CHƯƠNG 1. SỰ HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM Mục tiêu chương Chương học cúng cấp cho sinh viên những nội dung cơ bản về sự hình thành và phát triển của nhà nước đầu tiên ở Việt Nam, đồng thời giúp các bạn sinh viên: - Trình bày được nguyên nhân kinh tế - xã hội và những yếu tố thúc đẩy nhà nước Văn Lang - Âu Lạc ra đời sớm. - Hiểu được cơ cấu, tổ chức bộ máy nhà nước Văn Lang - Âu Lạc. - Trình bày được cách thức ra đời, nội dung cơ bản cũng như các hình thức tồn tại của pháp luật trong thời kỳ dựng nước.
- Phân tích được những di tồn của thời kì dựng nước đối với quá trình xây dựng và phát triển của nhà nước và pháp luật Việt Nam trong các thời kì tiếp theo. Nguyên nhân ra đời của nhà nước 1. Sự phát triển của nền kinh tế Căn cứ vào các thư tịch cổ của Việt Nam (Việt sử lược, Lĩnh Nam chích quái, Dư địa chí.); căn cứ vào quá trình chuyển hóa lịch sử từ nước Văn Lang thời Hùng Vương sang nước Âu Lạc thời An Dương Vương, rồi đến hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân thời thuộc Triệu, Hán; căn cứ vào các di tích khảo cổ học thuộc văn hóa Đông Sơn đã phát hiện, có thể khẳng định: Địa bàn cư trú của cư dân Việt cổ thời Văn Lang tương ứng với vùng Bắc bộ, Bắc Trung bộ của nước ta ngày nay và một phần phía Nam Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc). Cư dân thời Hùng Vương là Lạc Việt, một bộ tộc trong Bách Việt.
Các nhà khảo cổ học gọi cư dân Bách Việt là giống “Mông Cổ phương Nam", bao gồm giống người Anhđônêdiêng (Indonêsien) hỗn chủng với người Mông Cổ (Mônggôlôit) tạo ra người Mông Cổ phương Nam. Dựa vào thành tựu của các ngành khoa học, chủ yếu là khảo cổ học, ngày nay phần lớn các nhà khoa học đều cho rằng thời đại Hùng Vương tương ứng với thời đại kim khí (thời đại đồng thau và sơ kỳ đồ sắt), phát triển qua các giai đoạn: 7 - Giai đoạn Phùng Nguyên (có niên đại cách ngày nay khoảng 4.500 năm), thuộc sơ kỳ đồng thau. - Giai đoạn Đồng Đậu (có niên đại cách ngày nay khoảng 3.100 năm), thuộc trung kỳ đồng thau. - Giai đoạn Gò Mun (có niên đại cách ngày nay khoảng 3.700 năm), thuộc hậu kỳ đồng thau.
- Giai đoạn Đông Sơn (có niên đại cách ngày nay khoảng 2.900 năm), thuộc thời kỳ đồng thau phát triển và sơ kỳ sắt. Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ sự phát triển đỉnh cao của đồ đồng sang sơ kỳ đồ sắt. Giai đoạn cuối của văn hóa Đông Sơn kéo dài đến một vài thế kỷ sau công nguyên. Tuy nhiên, thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc chỉ tương ứng với giai đoạn từ khoảng thế kỷ VII TCN đến năm 179 TCN.
Thời Hùng Vương, kỹ thuật luyện kim ngày càng phát triển, công cụ lao động bằng đồng thau ngày càng chiếm ưu thế. Sự tiến bộ của công cụ bằng sắt đã thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển. Nông nghiệp lúa nước đóng vai trò chủ đạo, phổ biến từ trung du đến đồng bằng. Với việc chế tạo ra lưỡi cày, nông nghiệp dùng cày đã thay thế cho nông nghiệp dùng cuốc trước đó, đánh dấu bước tiến trong nông nghiệp.
