phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung đề tài gồm 2 chƣơng: Chƣơng I: Những vấn đề lý luận về việc nâng cao ý thức pháp luật cho sinh viên hiện nay Chƣơng II: Thực trạng và giải pháp nâng cao ý thức pháp luật của sinh viên trƣờng Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức 4 CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN HIỆN NAY 1. Khái niệm, đặc điểm, kết cấu của ý thức pháp luật 1.1 Khái niệm ý thức pháp luật Ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức xã hội thuộc đời sống tinh thần xã hội của con ngƣời. Trong lịch sử tƣ tƣởng của loài ngƣời do có sự khác biệt về nhận thức giữa các thời đại cũng nhƣ có sự khác biệt trong quan niệm về lợi ích giai cấp và tầng lớp xã hội nên quan niệm về nội dung ý thức pháp luật không phải lúc nào cũng có sự thống nhất, giống nhau.
Về khái niệm ý thức pháp luật cũng đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau cả trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Theo quan niệm thông thƣờng thì ý thức pháp luật chính là ý thức chấp hành pháp luật. Vì vậy khi đánh giá ý thức pháp luật của một tổ chức, cá nhân nào đó ngƣời ta thƣờng lấy các quy định cụ thể của pháp luật làm thƣớc đo cho hành vi, cách thức xử sự của con ngƣời xem hành vi đó là tốt hay xấu, là tích cực hay tiêu cực. Quan niệm này đƣợc tiếp cận trong phạm vi khá hẹp, nó đồng nhất giữa ý thức pháp luật với một biểu hiện cụ thể của nó.
Về mặt lý luận, cũng có khá nhiều quan điểm về khái niệm ý thức pháp luật. Chẳng hạn có quan điểm cho rằng “ YTPL là toàn bộ những quan niệm về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi con ngƣời, về quyền hạn và nghĩa vụ của các thành viên trong xã hội, về tính công bằng hay không công bằng của những luật lệ”1 Hoặc quan niệm “YTPL là trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân dân về pháp luật, trong đó có cả cán bộ, nhân viên nhà nƣớc, của các cơ quan có chức năng trực tiếp thi hành và áp dụng pháp luật; ý thức pháp luật còn là trình độ đối với pháp luật, ý thức tôn trọng hay coi thƣờng pháp luật, thái độ đối với hành vi vi phạm pháp luật” 2. Quan niệm này chƣa thể hiện rõ đặc trƣng cơ bản của khái niệm, không thấy rõ đƣợc bản chất của ý thức pháp luật nên dễ rơi vào quan điểm phiến diện và chủ quan. YTPL phải gắn với chủ thể nhất định, song với quan niệm trên sẽ là chƣa hoàn chỉnh, bởi lẽ nó chƣa đề cập đến yếu tố giáo dục, văn hoá pháp luật cũng nhƣ chức năng quản lý xã hội của Nhà nƣớc thông qua pháp luật.
Quan niệm trên quá nhấn mạnh yếu tố ngăn 1 Đại học Luật Hà Nội, (2009), giáo trình Nhà Nƣớc và pháp luật, NXb Tƣ pháp, Tr. 52 2 Ts Đào Trí Úc, (1993), những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật, NXb khoa học xã hội, Tr.146 5 ngừa, răn đe trong việc thực hiện pháp luật sẽ gây tâm lý bắt buộc bởi sự áp đặt của văn bản pháp luật, nó không thể hiện tính chất nhân đạo của pháp luật. Trên cơ sở tìm hiểu, tổng hợp các quan niệm trên ta thấy rằng: các khái niệm về YTPL nêu trên mặc dù phạm vi đề cập và cách thức đề cập có khác nhau nhƣng nói chung về nội dung đƣợc đề cập là tƣơng đối thống nhất. Có thể rút ra cách hiểu đầy đủ và bao quát nhất về YTPL sau: YTPL là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách trực tiếp đời sống pháp luật, bao gồm tổng thể những học thuyết, tƣ tƣởng, tình cảm của con ngƣời đối với pháp luật, thể hiện sự hiểu biết, thái độ của họ đối với pháp luật hiện hành, pháp luật trong qúa khứ và pháp luật cần có trong tƣơng lai, về quyền và nghĩa vụ của chủ thể pháp luật, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi của các cá nhân, cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội.
