CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TÂM LÝ TIỂU NÔNG VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYÈN XHCN Ở VIỆT NAM 1. Cơ sở hình thành, tồn tại và đặc điểm cơ bản của tâm lý tiểu nông Việt Nam 1. Khái niệm tâm lý tiểu nông Đề hiểu về tâm lý tiểu nông, theo chúng tôi, rất cần thiết bất đầu từ việc tìm hiểu khái niệm tâm lý xã hội. Khải niệm tâm ly xã hội Đã có một số cách định nghĩa khác nhau về tâm ly xã hội.
Trong Tir điển triết học, khái niệm này được hiểu là “Toàn bộ tình cảm ý chí, tâm trạng, thói quen, truyền thống thẻ hiện trong tâm lý của các nhóm xã hội, các giai cấp, các dân tộc, nhân dân các nước do có chung những điều kiện kinh tế - xã hội trong đời sống của họ” [131, tr. Gần đây, khái niệm tâm lý xã hội được hiểu là: “Bao gồm toàn bộ tình cảm, ước muốn, thói quen, tập quán. của con người, của một bộ phận xã hội, hoặc của toan xã hội hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày của họ và phan ánh đời sống đó” [47, tr. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, song ý thức xã hội có tính độc lập tương đối, tác động trở lại tồn tại xã hội.
Các Mác viết: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của ho” [79, Tr. Trong ý thức xã hội, hệ tư tưởng va tâm lý xã hội là hai bộ phận chủ yếu cấu thành nội dung của nó. Như vậy, tâm lý xã hội là 16 một bộ phận của ý thức xã hội, do tồn tại xã hội quyết định, phản ánh tồn tại xã hội. Nó phán ánh một cách trực tiếp điều kiện sống, hoàn cảnh và môi trường sống của con người, thông qua lăng kính chủ quan của cá nhân.
Qua đó, nó cũng phản ánh trình độ sản xuất, trình độ văn minh của thời đại, truyền thống văn hoá, cũng như rất nhiều quan hệ khác của con người. Vì vậy, tâm lý xã hội phản ánh tồn tại xã hội một cách trực tiếp, phong phú và sinh động. Tén tại xã hội bao gồm các yếu tố chính là: phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên - hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số; trong đó, phương thức sản xuất vật chất là yếu tổ cơ bản nhất. Như vậy, ở một khía cạnh cụ thể, có thể nói, tâm lý xã hội là sự phản ánh trực tiếp những đặc điểm của nền sản xuất xã hội ở giai đoạn lịch sử nhất định.
So với tổn tại xã hội, tâm lý xã hội bảo thủ hơn bởi những thói quen, phong tục, tập quán truyền thống. Nó tác động trở lại tồn tại xã hội, có thé thúc day hoặc cản trở sự phát triển của xã hội nói chung. Lẽ dĩ nhiên, với tính cách là một bộ phận của ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và do tồn tại xã hội quyết định, khi tồn tại xã hội thay đối tất yếu dẫn đến sự thay đổi ý thức xã hội, trong đó có tâm lý xã hội. Tuy nhiên, tâm lý xã hội có tính bền vững, tính ỳ rất lớn.
Nó có thể vẫn tồn tại ngay cả khi cơ sở kinh tế - xã hội cho sự tồn tại của nó đã bị xoá bỏ. Như vậy, tâm lý xã hội không phải là cái có sẵn mà nó là sản phẩm của sự kết hợp nhiều yếu tố trong quá trình phát triển của con người, được hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của những điều kiện lao động sản xuất, sinh hoạt của họ. Xét về cấp độ của ý thức, nó là dang ý thức ở cấp độ thấp. Nó phản anh và chịu sự tác động của tồn tại xã hội một cách sinh động, phong phú.
Do đó, với những điều kiện tự nhiên, xã hội khác nhau, những nhóm cộng đồng người khác nhau sẽ có những đặc trưng tâm lý xã hội khác nhau. Tâm lý tiểu nông là một loại hình của tâm lý xã hội nên nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm của tâm lý xã hội như vừa trình bày ở trên. Ngoài ra, nó còn có những đặc điêm riêng do nên kinh tê tiêu nông quy 17 định, do điều kiện lao động sản xuất, sinh hoạt của chính bản thân người nông dân quy định. Tâm lý tiểu nông, trước hết được nây sinh, hình thành từ sự phản ánh những đặc điểm của nền kinh tế tiểu nông.
Theo quan niệm của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin, nền kinh tế tiêu nông có các đặc điểm như: chế độ sở hữu là chế độ tư hữu nhỏ về TLSX; trình độ của LLSX là trình độ thủ công với công cụ và kỹ thuật thô sơ, lạc hậu, chậm thay đổi; mục đích của sản xuất là tự cấp, tự túc, nhằm tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và để duy trì sự tồn tại của mỗi cá thể, gia đình hoặc cộng đồng (công xã); sự phân công lao động hình thành một cách tự phát, mang tính tự nhiên; lao động cá thể chiếm ưu thế, sự phân công hợp tác chưa phải là tất yếu; sản xuất tiến hành theo những phương pháp kinh nghiệm, mang tính chất phân tán, khép kín, biệt lập; quan hệ xã hội mang tính chất tự nhiên, thân thuộc, bị rang buộc bởi các quan hệ thân tộc, làng họ. “Nền kinh tế tiểu nông là nền kinh tế nông nghiệp ở trạng thái sản xuất nhỏ theo lối người nông dân làm chủ một ít ruộng đất và tự mình sản xuất lấy” [58, tr. Nó là cơ sở để hình thành tâm lý tiểu nông, vì tâm lý xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội mà tồn tại xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử cơ bản là nền sản xuất của xã hội đó. Sống trong điều kiện nền kinh tế tiểu nông, những người nông dân hình thành nên đặc điểm tâm lý mang đặc trưng của nhóm mình, phản ánh điều kiện sống của nhóm mình - gọi là tâm lý tiểu nông.