Sự xuất hiện của các công cụ bằng đồng còn chứng tỏ bước tiến về kỹ thuật canh tác của cư dân Việt cổ lúc bấy giờ. Họ còn biết trồng lúa trên các loại ruộng nước, bãi và nương rẫy với những hình thức canh tác phù hợp. Ngoài trồng lúa là chính, cư dân lúc bấy giờ còn biết nghề làm vườn, trồng rau củ, cây ăn quả. Cùng với nông nghiệp còn có chăn nuôi, đánh cá và thủ công nghiệp cũng phát triển.
Đế phục vụ nông nghiệp, cư dân lúc bấy giờ đã biết chăn nuôi trâu bò. Nhiều di tích văn hóa Đông Sơn có nhiều xương trâu bò. Các gia súc, gia cầm được nhân dân chăn nuôi rộng rãi. Nghề thủ công cũng có những bước tiến quan trọng.
Trong đó, kĩ thuật luyện kim đạt đến trình độ điêu luyện khiến các học giả nước ngoài kinh ngạc và phủ nhận tính bản địa của nó. Trống đồng, thạp đồng là những hiện vật tiêu 8 biểu cho trí tuệ, thẩm mĩ và tài năng của người thợ thủ công lúc bấy giờ. Bên cạnh đó, nghề làm đồ gốm cũng phát triển thêm một bước. Nghệ thuật nặn gốm bằng bàn xoay được cải tiến, chất lượng gốm ngày càng tăng.
Hình thức trang trí ngày càng phong phú, đa dạng như: nồi (đáy tròn, đáy bằng, đáy lồi), hoa văn (hình chữ S, dấu thừng, hình ô van). Chính sự phát triển của kinh tế trên nhiều lĩnh vực đã tạo điều kiện mở rộng trao đổi hàng hóa với nước ngoài, chủ yếu với các nước trong khu vực. Hiện tượng một số trống đồng loại 1 Hegơ của nước Văn Lang ở Thái Lan, Malaixia đã chứng tỏ điều đó. Tóm lại, trong khoảng 2000 năm trước công nguyên, sức sản xuất và nền kinh tế thời đại Hùng Vương đã có những chuyển biến lớn lao: từ chỗ còn mang dáng dấp nền kinh tế tự nhiên nguyên thủy ở giai đoạn đầu đã chuyển dần sang nền kinh tế sản xuất là chủ yếu ở giai đoạn sau; thể hiện sự chủ động của con người trong cuộc sống của mình.
Sự phân hóa của xã hội Sự phát triển của kinh tế đã tạo điều kiện tăng thêm nhiều của cải, sản phẩm dư thừa ngày càng nhiều, tạo nên cơ sở cho sự phân hóa xã hội. Sự phân hóa này biểu hiện ở những đặc điểm sau: - Cuối thời kỳ Hùng Vương, những gia đình nhỏ đã ra đời, chế độ mẫu hệ chuyển dần sang phụ hệ. Sự xuất hiện của các gia đình nhỏ với chế độ hôn nhân một vợ một chồng thể hiện một sự phân hóa xã hội rất cao so với chế độ quần hôn của thời kỳ nguyên thủy. - Sự hình thành và tồn tại bền vững của công xã nông thôn với chế độ sở hữu chung về ruộng đất.
Công xã nông thôn thường được gọi là kẻ, chiềng, chạ và sau này được gọi là làng xã. Đây là hình thái tổ chức xã hội xuất hiện phổ biến vào giai đoạn tan rã của công xã nguyên thủy và quá độ sang xã hội có giai cấp. Công xã nông thôn có đặc trưng cơ bản là trong công xã nông thôn tuy ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu của công xã nhưng đã được phân chia cho các thành viên công xã để canh tác và được quyền sở hữu sản phẩm lao động của mình. Nghĩa là ruộng đất thuộc quyền 9 sở hữu của công xã, các thành viên công xã chỉ có quyền chiếm hữu và sử dụng.
