Chương I. Một số van dé ly luận và quy định của pháp luật tô tụng hình sự Việt Nam về thủ tục xét xử bị cáo là người chưa thành niên. Chương II. Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện thủ tục xét xử bị cáo là người chưa thành niên.
CHUONG I MOT SO VAN DE LY LUAN VA QUY DINH CUA PHAP LUAT TO TUNG HÌNH SU VIET NAM VE THỦ TỤC XÉT XỬ BỊ CÁO LA NGUOI CHUA THANH NIEN 1. Một số van đề lý luận về thủ tục xét xử bị cáo là người chưa thành niên 1. Khái niệm thủ tục xét xứ bị cáo là người chưa thành niên Thủ tục tố tụng là cách thức, trình tự, là nghi thức tiến hành xem xét một vụ việc hoặc giải quyết một vụ án đã được thụ lý hoặc khởi tố theo các quy định của pháp luat’.Dé đảm bảo tính chính xác, khách quan khi giải quyết vụ án, đảm bảo sự bình đắng và lợi ích của các bên trong vụ án, pháp luật quy định thâm quyên giải quyết, trình tự giải quyết, trình tự tiến hành cũng như quyền và nghĩa vu của các bên khi tham gia. Khi tiến hành giải quyết vụ án, các cơ quan có thâm quyền hay các bên tham gia đều bắt buộc thực hiện theo những cách thức, trình tự này.
Thủ tục t6 tụng hình sự được quy định cho việc giải quyết vụ án hình sự, trong đó có nhiều giai đoạn, xét xử là một trong các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án hình sự. Bên cạnh thủ tục xét xử vụ án nói chung được quy định trong pháp luật tô tụng hình sự, thì còn có thủ tục xét xử chỉ áp dụng cho đối tượng đặc biệt, đó là thủ tục xét xử người chưa thành niên. Mặc dù bộ luật tố tụng hình sự hiện hành dành một chương riêng để quy định về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niênnhưng lại không quy định về khái niệm thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên cũng như không quy định về khái niệm thủ tục xét xử bị cáo là người chưa thành niên dân việc trên thực tê đã có nhiêu cách hiêu khác vê thủ tục này. 'Viện khoa học pháp lý — Bộ tư pháp (2006), Tir điển luật học, Nxb Từ điển bách khoa va Nxb Tư pháp, Hà Nội.
10 Quan điểm thứ nhất cho rằng, thủ tục tố tụng hình sự đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bi can, bi cáo là người chưa thành niên là một loại thu tục đặc biệt mà phạm vi áp dụng của nó là những quy định tại Chương XXXII BLTTHS và những quy định khác của BLTTHS không trái với những quy định của Chương này”. Quan điểm thứ hai cho rằng, thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên được quy định trong BLTTHS là thủ tục đặc biệt được áp dụng đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo từ đủ 14 tuôi cho đến dudi 18 tudi. Quan điểm thứ ba cho rằng, thủ tục xét xử vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên theo pháp luật t6 tụng hình sự Việt Nam là tổng hợp các quy định về thủ tục đặc biệt mang tính chất nhân đạo đối với bị cáo là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhằm xét xử vụ án một cách khách quan, toàn diện và đúng pháp luật, đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bi cáo trong hoạt động xét xử ˆ. Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ tìm hiểu khái niệm thủ tục xét xử bị cáo là người chưa thành niên, đối tượng áp dụng là bị cáo là người chưa thành niên, do đó quan điểm thứ nhất đã xác định được phạm vi áp dụng của thủ tục nhưng chưa xác định rõ độ tuổi của đối tượng áp dụng và mục đích quy định tục đặc biệt này trong BLTTHS năm 2003.
Quan điểm thứ hai xác định được rõ độ tuôi của đối tượng áp dụng, nhưng không đề cập đến mục đích áp dụng thủ tục này. 2Vién khoa học pháp lý — Bộ tư pháp (2005), Bình luận khoa học Bộ luật tô tụng hình sự Việt Nam năm 2003, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 3Truong Dai học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật to tụng hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội. * Nguyễn Thu Huyền.
