Chương 1: Một số vấn đề If luận và quy định của Bộ luật tố tung hình sự năm 2015 về biện pháp ngăn chặn tam giam. Thực tiễn thi hành biện pháp ngăn chăn tam giam và giải pháp nding cao hiệu qua. CHƯƠNG1 MOT SÓ VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TÓ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VE BIEN PHÁP NGAN CHAN TẠM GIAM 1. Một số van đề lý luận về biện pháp ngăn chặn tam giam 1.
Khai niệm biên pháp ngăn chặn tam giam Hiên pháp năm 2013 khang định: Nha nước Việt Nam la “Nha nước pháp quyén xã hội chi ngiữa “^ Đây là Nha nước đề cao vai trò của pháp luật, được td chức, hoạt động trên cơ sở một hệ thông pháp luật dân chủ, công bằng và các nguyên tắc chủ quyên nhân dân, phân công và kiểm soát quyên lực Nha nước nhằm bao đảm quyên con người, tự do cá nhân, công bằng, bình dang trong x4 hội. Chính vi thé, khi mà các biện pháp thuyết phục được áp dụng không dem lại hiệu quả, các cơ quan thực thi nhiệm vụ phải sử dụng đến các biện pháp có tính quyên lực nha nước. Mét trong những biện pháp thé hiện tính quyên lực của Nhà nước đó chính là tạm giam - một biện pháp có tinh ran đe cao, là công cụ tác động x4 hội sắc bén và hữu hiệu dé bude các chủ thé phải thé hiện sự tôn trong pháp luật bằng việc thực hiện những hanh vi cụ thể phù hợp với mục tiêu và lợi ich của nha nước được thé hiện trong các quy phạm pháp luật mà không còn sự lựa chọn khác. Biên pháp ngăn chặn tạm giam có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, tạm giam là biên pháp thuộc nhóm biện pháp cưỡng ché có tinh cưỡng ché nghiêm khắc nhất.
Trong TTHS, biên pháp tạm giam là một trong những biên pháp có tính cưỡng ché được áp dụng đôi với người bị buộc tội, mục đích không dé họ tiếp tục phạm tội hoặc can trở quá trình điều tra, truy tô, xét xử, thi hành an. Tính cưỡng chê của biện pháp tam giam thé hiện ở việc khi một đôi tượng bị áp dung thi bắt buộc họ phải chap hành, cho đủ họ có muôn hay không thi Nha nước đã 4 Điều 2 Hiển pháp năm 2013. đưa ra những biện pháp bảo đảm cũng như chế tai can thiết dé buôc họ phải chấp hảnh nghiêm chỉnh. Nếu ho không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ thì phải chịu hậu quả pháp lý”.
Tính cưỡng chê của BPNCTG còn thé hiện là cách thức mang tính quyên lực nhà nước do cơ quan, người có thâm quyên THTT áp dụng theo những căn cứ, trình tự, thủ tục vả thời hạn do pháp luật TTHS quy định, tác động lên tư tưởng, hanh vi của người bi buộc tội, buộc những chủ thể này phải thực hiện nghĩa vụ nhằm bảo đâm cho quá trình giải quyết vụ án thuận lợi, nhanh chóng. Thứ hai, biện pháp tạm giam hạn chê quyên con người, quyên công dân Biện pháp tam giam hạn chê quyên tự do của con người, người bị áp dung sẽ bi cách ly khởi cuộc sóng bên ngoài xã hội một thời gian nhất định, hạn chế quyên con người là đặc điểm đặc trưng, quan trong nhất khi nói đến biện pháp tạm giam. Bởi người bi áp dụng biện pháp tam giam không chỉ quyên tự do bi hạn ché trong thời gian tương đối dai ma còn kéo theo hậu quả là các quyên cơ bản khác bị han chê theo. Nhưng hạn chế nay chỉ mang tính tam thời, được ap dụng một khoảng nhất định, néu hết thời han tạm giam ma cơ quan có thẩm quyền không chứng minh được tôi phạm thì biên pháp tạm giam bi hủy bỏ hoặc tạm giam đến khi xét xử ma tòa án tuyên không pham tôi, tòa án tuyên phạm tội nhưng được áp dụng hình phạt không phải là tủ gam Mặc du bi hạn chế về quyên con người, nhưng xét về bản chất, tam giam là BPNC, không phải là hình phạt.
Hiển pháp năm 2013 đã quy định rõ: “Moi người có quyền bat khả xâm phạm về thân thé, được pháp luật bảo hộ về sức khoẽ, danh de và nhân phẩm; không bi tra tan, bao lực, truy bức, nhuc hình hay bat ky hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thé, sức khôe, xúc phạm danh đực nhân phẩm ”Š Do đó, việc áp dụng biện pháp tạm giam cân bao dam các quyên bat kha xâm š Nguyễn Ngọc Chí, L Lan Chi (đồng chủ biển) (2019), Giáo trồnh Ludt tổ trang hinh su Việt Nam, Nxb. Dai hoc Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 165. * Khoản 1 Điều 20 Hien pháp năm 2013. phạm về thân thể, quyền được bao hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của người bị tạm giam.
