Giới thiệu dự án

Nguyên tắc suy đoán vô tội (Presumption of Innocence - bắt nguồn từ quy phạm pháp lý La Mã cổ đại Praesumptio boni viri) là trụ cột nền tảng của nền tư pháp văn minh, được hiến định nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân và ngăn ngừa oan sai trong tố tụng hình sự (TTHS). Trong bối cảnh cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới", việc tối ưu hóa khung pháp lý tố tụng lấy xét xử làm trung tâm và tranh tụng làm đột phá là yêu cầu cấp thiết.

Thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự giai đoạn 2019–2023 cho thấy, mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã có bước tiến lớn khi chính thức quy định nguyên tắc này tại Điều 13, nhưng nhận thức và áp dụng tại các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) vẫn tồn tại xung đột. Tâm lý "suy đoán có tội", khuynh hướng buộc tội định kiến, cùng sự thiếu đồng bộ giữa các điều luật đã dẫn tới các sai phạm nghiêm trọng (điển hình như vụ án dùng nhục hình dẫn đến tử vong tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vũ Thư năm 2022).

                      +------------------------------------------+
                      |         Hiến pháp 2013 (Điều 31)         |
                      |   Công ước Quốc tế ICCPR 1966 (Điều 14)  |
                      +--------------------+---------------------+
                                           |
                                           v
                      +------------------------------------------+
                      |          BLTTHS 2015 (Điều 13)           |
                      |        Nguyên tắc Suy đoán Vô tội        |
                      +--------------------+---------------------+
                                           |
         +---------------------------------+---------------------------------+
         |                                 |                                 |
         v                                 v                                 v
+-------------------+             +-------------------+             +-------------------+
|  Điều tra (CQĐT)  |             |  Truy tố (VKSND)  |             |   Xét xử (TAND)   |
| - Ghi âm/Ghi hình |             | - Gánh nặng CMRT  |             | - Tranh tụng bình |
|   hỏi cung (Đ183) |             | - Đình chỉ vụ án  |               đẳng (Đ307)       |
| - Giữ người khẩn  |             |   khi thiếu chứng |             | - Bục khai báo    |
|   cấp (Đ110)      |             |   cứ buộc tội     |             |   thay vành móng ngựa|
+-------------------+             +-------------------+             +-------------------+

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài:

  1. Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và chuẩn mực pháp lý quốc tế: Phân tích lịch sử hình thành từ Điều 14 Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR 1966), Điều 31 Hiến pháp 2013 đến Điều 13 BLTTHS 2015.
  2. Khảo sát và lượng hóa thực tiễn thi hành qua dữ liệu thống kê giai đoạn 2019–2023: Đo lường các chỉ số tố tụng bao gồm tỷ lệ hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án, tỷ lệ đình chỉ điều tra bị can do không cấu thành tội phạm, tỷ lệ tuyên vô tội và tỷ lệ sửa án phúc thẩm.
  3. Chỉ rõ các điểm nghẽn lập pháp và thực thi: Phân tích xung đột giữa Điều 13, Điều 15 và Khoản 3 Điều 466 BLTTHS 2015; hạn chế về quyền thu thập chứng cứ của luật sư (Điều 73) và bất cập thẩm quyền tạm giam của Thẩm phán (Điều 44, 45).
  4. Đề xuất gói giải pháp sửa đổi luật thực định và mô hình tố tụng: Thiết kế lại cấu trúc Điều 13, chuẩn hóa quy trình đánh giá chứng cứ và cơ chế bảo đảm quyền im lặng (Right to silence).

