CHƯƠNG 1. MỘT SÓ VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUAT T6 TUNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VE NGUYEN TAC SUY DOAN VÔ TỘI TRONG TÓ TUNG HÌNH SỰ 1. Một số van đề lý luận về nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm nguyên tắc suy đoán vô tội trong to tung hinh sir Tội phạm 1a hiện tượng xã hội tiêu cực, xâm pham dén các quan hệ được luật hình sự bao vệ.
Trong lịch sử nha nước và pháp luật, đâu tranh phòng ngửa, ngăn chặn tôi phạm là một trong những nhiệm vụ được ưu tiên hang đâu. Việc phát hiện và xử lý chủ thé vi phạm phải được tiền hành dua trên những cách thức, trình tự va thủ tục của TTHS. TTHS bao gồm toàn bô hoạt động của cơ quan THTT, người THTT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt đông điều tra, người tham gia tô tụng, của cá nhân, cơ quan và tô chức khác góp phân vào việc giải quyết VAHS theo quy định của luật TTHS! Những hoạt đông nay được thực hiện qua các giai đoạn của TTHS nhằm bảo dam phát hiện va xử lý công minh, kip thời mọi hanh vi phạm tôi, không làm oan người vô tội va bảo vệ quyền con người, quyên công dân, quyển va lợi ich hop pháp của những chủ thể liên quan Để đạt được mục tiêu trên, mọi chủ thé trong TTHS phải tuân thủ những quy luật trong quá trình nhận thức tôi phạm Quan niệm về nhận thức được khẳng định bởi chủ nghĩa duy vật biện chứng như sau: Nhân thức là hoạt động của con người thông qua việc tác động qua lại giữa con người và thé giới xung quanh. Con người hoàn toàn có thể nhận thức không chỉ vẻ bê ngoài của đối tượng, ma còn bản chat của sư vat, hiện tương, cũng như môi liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng đó Quá trình nhận thức của con người diễn ra từ tháp đến cao, từ chưa biết đến ` Đại học Luật Hà Nội 2019), Giáo trinh Luật TỔ nang hinh sic Viết Nam, INXB Công co nhiên din, Hà Nội,tr10 biết, từ biết chưa đây đủ đến biết đây đủ; từ trực quan sinh đông đến tư duy trừu tượng va từ tư duy trừu tương đến thực tiến? Giống như hoạt động nhận thức, TTHS là cả quá trinh, khi phát hiện những dâu hiệu đâu tiên của một vụ án thì nhận thức của người, cơ quan có thâm quyên THTT mới chi lả nhận thức ban dau chưa đây đủ; do đó phải đặt ra giả thiết có thé có tội phạm và có thể không có tôi phạm; người bi tinh nghỉ có thể là người thực hiện hành vi phạm tội hoặc có thé không và vi vậy trong quá trình tô tụng phải suy đoán theo hướng người bị tình nghỉ không có tội cho tới khi ho được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định Việc suy đoán người bị tình nghỉ theo hướng không có tôi được thé hiện qua những tư tưởng về quyên con người trong các văn kiện quốc tế.
Quyển con người trong Ban Tuyên ngôn nhân quyển và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1978 được thửa nhận như sau: “Con người ta sinh ra ai cũng tự do vả bình đẳng về quyên ” Đây là những quyên tối thiểu của mọi cá nhân ma không ai có thé xâm phạm, phải được bảo vệ và ghi nhận trong Hiền pháp và pháp luật của nha nước. Trong quan hé giữa nhà nước và công dân, “Nha nước không khi nảo được coi con người là phương tiện để đạt được mục đích, mà ngược lại phải coi con người lả mục dich cân đạt tới” (EanП. Nhu vậy, đây la một mồi quan hệ mà các bên có trách nhiệm qua lại. Trong lĩnh vực TTHS, việc tiên hành hoạt động TTHS của nha nước nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội khỏi sw xâm hai của tôi phạm đông thời phải bảo dam quyên con người cho các chủ thể tham gia, tránh sự lông quyền Theo David Hamer, nguyên tắc SĐVT là can thiết dé tao ra sự cân bằng hop lý giữa lợi ích chung của xã hội vả các quyền tự do cá nhân của con người; cu thể, sự cân bằng được thiết lập giữa quyên của bi cáo không bi xét xử oan sai va lợi ich của xã hội trong việc thực thi pháp luấtt.
Mặt khác, hoạt động TTHS khác với hoạt đông nhận thức trong __ ? NguyỄn Ngọc Long - Nguyễn Hồu Vui ding chủ biin 2006), Giáo trần trất học Mic-Lenin, NXB Chink trị quốc gia, Hà Noi, tr. ñ ` Bộ Tư pháp, Viên nghién cứu khoa học pháp lý (1995), May đựng nhi xước phản quyền Việt Nam, Hà Nội, NXB Twpháp,tr79 ‘David Hamer 007), “The Presmuption of Emocenct and Reverse Burdens: A Balancing Act", Cambridge Law Journal, page. Tĩnh vực khác là TTHS phải được kết thúc rõ rang bằng việc xác định người bị buộc tôi là người có tội hay là người vô tôi. Thêm vào đó, TTHS là một lĩnh vực phức tạp và nhạy cảm, liên quan đền các quyền thiết thực nhật của người bi buộc tôi — những quyên có nguy cơ bị xâm phạm khi chủ thé có thẩm quyên THTT không thực hiên hoặc thực hiện không đúng, không đây đủ chức năng, thâm quyên của mình.
