CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT 1. Nguồn gốc, bản chất, thuộc tính và chức năng của pháp luật 1. Nguồn gốc pháp luật Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, Nhà nước và pháp luật là "đôi bạn đồng hành", là hai hiện tượng xã hội luôn gắn liền với nhau. Do đó nguyên nhân về sự ra đời của nhà nước cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật.
Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, chưa có Nhà nước và pháp luật. Ở thời kỳ đó, chưa có sự đối lập về lợi ích kinh tế giữa các tập đoàn người thì quan hệ giữa người với người - quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy tắc hình thành một cách tự phát, xuất phát từ nhu cầu, lợi ích chung của cả cộng đồng và cũng là lợi ích của mỗi thành viên trong cộng đồng. Đó là những quy phạm xã hội, chủ yếu gồm: tập quán, các tín điều tôn giáo và những quy phạm đạo đức.Các quy phạm này được đảm bảo thực hiện bằng sự tự giác của mỗi người và bằng uy tín tự nhiên của các thủ lĩnh cộng đồng. Các quy phạm xã hội trong xã hội cộng sản nguyên thủ phù hợp với điều kiện xã hội lúc bấy giờ.
Cơ sở kinh tế của xã hội trong thời kỳ này là nền kinh tế dựa trên sự phân công lao động mang tính tự nhiên, chưa có sự chuyên môn hoá. Hoạt động lao động sản xuất còn mang tính bản năng, chủ yếu săn bắt, hái lượm những sản phẩm có sẵn từ tự nhiên. Bên cạnh đó, kết cấu xã hội còn hết sức đơn giản. Tổ chức đầu tiên của xã hội loài người là thị tộc, nhiều thị tộc hợp lại thành bào tộc, nhiều bào tộc hợp thành bộ lạc.Vì thế chưa cần đến những quy tắc đa dạng, phức tạp để quản lý xã hội.
Nhưng theo quy luật chung, xã hội cộng sản nguyên thủy luôn vận động và không ngừng phát triển, người nguyên thủy ngày càng phát triển về thể lực và trí lực, công cụ lao động ngày càng cải tiến, sản phẩm lao động ngày càng tăng lên, xuất hiện chế độ tư hữu và phân hoá giai cấp trong xã hội. Nền kinh tế tự nhiên được thay thế bởi nền kinh tế sản xuất thông qua ba lần phân công lao động xã hội mang tính chuyên môn hoá. Chế độ tư hữu ra đời đã làm cho xã hội cộng sản nguyên thủy phân chia giai cấp, mâu thuẫn giai cấp phát sinh và các cuộc đấu tranh giai cấp bùng nổ. Giai cấp chiến thắng chiến thắng và nắm quyền lực trong các cuộc xung đột giai cấp (giai cấp thống trị) đã thiết lập một hệ thống cơ quan quyền lực để duy trì sự thống trị của mình trong xã hội.
Hệ thống cơ quan quyền lực được thiết lập nhằm trấn áp các giai cấp khác trong xã hội đó chính là Nhà nước. Khi Nhà nước ra đời và xã hội phân chia thành giai cấp với những lợi ích đối lập nhau thì các quy phạm xã hội hình thành một cách tự nhiên và thể hiện lợi ích chung của cả cộng đồng không còn phù hợp nữa mà đòi hỏi phải có những quy tắc xã hội mới để thiết lập cho xã hội một “trật tự”, loại quy phạm mới này phải thể hiện được ý chí của giai cấp thống trị. Lúc đó, đồng thời với việc thiết lập bộ máy nhà nước, giai cấp thống trị đã đặt ra một loạt các quy tắc xử sự mới thể hiện ý chí của mình và bắt buộc các thành viên trong xã hội phải tuân theo bằng chính sức mạnh của bộ máy nhà nước. Hệ thống các quy phạm mới thể hiện ý chí của giai cấp thống trị chính là pháp luật.
1 Như vậy, nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng mang tính lịch sử, chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội có những điều kiện nhất định, đó là có sự tư hữu đối với tư liệu sản xuất và xã hội phân chia thành giai cấp và đấu tranh giai cấp. Trong quá trình thiết lập hệ thống quy tắc quản lý mới trong xã hội, giai cấp thống trị luôn cố gắng hướng mọi hành vi trong xã hội phù hợp với lợi ích riêng của họ, bảo vệ của cải mà họ có được. Vì vậy họ tìm cách duy trì, vận dụng những quy tắc xử sự phù hợp với ý chí và lợi ích của họ, bảo vệ trật tự họ mong muốn, dần dần thay đổi nội dung các quy tắc đạo đức, phong tục tập quán và bằng con đường nhà nước nâng chúng thành các quy phạm pháp luật. Những quy tắc xử sự bất thành văn này rất đa dạng, dễ hiểu, được loài người sử dụng từ lâu đời và thường tự giác thực hiện.