Phân tích và thiết kế giải pháp

Phân tích hiện trạng

Sự phát triển của nguyên tắc suy đoán vô tội trong hệ thống luật thực định Việt Nam qua các thời kỳ bộc lộ những bước chuyển mang tính chất bước ngoặt nhưng vẫn còn độ vênh đáng kể so với các tiêu chuẩn quốc tế:

Tiêu chí phân tích BLTTHS 2003 (Điều 9) BLTTHS 2015 (Điều 13) Đề xuất hoàn thiện của Đề tài (2024) Chuẩn quốc tế (ICCPR 1966 - Điều 14)
Cách định danh & tiếp cận Quy định gián tiếp: "Không ai bị coi là có tội..." Khẳng định trực tiếp: "Người bị buộc tội được coi là không có tội..." Phân tách minh định 3 khoản: Nguyên tắc, Trách nhiệm chứng minh, Xử lý khi nghi ngờ Công nhận quyền cơ bản của con người: "Everyone charged... shall have the right to be presumed innocent"
Quy định xử lý hoài nghi (In dubio pro reo) Chưa quy định cụ thể, phụ thuộc vào nhận thức chủ quan Quy định rõ: Không đủ căn cứ buộc tội thì phải kết luận không có tội Bổ sung quy định giải thích mọi hoài nghi tố tụng không thể giải trừ theo hướng có lợi cho bị can/bị cáo Mọi hoài nghi hợp lý (Reasonable doubt) đều nghiêng về phía người bị buộc tội
Chế định gánh nặng chứng minh Phân bổ chung cho các cơ quan tiến hành tố tụng Điều 15 gán nghĩa vụ chứng minh cho cả Tòa án Tách biệt nghĩa vụ buộc tội thuộc độc quyền của CQĐT & VKS; Tòa án giữ vai trò trọng tài trung gian Nghĩa vụ thuộc hoàn toàn về phía cơ quan công tố (Prosecution burden of proof)
Bảo đảm quyền im lặng Không quy định; ép buộc nghĩa vụ khai báo Quy định quyền không tự buộc tội nhưng mâu thuẫn với Khoản 3 Điều 466 Bãi bỏ Khoản 3 Điều 466; hợp thức hóa quyền từ chối cung cấp lời khai tự buộc tội Tuyệt đối không bị cưỡng ép phải tự thú nhận tội (Privilege against self-incrimination)

Ma trận ưu tiên yêu cầu hoàn thiện (MoSCoW Framework)

  • Must have (Bắt buộc phải có): Tái cấu trúc văn bản Điều 13 BLTTHS 2015; bãi bỏ chế tài xử lý người bị buộc tội từ chối khai báo tại Khoản 3 Điều 466; trao quyền quyết định thay đổi/hủy bỏ biện pháp tạm giam tại phiên tòa cho Thẩm phán chủ tọa (sửa Điều 45).
  • Should have (Nên có): Sửa đổi Điểm k Khoản 1 Điều 73 để bổ sung quyền yêu cầu trưng cầu giám định, định giá tài sản lần đầu cho người bào chữa; quy định cơ chế chế tài đối với cơ quan, tổ chức chậm trễ/từ chối cung cấp tài liệu cho luật sư.
  • Could have (Có thể có): Xây dựng hệ thống phần mềm quản lý kho lưu trữ dữ liệu điện tử ghi âm/ghi hình có âm thanh hoạt động hỏi cung (Điều 183).
  • Won't have (Chưa thực hiện ở giai đoạn này): Chuyển đổi hoàn toàn từ mô hình tố tụng thẩm vấn (Inquisitorial system) sang mô hình tranh tụng thuần túy (Adversarial system).

Thiết kế hệ thống và Logic đánh giá chứng cứ

Hệ thống tố tụng hình sự tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi một quy trình logic chặt chẽ trong thu thập, chuyển hóa và xác minh chứng cứ. Dữ liệu chứng cứ chỉ được coi là hợp pháp khi thỏa mãn đầy đủ các thuộc tính: Tính khách quan, Tính liên quan và Tính hợp pháp (Điều 86 BLTTHS 2015).