(2006), Thu tuc xét xử những vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên — Một số van dé ly luận và thực tién, Luan văn thạc sỹ luật học, Dai học quốc gia HàNộ!. 11 Quan điểm thứ ba là hợp lý vì đã xác định đối tượng áp dụng thủ tục đặc biệt đối với bị cáo là người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuôi, ngoai ra còn dé cap đến mục dich của việc áp dụng thủ tục này. Theo tác giả, để nghiên cứu về thủ tục xét xử bị cáo là người chưa thành niên, trước hết cần thông nhất cách hiểu về người chưa thành niên. Theo quy định tại Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1990: “Trẻ em là những người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Bên cạnh đó thì Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh) do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 29/11/1985, tại quy tắc số 2.2 mục a cũng nêu rõ:“Người chưa thành niên là trẻ em hay người it tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật có thé bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn”. Quy tắc Riyadh về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên được Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1990 mặc dù không đưa ra một cách cụ thé về khái niệm NCTN song thông qua các quy định cũng giúp chúng ta hiểu NCTN là người dưới 18 tudi.Tuy nhiên, do sự phát triển của từng quốc gia là khác nhau, nên khái niệm NCTN ở các quốc gia cũng khác nhau, bên cạnh việc đưa ra các khái niệm này thì Công ước quốc tế về quyên trẻ em van còn những điều khoản dé ngỏ cho các nước quy định về độ tuổi cho NCTN. Trên cơ sở của giới hạn độ tuổi của Hiến pháp, qua tham khảo các quy định của Liên hợp quốc, các văn bản pháp luật Việt Nam cũng giới hạn độ tuổi cho người chưa thành niên. Theo từ điển Tiếng Việt, Trung tâm ngôn ngữ học Việt Nam năm 2000 đã đưa ra khái niệm về NCTN như sau: “NCTN là người chưa phát triển day du, toan dién vé thé luc, tri tué, tinh than cũng như chưa có đầy đủ quyên và nghĩa vụ công dân”.
Theo pháp luật Việt Nam, từ những kinh nghiệm được thừa nhận trong quá khứ, dựa trên những thành tựu do các nhà khoa học khác mang lại cũng 12 như tiếp thu các văn bản pháp luật quốc tế mà khái niệm NCTN, tuỳ theo từng lĩnh vực điều chỉnh của từng ngành luật mà được hiểu như sau: Điều 18 Bộ luật dân sự quy định: “Người từ đủ 18 tuôi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ 18 tuôi là người chưa thành niên”; Bộ luật lao động Việt Nam cũng quy định: “Người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”. Còn theo Bộ luật hình sự thì “NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuôi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy có thể thống nhất một quan điểm là NCTN là người dưới 18 tuổi, điều này cũng hoàn toàn phù hợp với Công ước quốc tế về quyên trẻ em.
Mặc dù BLTTHS có một chương riêng quy định thủ tục tố tụng đối với NCTN nhưng cũng không có quy định nào giải thích, nên khái nệm NCTN được dẫn chiếu từ quy định của BLHS. Theo khái niệm tội phạm tại Điều 8 BLHS thì tội phạm phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện. Người có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam là người đã đạt độ tuôi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 Bộ luật hình sự) và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 13 Bộ luật hình sự)”. Theo Điều 68 Bộ luật hình sự thì “NCTN phạm tội” bao gồm những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Từ đó có thé định lượng về độ tuôi của NCTN tham gia tố tụng hình sự là từ đủ 14 tuôi đến dưới 18 tuôi. Điều 50 bộ luật tố tụng hình sự hiện hành quy định bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử, như vậy, căn cứ vào những phân tích trên, có thé đưa ra khái niệm bị cáo là NCTN như sau: “Bi cáo là NCTN là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi bị Toà án quyết định đưa ra xét xử”. Việc xác định tuổi của bị cáo là NCTN rất quan trọng vì đây là căn cứ ngăn chặn, áp dụng các thủ tục đặc biệt đối với bị cáo nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp 7 Truong Dai học Luật Hà Nội (2012), Giáo trinh Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
13 pháp cho NCTN, ngoài ra còn giúp cơ quan tiễn hành tô tụng xác định được việc xét xử và áp dụng hình phạt đối với NCTN. Giai đoạn xét xử vụ án hình sự là một trong những giai đoạn của qua trình giải quyết vụ án hình sự, được bắt đầu khi Toà án nhận hồ sơ vụ án hình sự cùng bản cáo trạng hay quyết định truy tổ do Viện kiểm sát chuyên đến và Toà án vào số thụ lý, sau đó xem xét, giải quyết vụ ánvà kết thúc khi Toà án ra bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án. Đây là một giai đoạn tố tụng độc lập, những phán quyết của Toà án ngoài việc dựa trên những tài liệu chứng cứ mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập trước đó còn phải dựa vào kết quả điều tra công khai tại phiên toà. Từ những phân tích trên, có thê thay được những dau hiệu đặc trưng của thủ tục xét xử bị cáo là người chưa thành niên như sau: Thứ nhất, đối tượng áp dụng của thủ tục đặc biệt này là bị cáo từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Thứ hai, thủ tục xét xử bị cáo là người chưa thành niên có những điểm khác biệt đối với thủ tục xét xử người thành niên.