cả bị cáo và ngƣời đại diện hợp pháp của họ đều từ chối ngƣời bào chữa thì Toà án vẫn tiến hành xét xử không có ngƣời bào chữa. Việc từ chối nhờ ngƣời bào chữa phải đƣợc ghi vào biên bản phiên toà. Nếu chỉ có bị cáo hoặc chỉ có ngƣời đại diện hợp pháp của họ từ chối ngƣời bào chữa thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án có sự tham gia của ngƣời bào chữa đã đƣợc cử.