               +-------------------------------------------------------+
               |             BẮT ĐẦU: Thu thập nguồn chứng cứ          |
               |  (Lời khai, Vật chứng, Dữ liệu điện tử, Giám định...) |
               +---------------------------+---------------------------+
                                           |
                                           v
               +-------------------------------------------------------+
               | KIỂM TRA TÍNH HỢP PHÁP: Trình tự thu thập có đúng luật?|
               | (Có bức cung, nhục hình? Có ghi âm/ghi hình Đ183?)   |
               +---------------------------+---------------------------+
                                           |
                         +-----------------+-----------------+
                         | Sai quy chuẩn                     | Đạt chuẩn
                         v                                   v
             +-----------------------+           +-----------------------+
             | CHỨNG CỨ BẤT HỢP PHÁP |           | CHỨNG CỨ HỢP PHÁP     |
             | Loại bỏ khỏi hồ sơ vụ |           | Đưa vào chuỗi đánh giá|
             | án (Inadmissible)     |           +-----------+-----------+
             +-----------------------+                       |
                                                             v
                                         +---------------------------------------+
                                         | KIỂM TRA ĐỘ HOÀN BỊ & LOẠI TRỪ NGHI NGỜ|
                                         | Chứng cứ buộc tội có đủ vững chắc?    |
                                         +-------------------+-------------------+
                                                             |
                                           +-----------------+-----------------+
                                           | Còn nghi ngờ                      | Chứng minh đầy đủ
                                           v                                   v
                               +-----------------------+           +-----------------------+
                               | ÁP DỤNG SUY ĐOÁN VÔ   |           | Tuyên bố CÓ TỘI       |
                               | TỘI (Điều 13 BLTTHS): |           | Ra bản án kết tội theo|
                               | Tuyên bị cáo VÔ TỘI   |           | quy định pháp luật    |
                               +-----------------------+           +-----------------------+

Dưới góc độ kỹ thuật pháp lý - tin học, thuật toán đánh giá chuỗi suy luận chứng cứ bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội được biểu diễn thông qua cấu trúc kiểm định điều kiện logic như sau:

class EvidenceEvaluationEngine:
    """
    Engine đánh giá tính hợp pháp và xác định gánh nặng chứng minh
    theo nguyên tắc Suy đoán vô tội (Điều 13, 15 BLTTHS 2015)
    """
    def __init__(self, suspect_id: str):
        self.suspect_id = suspect_id
        self.evidence_chain = []
        self.has_unresolved_doubt = False

    def add_evidence(self, evidence_type: str, is_lawful: bool, corroborates_confession: bool):
        # Nguyên tắc: Lời nhận tội không phải là chứng cứ duy nhất (Điều 86)
        # Hoạt động thu thập vi phạm thủ tục (Điều 183) bị loại bỏ
        if not is_lawful:
            return "EXCLUDED: Vi phạm thủ tục tố tụng/Bất hợp pháp"
        
        self.evidence_chain.append({
            "type": evidence_type,
            "corroborated": corroborates_confession
        })

    def evaluate_verdict(self) -> str:
        # Kiểm tra gánh nặng chứng minh thuộc về cơ quan THTT
        inculpatory_evidences = [e for e in self.evidence_chain if e["corroborated"]]
        
        # Nếu không đủ chứng cứ gỡ bỏ mọi hoài nghi hợp lý -> Suy đoán vô tội
        if len(inculpatory_evidences) == 0 or self.has_unresolved_doubt:
            return "VERDICT_ACQUITTAL: Tuyên bị cáo KHÔNG CÓ TỘI (Điều 13, Điều 326)"
        
        return "VERDICT_CONVICTION: Đủ căn cứ pháp lý để ra bản án kết tội"

Phương pháp luận nghiên cứu (Methodology)

  • Cơ sở triết học & lý luận: Sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; các luận điểm khoa học pháp lý về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp.
  • Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
    • Phương pháp luật học so sánh (Comparative Law): Đối chiếu quy định của BLTTHS 2015 với BLTTHS 2003, Công ước ICCPR 1966 và pháp luật tố tụng một số quốc gia.
    • Phương pháp phân tích - tổng hợp logic: Mổ xẻ 3 thành tố cốt lõi của Điều 13 và mối liên hệ hữu cơ với các chế định chứng cứ, biện pháp ngăn chặn, xét xử.
    • Phương pháp thống kê xã hội học pháp lý: Thu thập, xử lý và trực quan hóa số liệu thực chứng từ Báo cáo tổng kết công tác ngành Kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2019–2023.