Công xã nông thôn là hình thái tổ chức mang tính chất trung gian, chuyển tiếp giữa công xã thị tộc và chế độ tư hữu. Ở phương Tây, sự chuyển tiếp này chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn. Còn ở Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung, công xã nông thôn tồn tại trong một thời gian rất dài và rất bền vững. Điều này đã dẫn đến đặc điểm của sự phân hóa xã hội ở nước ta là không sâu sắc như ở các nước phương Tây.
- Chế độ tư hữu tài sản ra đời và ngày càng phát triển, xã hội phân hóa giàu nghèo. Ngay từ thời Phùng Nguyên, hiện tượng phân hóa xã hội đã xuất hiện. Trong số 12 ngôi mộ khai quật ở Lũng Hòa (Vĩnh Phú) có 2 mộ chỉ có 2 hiện vật chôn theo người chết, 2 mộ có tới 20 hiện vật và 14 hiện vật, một số mộ còn lại có phổ biến từ 3 - 13 hiện vật. Đồ tùy táng giống nhau gồm: công cụ, bằng đá, gốm.
Điều đó chứng tỏ ở thời kỳ này xã hội đã có sự phân hóa. Sự phân hóa đó diễn ra từ từ, ngày càng rõ nét và trải qua quá trình lâu dài. Tuy nhiên, sự phân hóa chưa sâu sắc và gắn liền với phân hóa tài sản, trong xã hội lúc bấy giờ đã xuất hiện các tầng lớp xã hội khác nhau: + Quý tộc: gồm các Tộc trưởng, Tù trưởng bộ lạc, Thủ lĩnh liên minh bộ lạc và những người giàu có khác. + Dân tự do: là tầng lớp đông đảo nhất trong xã hội, giữ vai trò là lực lượng sản xuất chủ yếu.
+ Nô tì: là tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội. Mặc dù sự phát triển của nền kinh tế và sự phân hóa xã hội diễn ra còn chậm chạp và chưa sâu sắc nhưng đó là những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của nhà nước đầu tiên ở Việt Nam. Các yếu tố thúc đẩy sự ra đời của nhà nước - Sự phát triển của kinh tế nông nghiệp lúa nước đòi hỏi ngày càng bức thiết công tác trị thủy, thủy lợi, khai khấn đất đai, mở rộng diện tích canh tác. Đã có một số tài liệu cho thấy, cư dân lúc bấy giờ đã biết sử dụng biện pháp tưới tiêu “tưới ruộng theo nước triều lên xuống.
10 - Vị trí địa lý nằm trên đầu mối của những luồng giao thông quan trọng từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, nên yếu tố tự vệ chống lại các mối đe dọa từ bên ngoài ngày càng trở nên bức thiết. Cuộc đấu tranh tự vệ và trị thủy - thủy lợi là những việc lớn lao, đặc biệt quan trọng, phải tiến hành thường xuyên, có tính chất cấp bách vì nó liên quan trực tiếp tới sự tồn vong của cả cộng đồng. Đây là những việc đòi hỏi sức mạnh tập thể, đoàn kết, đồng thời cũng đòi hỏi một sự quản lý, lãnh đạo.Vì vậy, mặc dù các tiền đề để hình thành nhà nước theo lý thuyết là chưa chín muồi nhưng do có các yếu tố thúc đẩy nói trên, nhà nước đầu tiên ở Việt Nam đã ra đời sớm hơn so với quy luật chung. Sự thúc đẩy đó được thể hiện: Các công xã nông thôn không còn đủ sức để thực hiện công việc lớn lao trong tự vệ và trị thủy - thủy lợi mà đòi hỏi phải có một loại cơ cấu tổ chức mới lớn hơn, có nhiều sức mạnh hơn.
Và nhà nước ra đời là một tất yếu. Mặt khác, các thủ lĩnh ngày càng có địa vị và vai trò quan trọng trong xã hội. Quyền lực và tài sản của họ tích tụ ngày càng lớn, các phương pháp, hình thức hoạt động nhằm duy trì trật tự xã hội cũng như địa vị xã hội của họ ngày càng thể hiện tính tập trung, độc đoán, đòi hỏi phải có những cơ cấu tổ chức mới, thôi thúc sự ra đời của nhà nước.