Tuy nhiên, tâm lý tiêu nông không phải là con số cộng giản đơn tâm lý của từng cá nhân người nông dân mà là sự chưng cất những nét tâm lý đặc trưng nhất của giai tầng này, phản ánh điều kiện sống, hoàn cảnh, phương thức sống của người nông dân qua nhiều thế hệ. Vi vậy, tam lý tiểu nông là loại hình tâm ly xã hội, bao gom các hiện tượng như tinh cảm, tâm trạng, niềm tin, ước muốn, nhu câu, thói quen, tập quán, động cơ, thái độ, hứng thu, sở thích, xu hướng. của tang lop nông dân được hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của nên kinh tế tiểu nông; những điểu kiện lao động sản xuất, sinh hoạt riêng có của nông dân, nông 18 nghiệp, nông thôn, đã sản sinh, quyết định và chỉ phối thái độ, hành vi, cách ứng xử của họ. Chủ thé của tâm ly đó là nông dân, song tâm lý tiêu nông không chỉ tồn tại và biểu hiện ra ở người nông dân ma con biểu hiện ra ở cả những người không phải là nông dân.
Người nông dân được xac định với tính cách là chủ thể của tâm lý tiểu nông từ hai phương diện: Một là, xét về mặt địa lý và hoàn cảnh xã hội, đó là những người nông dân đã và đang sống trong môi trường nông nghiệp và nông thôn. Điểm tụ cư chính của họ là các làng xã. Hơn nữa, cuộc sống lao động sản xuất, sinh hoạt của họ phụ thuộc và gan chặt chẽ, không tach rời với các làng xã. Hai là, về mặt kinh tế, đó là những người lao động nông nghiệp có đời sống gắn trực tiếp với kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Đương nhiên, trong tính chỉnh thể của mối quan hệ phong phú, đa dạng nông dân, nông nghiệp và nông thôn, việc phân chia, giới hạn nói trên chỉ là tương đối. Trên thực tế, có không ít người, nhóm xã hội đã và đang sống, sinh hoạt ở nông thôn nhưng không lao động nông nghiệp hoặc không do kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn trực tiếp chi phối (trong xã hội cũ, đó là: các nhà nho, nhà sư. Trong xã hội mới hiện nay, đó là: số cán bộ, giáo viên làm việc ở nông thôn nhưng trực tiếp hưởng lương của nhà nước; cán bộ, công nhân có cơ quan, nhà máy, xí nghiệp đóng ở nông thôn; những người đang cư trú ở nông thôn nhưng lấy nghề buôn bán, dịch vụ sản xuất cơ khí. làm thu nhập chính v.), mặt khác, thông qua ảnh hưởng gián tiếp, ké cả những người sinh sống ở thành thị vẫn mang tâm lý tiểu nông.
Chúng tôi cũng phân biệt khái niệm tam lý tiểu nông với khái niệm tâm lý sản xuất nhỏ, tâm lý tiểu tư sản. Tâm lý tiểu nông va tâm lý sản xuất nhỏ, tâm lý tiểu tư sản đều được nây sinh, hình thành trên cơ sở của nền sản xuất nhỏ. Giữa chúng có điểm tương đồng nhất định nhưng không phải hoàn toàn là đồng nhất. Khi nói tâm lý sản xuất nhỏ là nói tới tâm lý không chỉ của người sản xuất nhỏ ở lĩnh vực nông nghiệp mà còn ở cả các lĩnh vực khác.
Ở nước ta, sản 19 xuất nông nghiệp mang tính chất của một nền sản xuất nhỏ nhưng tính chất sản xuất nhỏ ấy cũng thể hiện ở sản xuất thủ công nghiệp, tiêu thủ công nghiệp, công nghiệp, thương mại. Vì vậy, khái niệm tâm lý sản xuất nhỏ có ngoại dién rộng hơn khái niệm tâm lý tiểu nông. Nó là loại hình tâm lý xã hội được nấy sinh, hình thành gắn liền với nền sản xuất nhỏ. Đó là các hiện tượng như tình cảm, tâm trạng, mong muốn, thói quen, tập quán.
của những người lao động và sinh hoạt trong xã hội có nên tảng kinh tế là nền sản xuất nhỏ. Tâm lý sản xuất nhỏ được biểu hiện ở nhiều tầng lớp, nhiều giai cấp khác nhau trong xã hội mà người nông dân là một trong số các giai cấp, tầng lớp đó. Còn (âm I) tiểu tw sản là tâm ly của một tang lớp có đặc trưng ban chất là tư tưởng tư hữu nhỏ gắn với chế độ kinh tế tư hữu nhỏ của nền sản xuất xã hội. Ngoài ra, tdm ly tiểu nông còn có sự tương hợp nhất định với tam lý làng xã.
Sự tương hợp này được bất nguồn từ đặc điểm sống quần cư thành cộng đồng làng xã của người nông dân, đây là bộ phận chủ yếu chiếm tuyệt đại đa số cư dân làng xã. Thông qua hoạt động và các mỗi quan hệ giao tiếp giữa các thành viên của cộng đồng làng đã hình thành nên tâm lý làng xã.