Implementation và kết quả

Quy trình phát triển và hoàn thiện giải pháp

Đề tài được triển khai qua 3 giai đoạn nghiên cứu logic:

[Phase 1: 01/2024 - 02/2024]    [Phase 2: 02/2024 - 03/2024]    [Phase 3: 04/2024 - 05/2024]
- Hệ thống hóa lý luận          - Khảo sát thực tiễn 2019-2023  - Thiết kế dự thảo sửa đổi
- Phân tích văn bản quy phạm    - Phân tích case study tiêu biểu - Xây dựng mô hình kiến nghị
- Đối chiếu luật quốc tế        - Tổng hợp dữ liệu thống kê      - Hoàn thiện khóa luận
  • Giai đoạn 1 (Lý luận & Thể chế): Rà soát toàn bộ hệ thống 510 điều luật của BLTTHS 2015, đối chiếu với Hiến pháp 2013 và các văn bản hướng dẫn (như Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC, Thông tư 01/2017/TT-TANDTC).
  • Giai đoạn 2 (Thực chứng & Dữ liệu): Khảo cứu hồ sơ thống kê thực tế các vụ án bị hủy, sửa, đình chỉ điều tra trên phạm vi cả nước; phân tích chuyên sâu các case-study về vi phạm thủ tục hỏi cung, bắt giữ người khẩn cấp.
  • Giai đoạn 3 (Đề xuất & Thẩm định): Xây dựng các điều luật dự thảo sửa đổi và các giải pháp hành chính - kỹ thuật nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp.

Kiểm định và Dữ liệu thực chứng (Testing & Validation)

Các chỉ số thực tiễn thi hành nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam giai đoạn 2019–2023 được định lượng dựa trên báo cáo chính thức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) và Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC):

1. Kiểm soát tính có căn cứ trong giai đoạn khởi tố vụ án

Số lượng quyết định khởi tố vụ án hình sự (KTVA) bị Viện kiểm sát hủy bỏ hoặc Cơ quan điều tra (CQĐT) tự hủy bỏ theo yêu cầu của VKS luôn duy trì ở mức rất thấp (< 0.2%):

Năm Tổng số vụ án mới khởi tố Số vụ VKS hủy bỏ QĐ KTVA của CQĐT Tỷ lệ (%) Số vụ CQĐT hủy bỏ QĐ KTVA theo yêu cầu của VKS Tỷ lệ (%)
2019 77.462 53 0.068% 76 0.098%
2020 79.255 58 0.073% 114 0.144%
2021 84.789 66 0.078% 122 0.144%
2022 86.312 49 0.057% 98 0.114%
2023 91.240 51 0.056% 105 0.115%

2. Tỷ lệ đình chỉ điều tra đối với bị can do không có sự việc hoặc không cấu thành tội phạm

Việc CQĐT và VKS chủ động đình chỉ điều tra khi không đủ căn cứ buộc tội phản ánh sự tôn trọng nguyên tắc suy đoán vô tội ở giai đoạn tiền xét xử:

  • Tại Cơ quan điều tra: Tỷ lệ đình chỉ điều tra do không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm dao động từ 0.009% đến 0.45% (năm 2019: 7 bị can; năm 2023: 11 bị can).
  • Tại Viện kiểm sát: Tỷ lệ đình chỉ vụ án do không có sự việc phạm tội hoặc không cấu thành tội phạm luôn dưới 0.05% trên tổng số bị can thụ lý hàng năm.

3. Tỷ lệ xét xử tuyên không phạm tội và chất lượng xét xử phúc thẩm

Dữ liệu từ TANDTC cho thấy tỷ lệ bản án sơ thẩm bị sửa tại cấp phúc thẩm duy trì ở mức trung bình 3.75%, đáp ứng tốt chỉ tiêu Nghị quyết Quốc hội giao (tỷ lệ án hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan không vượt quá 1.5%):

Tỷ lệ án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm sửa (2019 - 2023): ~3.75%

Tỷ lệ Luật sư trên quy mô dân số (Thực trạng tiếp cận hỗ trợ pháp lý):
- Việt Nam:   1 luật sư / 5.600 người dân (Tổng cộng ~17.200 luật sư - năm 2022)
- Thái Lan:   1 luật sư / 1.526 người dân
- Singapore:  1 luật sư / 1.000 người dân
- Nhật Bản:   1 luật sư / 400 người dân
- Hoa Kỳ:     1 luật sư / 250 người dân