Thuật ngữ suy đoán (presumption) trong lính vực luật theo từ điển Longman được hiểu là việc coi điều gì là đúng cho tới khi điều đó được chứng minh la không đúng”. Tư tưởng về SÐVT (presumption of innocence) xuất phát từ thuật ngữ “Praesumptio boni viri” được ghi nhận trong Luật La Mã cỗ đại, theo đó “người tham gia tô tụng được coi là trung thực cho đến khi bị chứng minh họ không phải là người trung thực 'Ế. Về bản chất của SÐVT, quan điểm của các nha luật học là gần như thống nhất, va chỉ khác biệt về cách thức dién dat: - Bị can được coi là vô tôi cho đến khi lỗi của người nay được chứng minh theo quy định của pháp luật. SDVT không phải là sự suy đoán thông thường mà đó 1a phương pháp nghiên cứu logic được áp dung trong tat cả các giai đoạn của TTHS’ - Bat cứ sự buộc tội nào chồng lại một người không phải là chứng cứ về sự phạm tội; trên thực tế, người đó được coi lả vô tôi và cơ quan công tô có nghĩa vụ chứng minh người đó có hay không phạm tộiÊ - SÐVT là một nguyên tắc cơ ban va quan trong, mả theo đó, bị can, bị cáo được coi là vô tội, không phải chu TNHS khi lỗi của người đó chưa được a D of _ Cont onl, Definition of _ Presumption, herve doce ontne c ict ce: ¬ * Nguyễn Thái Phúc ,(2006),“Nguyin tác suy đoán vé tôi”, Tap chi Ni nước và pháp hit, (11),tr.
` Pechutlm (1996), Participation of the defendant in the evidence (oxi the suspect Legal Books Publishing House,Moscow, page. * Marie VanNosrand (2007), Legal and Evidence-based Practices, BblioGov Publishing House, Rockville (United State of America), 2007 page. 5 chứng minh theo trình tự luật định và chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Như vậy, SÐVT được tiếp can dưới góc dé 1a một quyên cơ bản của con người, la một nguyên tắc pháp luật; và khóa luận tiếp cận SPVT dưới góc độ là một nguyên tắc pháp luật. Theo Tử điển Tiếng Việt, nguyên tắc là những “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm"? vé mặt khoa học pháp lý, nguyên tắc pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo, cơ bản mang tính định hướng, chịu ảnh hưởng của những quy luật phát triển khách quan của xã hội, bao trùm và chi phôi nôi dung, hình thức pháp luật, qua trình xây dung, áp dụng pháp luật và y thức pháp luật”.
Từ góc độ TTHS, SPVT là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hệ thống các nguyên tắc của LTTHS Với tu cách là một nguyên tắc cơ bản của LTTHS, nguyên tắc SÐVT có những đặc điểm sau: (1) La một tư tưởng xuất phát điểm, do đó SÐVT phải chứa đựng nội dung thể hiện phương châm, định hướng quan trong trong hoạt động TTHS của Dang và Nha nước là dan chủ, nhân dao, ky cương va theo định hướng XHCN; trong đường lỗi giải quyết VAHS với mục đích “chủ động phòng ngửa, ngăn chặn tội phạm, phat hiện chính xác, nhanh chong và xt ly công minh, kip thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm hay làm oan người vô tôi.” Hệ thông các nguyên tắc của LTTHS nói chung va nguyên tắc SĐVT noi néng thé hién những định hướng của Nha nước như: (i) Thể hiện tinh thân cãi cách thủ tục tô tung tư pháp theo hướng bình dang, dân chủ, công khai, minh bạch, chặt chế, bao dam su tham gia va giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp. Bảo dâm chất lượng tranh tụng tại phiên toà, làm căn cử quan trong dé đưa ra phan quyết, coi đây 1a khâu đột phá để nâng cao chất ? Viin Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật hoc, NXB Từ điển Bich khoa - NXB Tư pháp, Hà Nội, 1.678 ‘Win Ngôn ngữ học (1909), Tử điễn Tiếng Việt, NXB Da Nẵng, Hi Nội, tr 694. Ì! Đại học Quốc gia Hi Nội 2005), Giáo trinh ly nin cưng về nhà mre vì pháp hút, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội,tr 341, lượng hoạt động tư pháp. Tôn trong va bảo vệ quyên con người, quyền công dân trong hoạt động TTHS, hạn chế sự lạm quyền của Cơ quan, người có thấm quyên THTT trong quá trình giải quyết VAHS (2) SĐVT chi phối hau hết các giai đoạn của quá trình TTHS: tử giai đoạn tiên khởi tô, khởi tá, điều tra, truy tô, xét xử, trong thời han kháng cáo, kháng nghị và trong thời gian ban an bi kháng nghị theo thủ tục giám độc thâm, tái thấm Bởi SDVT la một nguyên tắc cơ bản của LTTHS và gắn liên với việc bảo đâm quyền của người bi buộc tôi trong những giai đoạn TTHS họ tham gia cũng như yêu câu mọi chủ thể phải tôn trọng, tuân thủ chặt chế khi thực hiện quyền và nghia vụ hoặc nhiệm vụ va quyên han của minh (3) Nguyên tắc SÐVT được ghi nhận trong nhiều loại văn bản pháp luật của nha nước với những giá trị và ảnh hưởng khác nhau, cụ thể.
SBVT la một nguyên tac; tinh hiến định trong Hiến pháp, là một nguyên tắc co bản của LTTHS, trong các Luật Tổ chức, SÐVT là cơ sở cho những quy định về nguyên tắc trong một lĩnh vực hoạt động TTHS, ví dụ như Luật Tổ chức TAND (2014) quy định những nguyên tắc đối với hoạt động xét xử, Luật Tô chức diéu tra hình sự (2015) quy định những nguyên tắc đối với hoạt động điêu tra VAHS.