Tint ba, việc áp dụng biên pháp tam giam rat chặt chế về căn cứ, thấm quyên, trình tự, thủ tục. Việc áp dụng biện pháp tạm giam phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục, thấm quyên, căn cứ chat chế mà pháp luật đã quy định Tham quyền áp dung BPNCTG thuộc vê cơ quan có thâm quyên THTT. Xuât phát từ chức năng, nhiệm vụ dautranh, xử lý tội phạm, CQDT được quyên ra quyết định tạm giam, nhưng quyết định tam giam của CQDT cân phải được phê chuẩn bởi VKS. Tam giam là biện pháp nghiêm khắc nhất khi cách li người bi tạm giam ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhật định, nên xuất phat từ chức năng kiếm sat việc tuân thủ pháp luật của VKS, dé tránh việc quyên lợi của người bị tạm giam bị xâm phạm va bảo dam tinh hợp lý, đúng dan của việc áp dung tam giam, hoạt đông phê chuẩn của VKS đã khang định được sư thận trong, dam bảo tinh khách quan khi áp dụng biên pháp nay.
B én canh đó, hoạt động phê chuẩn của VKS với quyết định tạm giam của CQDT đã tạo ra su khác biệt về thấm quyên ap dụng biện pháp tạm giam với các BPNC khác trong TTHS. Thứ f chỉ ap dung biện pháp tạm giam khi áp dụng các BPNC khác không đạt được mục đích. Vì lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tap thé va cá nhân khác, dam bao quá trình dau tranh, xử lý tôi phạm triệt để đòi hỏi Nhà nước phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế dé tác động đến các doi tương trong một sô trường hợp nhật định Tùy thuộc vào mục đích, đôi tượng bị áp dụng hoặc các điều kiện khác dé phân chia các biện pháp cưỡng chê thành những nhóm khac nhau với những trình tư, thủ tuc, thẩm quyên, thời hạn khác nhau. Nhóm BPNC đối với người bị buộc tôi gôm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cầm đi khối nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiên dé bao dam, tạm hoãn xuất cảnh.
Quá trình giải quyết vu án xét thay người bị buộc tdi không tiếp tục phạm tdi, không gây khó khăn cho việc điều 10 tra, truy tố, xét xử, thi hành án thi chi can áp dụng BPNC ít nghiêm khắc như câm đi khỗi nơi cưtrú, bảo lính, đặt tiên để bão dam dé tao điều kiện cho ho có thể sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh bình thường nhưng vẫn đảm bảo sự có mặt của họ tại cơ quan THTT khi cân thiết. Chỉ áp dụng BPNCTG khi xét thây cân phục vụ qua trình điều tra hoặc việc áp dung các BPNC khác biện pháp tam giam sẽ anh hưởng đến việc xác định sư thật của vu án, tránh tình trạng áp dụng tạm giam tran lan Về van dé nay, Iu. Livsic đã đúng khi cho rằng: “Sirthudn tiện cho tiễn hành điều tra không phải ia căn cứ pháp luật dé ham ché tự đo cá nhân của công đân và sự hạn chễ dé ia cải giá đắt mà từ đó các thuận tiện này phải trả giá 7 Như vậy, “tain giam id gi?” Hiên nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khải niệm biện pháp ngăn chặn tạm giam Quan điểm thứ nhất: Tam gian la BPNC nghiêm khắc nhất được quy dinh trong BLITHS do CQĐT VKS hoặc Tòa an dp dung đối với bị can, bi cáo nhằm ngầm chan tôi pham hoặc khi có căn cứ chứng tô bị can, bị cáo sẽ gay khó khăn cho việc điều tra. truy t6, xét xử hoặc sẽ tiếp tục pham tội, cũng nine khi cần bảo đâm thi hành an* Quan điểm trên phan ánh khá day đủ về tam giam, đê cập đến đôi tượng áp dung, căn cứ, thâm quyên áp dụng của biện pháp nảy.
Tuy nhiên, quan điểm này chưa nêu lên được điểm đặc trưng sự nghiêm khắc của BPNC tạm giam so với các BPNC khác đó là cách ly bị can, bi cao khỏi xã hôi trong một khoảng thời gian, hạn chế một sô quyên của ho. Định nghĩa nay đã dé cập đến chủ thé có thâm quyên là CQĐT, VKS va Toa án nhưng chưa cụ thể bởi mỗi cơ quan THTT thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua những chủ thể cụ thể chứ bản thân các cơ quan này không thể tự thực hiện được. Theo quy định của pháp luật, việc ra lệnh hay quyết định tạm giam thuộc về những người có thâm quyên nhất định trong các cơ quan VI. Livsie (2001), Các biển pháp ngăn chăn trong tế nmg lành sự X6 Viết, Nxb.
Sách pháp lý, Matxcoya, tr. ; * Nguyễn Mai Bộ (2004), Biện pháp ngăn chăn khám xét và kê biên tài san trong Bộ luật tổ tịmg hình su, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 11 THTT và những người nay sẽ phải chịu trách nhiệm đôi với văn ban do minh ban hành.
Quan điểm thứ hai, theo Trường Đại học Kiểm sát Ha Nội thì “Tam giam là biện pháp ngăn chặn do người có thâm quyén tiễn hành tố tung dp dung han chỗ tự do thân thé trong mét thời gian nhất định đối với bi can, bị cáo khi có căn cứ do Bộ iuật Tô tung hành sự quy định nhằm ngăn chan việc bi can, bi cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra truy tố, vét xữ hoặc sẽ tiếp tục phạm tôi hoặc đề đãm bảo thi hành an‘“®. Tại quan điểm này đã chi ra đôi tượng áp dụng 1a bi can, bị cáo, căn cứ dé áp dụng biện pháp tạm giam theo quy định tại BLTTHS như bö tron, can trở hoạt động tô tụng hoặc có thể tiếp tục phạm tội.; mục đích để áp dụng lả ngăn chặn việc bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tô, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tôi hoặc dé đảm bảo việc thi hanh án.