Đổi mới và đóng góp

  1. Đổi mới quy phạm về cấu trúc Điều 13 BLTTHS: Đề xuất bổ sung nguyên tắc phân định rõ gánh nặng chứng minh: "Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội". Điều này loại bỏ hoàn toàn nghĩa vụ chứng minh của Tòa án tại Điều 15.
  2. Khắc phục xung đột lập pháp về quyền im lặng: Phát hiện và kiến nghị bãi bỏ triệt để quy định xử lý hành vi từ chối khai báo của người bị buộc tội tại Khoản 3 Điều 466 BLTTHS 2015, bảo đảm tính thống nhất với quyền không tự buộc tội.
  3. Mở rộng và bảo đảm thực quyền cho người bào chữa:
    • Đề xuất chuẩn hóa Điểm k Khoản 1 Điều 73 cho phép luật sư có quyền đề nghị cơ quan tố tụng trưng cầu giám định, định giá tài sản ngay từ lần đầu tiên.
    • Thiết lập cơ chế chế tài bắt buộc các cơ quan, tổ chức phải cung cấp tài liệu, đồ vật theo yêu cầu hợp pháp của người bào chữa.
  4. Tái cấu trúc thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tại Tòa án: Đề xuất sửa đổi Điều 45 BLTTHS 2015, trao quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử trực tiếp cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào Chánh án/Phó Chánh án (Điều 44).

Ứng dụng thực tế và triển khai

Tình huống ứng dụng thực tế (Real-world Use Cases)

  • Kiểm soát hoạt động hỏi cung bị can: Áp dụng quy chuẩn bắt buộc ghi âm/ghi hình có âm thanh theo Điểm 6 Điều 183 BLTTHS tại 100% cơ sở giam giữ và trụ sở CQĐT, loại trừ nguy cơ mớm cung, bức cung và dùng nhục hình.
  • Cải cách không gian phòng xử án: Hiện thực hóa Thông tư 01/2017/TT-TANDTC bằng việc thay thế hoàn toàn "vành móng ngựa" bằng "bục khai báo", bảo đảm vị trí bình đẳng giữa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và Luật sư bào chữa.
  • Xử lý tình huống nghi ngờ tại phiên tòa: Khi Kiểm sát viên rút quyết định truy tố do không đủ chứng cứ (Điều 320), Hội đồng xét xử lập tức áp dụng Khoản 4 Điều 326 để tuyên bị cáo không phạm tội, đình chỉ vụ án và khôi phục quyền lợi hợp pháp.
Lộ trình cải cách và triển khai thể chế (Roadmap 2024 - 2030):

Hạn chế và hướng phát triển

Hạn chế còn tồn tại

  • Dữ liệu thống kê về các trường hợp bồi thường oan sai theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa được công bố đồng bộ theo từng năm để lượng hóa chi phí kinh tế của việc vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội.
  • Tỷ lệ luật sư/dân số còn thấp (1/5.600) tạo ra rào cản lớn trong việc bảo đảm 100% người bị buộc tội trong các vụ án hình sự có sự hỗ trợ pháp lý độc lập.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Nghiên cứu tích hợp hệ thống quản lý chứng cứ điện tử (Digital Evidence Integrity System) ứng dụng công nghệ chuỗi khối (Blockchain) để chống can thiệp, chỉnh sửa dữ liệu ghi âm, ghi hình hỏi cung.
  • Đánh giá tác động kinh tế - xã hội của việc mở rộng chế định án treo và các biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam (bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm).