“Luật này không khắc lên đá, lên đồng mà khắc vào lòng công dân tạo nên hiến pháp chân chính của quốc gia. Luật này mỗi ngày lại có thêm sức mới, khi các thứ luật khác đã già cỗi hoặc tắt ngấm thì luật này thắp sang cho nó lại sang lên hoặc bổ sung thay thế nó duy trì cả dân tộc trong tinh thần thể chế, lẳng lặng đưa sức mạnh của thói quen thay sức mạnh của quyền uy” (J.Rousseau-Bàn về khế ước xã hội). Bằng sự thừa nhận của nhà nước, các quy tắc như đạo đức, phong tục tập quán phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị bị biến đổi thành những quy tắc xử sự chung. Đây là phương thức hình thành đầu tiên của pháp luật.
Ví dụ: Theo Luật 12 bảng của La Mã, mỗi gia đình La Mã có quyền định đoạt đối với phần đất của mình, còn nô lệ và súc vật trở thành tài sản riêng của mỗi gia đình giàu có. Quy định này của Luật La Mã 12 bảng được nâng lên từ tập quán về quyền sở hữu tập thể đối với ruộng đất và nô lệ trong tổ chức công xã La Mã cổ đại. Cùng với sự phát triển của xã hội, các quan hệ xã hội xuất hiện mới, ngày càng đa dạng và phức tạp nên việc chuyển hóa các quy tắc xử sự như đạo đức, tập quán chỉ đáp ứng được phần nào về nhu cầu cần phải có sự điêu chỉnh đối với các quan hệ xã hội. Vì thế nhà nước cần phải xây dựng các quy tắc xử sự mới thông qua các hình thức: + Nhà nước thừa nhận những quyết định có từ trước về từng vụ việc của cơ quan xét xử, cơ quan hành chính, nâng lên thành pháp luật có tính quy phạm và khuôn mẫu để các cơ quan cấp dưới giải quyết những vụ việc tương tự xảy ra sau này.
Đây là hình thức sáng tạo pháp luật chủ yếu của các nước theo hệ thống pháp luật “Common Law” như Anh, Mỹ, … + Nhà nước ban hành những quy định mới để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới nảy sinh, được chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật (chủ yếu là văn bản luật). Chẳng hạn: thời cổ đại đã xuất hiện các văn bản pháp luật điển hình như: Luật La Mã 12 bảng (thế kỷ V T.N); Luật Đô ra công ở Hy Lạp (thế kỷ VII T.N); Luật Manu của Ấn Độ (thế kỷ I T.N); Luật Hammurabi trong nhà nước Babilon (thế kỷ VIII T. Như vậy, thông qua các hình thức sáng tạo pháp luật, nhà nước đã tiến hành hoạt động xây dựng, bổ sung thêm các quy định pháp luật mới các có tính quy phạm phổ biến. Đó chính là phương thức hình thành thứ hai của pháp luật.
Sự ra đời của pháp luật không chỉ là một hiện tượng khách quan, là kết quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế, xã hội mà còn phản ánh ý chí chủ quan của nhà làm luật - 2 ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp. Từ đó chúng ta đi đến khái niệm pháp luật như sau: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội, thể hiện ý chí của nhà nước và được nhà nước bảo đảm thực hiện. Bản chất của pháp luật Bản chất của pháp luật được thể hiện ở hai tính chất cơ bản là tính giai cấp và tính xã hội. Tính giai cấp Pháp luật luôn phản ánh ý chí của Nhà nước, của giai cấp thống trị.
Sở dĩ như vậy là vì, nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước nên giai cấp thống trị có điều kiện biến ý chí của giai cấp mình thành ý chí nhà nước và thể hiện chúng trong các văn bản pháp luật. Nói cách khác, pháp luật là sản phẩm của sự thể chế hóa ý chí của giai cấp thống trị. Mặt khác tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở chỗ mục đích của pháp luật là điều chỉnh quan hệ giữa các tầng lớp xã hội, nhằm tạo ra một trật tự xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. Nghĩa là, pháp luật là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp (Nhưng ý chí của giai cấp thống trị thể hiện trong pháp luật không phải là ý chí chủ quan của một người hay một nhóm người thống trị trong xã hội mà xét đến cùng là do các lợi ích kinh tế khách quan của giai cấp đó, do các quan hệ sản xuất khách quan mà giai cấp đó là đại diện quyết định).
Bản chất giai cấp tồn tại ở bất kỳ kiểu pháp luật nào, nhưng mỗi kiểu pháp luật lại có bản chất riêng và có cách biểu hiện riêng. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, bản chất giai cấp được thể hiện công khai bằng việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt hết sức dã man và tàn bạo. Chẳng hạn, trong Luật Đô- ra-công (Hy Lạp) mức án tử hình được quy định đối với mọi loại tội; việc thi thành án tử hình được thực hiện một cách man rợ như: nấu phạm nhân trong vạc dầu, ném nạn nhân vào lửa, chon sống,.Ngoài ra, pháp luật còn quy dịnh hình phạt giết cả cộng đồng mà trong đó có người phạm tội. Tính giai cấp của pháp luật tư sản thể hiện ở chỗ pháp luật tư sản trước hết và trên hết thể hiện ý chí và bảo vện quyền lợi của giai cấp tư sản.
Tuy nhiên, quyền lợi của giai cấp tư sản được bảo vệ tinh vi, khó tìm thấy rõ rệt trong các qui định thực định.