Đối tượng hưởng lợi

+-----------------------------------------------------------------------------+
|                          ĐỐI TƯỢNG HƯỞNG LỢI                                |
+-----------------------+-----------------------------+-----------------------+
|  Sinh viên & Học viên |  Luật sư & Người bào chữa   | Cơ quan THTT (Cán bộ) |
|  - Cung cấp tài liệu  |  - Căn cứ pháp lý mở rộng   | - Khung nhận thức     |
|    chuyên sâu, số     |    quyền thu thập chứng cứ  |   chuẩn hóa, hạn chế  |
|    liệu minh chứng.   |    và đối đáp bình đẳng.    |   oan sai và vi phạm. |
+-----------------------+-----------------------------+-----------------------+
  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Tố tụng hình sự: Tiếp cận hệ thống luận cứ logic, bảng biểu so sánh và số liệu thực chứng 5 năm (2019–2023).
  • Đội ngũ Luật sư, Người bào chữa: Nhận diện các rào cản pháp lý thực tế và công cụ lập luận nhằm bảo vệ tối đa quyền im lặng và quyền thu thập tài liệu cho thân chủ.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán): Chuẩn hóa tư duy áp dụng pháp luật, hạn chế triệt để định kiến buộc tội chủ quan, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa.
  • Cơ quan lập pháp (Quốc hội, Viện nghiên cứu lập pháp): Tham khảo đề xuất sửa đổi cụ thể từng điều khoản phục vụ lộ trình sửa đổi toàn diện BLTTHS trong thời gian tới.

Câu hỏi thường gặp

1. Điều kiện tiên quyết để áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội tuyên một người không có tội là gì?

Căn cứ Điều 13 và Khoản 4 Điều 326 BLTTHS 2015, người bị buộc tội được tuyên không có tội khi: (1) Cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng mọi biện pháp hợp pháp theo luật định nhưng không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ buộc tội; hoặc (2) Hành vi không cấu thành tội phạm hoặc không có sự việc phạm tội xảy ra.

2. Sự khác nhau căn bản giữa Điều 9 BLTTHS 2003 và Điều 13 BLTTHS 2015 là gì?

Điều 9 BLTTHS 2003 quy định bị động: "Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội...", dễ dẫn đến khuynh hướng CQĐT tìm mọi cách chứng minh có tội. Điều 13 BLTTHS 2015 quy định chủ động: "Người bị buộc tội được coi là không có tội...", bắt buộc cơ quan THTT phải mặc định đối xử với họ như người vô tội trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

3. Người bị buộc tội có bắt buộc phải trả lời mọi câu hỏi của Điều tra viên không?

Về mặt nguyên tắc quyền con người và quy định tại Điều 15 BLTTHS 2015, người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội và có quyền không đưa ra lời khai chống lại chính mình. Đề tài đề xuất bãi bỏ Khoản 3 Điều 466 để hợp thức hóa đầy đủ quyền im lặng này mà không bị đe dọa xử lý kỷ luật/hành chính.

4. Tại sao cần thay thế "vành móng ngựa" bằng "bục khai báo" trong phòng xử án?

Theo Thông tư 01/2017/TT-TANDTC, việc thay vành móng ngựa bằng bục khai báo xóa bỏ biểu tượng áp đặt tội danh trước khi có phán quyết của Tòa án, bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội và tạo vị thế bình đẳng về mặt không gian giữa bên buộc tội và bên bào chữa.

5. Chi phí và rủi ro nếu cơ quan tố tụng vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội?

Vi phạm nguyên tắc dẫn đến oan sai sẽ gây tổn hại nghiêm trọng danh dự, tính mạng công dân; Nhà nước phải chi trả ngân sách bồi thường thiệt hại (theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước); cán bộ vi phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "Dùng nhục hình" (Điều 373 BLHS) hoặc "Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội" (Điều 368 BLHS).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự" của tác giả Lê Quang Anh (Trường Đại học Luật Hà Nội, hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Liên) là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và mang giá trị thực tiễn cao. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận kinh điển và số liệu thực chứng giai đoạn 2019–2023 từ các cơ quan tư pháp tối cao, công trình đã làm sáng tỏ bản chất của nguyên tắc suy đoán vô tội như một nguyên tắc hiến định bảo vệ quyền con người.

Các kiến nghị sửa đổi bổ sung Điều 13, Điều 45, Điều 73 và bãi bỏ Khoản 3 Điều 466 BLTTHS 2015 là những đóng góp khoa học có giá trị tham khảo trực tiếp cho tiến trình cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHS Việt Nam trong kỷ nguyên mới.