Trong khái niệm này đã nêu lên đƣợc những nội dung cơ bản của ý thức pháp luật, đó là: - Ý thức pháp luật là một trong những hình thái kinh tế, nó có đặc tính, đặc điểm riêng đồng thời cung có những đặc tính, đặc điểm cơ bản của ý thức xã hội, có sự tƣơng tác giữa các bộ phận khác trong ý thức xã hội - Ý thức pháp luật là sự phản ánh sáng tạo đời sống pháp luật của con ngƣời, con ngƣời nhận thức, đánh giá và thể hiện thái độ của mình trƣớc các hiện tƣợng pháp luật. - Nội dung ý thức pháp luật là những hiểu biết pháp luật và thái độ đối với pháp luật của con ngƣời trƣớc đời sống xã hội bao gồm các hiện tƣợng pháp luật chủ yếu nhƣ: hệ thống pháp luật, hành vi tuân thủ hay chống đối, nhận thức về cách xử sự của con ngƣời do pháp luật thừa nhận và bảo vệ tính công bằng dân chủ trong các đạo luật, công tác tổ chức thi hành áp dụng pháp luật, bảo vệ pháp luật, vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội… - Cơ cấu của ý thức pháp luật thể hiện đặc điểm, trình độ, mức độ nhận thức về đời sống pháp luật nhƣ: nhận thức lý tính nhƣ tƣ tƣởng, quan niệm, quan điểm; nhận thức cảm tính nhƣ tình cảm, xúc cảm, tâm trạng… của các chủ thể phản ánh nhƣ cá nhân, bộ phận, xã hội. Với cách hiểu nhƣ trên, đã chỉ rõ bản chất của pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc xuất phát từ đời sống pháp luật của xã hội, có tính độc lập tƣơng đối và đồng thời cũng làm rõ nét hơn về cơ cấu và nội dung của ý thức pháp luật. Nhận 6 thức đúng về ý thức pháp luật có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng giúp cho chúng ta hiểu đƣợc bản chất, vai trò to lớn của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội để có thái độ xử sự đúng đắn với sự tồn tại của nó.2 Đặc điểm của ý thức pháp luật: Một là, ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, vì vậy nó luôn chịu sự quy định của tồn tại xã hội YTPL là một hình thái ý thức xã hội, vì vậy nó luôn chịu sự quyết định của tồn tại xã hội và đƣợc hình thành từ những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, đó là những quan hệ kinh tế xã hội của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức pháp luật cũng thay đổi theo. Nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội theo quan điểm của triết học Mác - Lênin chứng minh rằng, ý thức xã hội của một cộng đồng xã hội không phải là cái cố hữu bất biến của con ngƣời, của xã hội mà nó chỉ là sự phản ánh đối với tồn tại xã hội hiện thực. Do đó, khi tồn tại xã hội thay đổi thì sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự thay đổi của ý thức xã hội. Tuy nhiên ý thức pháp luật lại có tính độc lập tƣơng đối.
Cụ thể, ý thức pháp luật thƣờng lạc hậu hơn tồn tại xã hội. Thực tế cho thấy tồn tại xã hội cũ mất đi nhƣng ý thức nói chung trong đó có ý thức pháp luật vẫn tồn tại dai dẳng trong một thời gian dài. Những tàn dƣ của quá khứ đƣợc giữ lại, nhất là trong lĩnh vực tâm lý pháp luật, nơi các thói quen và truyền thống còn đóng vai trò to lớn. Ví dụ những biểu hiện của tâm lý pháp luật phong kiến nhƣ sự thờ ơ, phủ nhận đối với pháp luật hiện vẫn còn tồn tại trong xã hội nƣớc ta hiện nay.
Tuy nhiên tƣ tƣởng pháp luật, đặc biệt là tƣ tƣởng pháp luật khoa học có thể vƣợt lên trên sự phát triển của tồn tại xã hội. Nếu là tƣ tƣởng của giai cấp cầm quyền tiến bộ thì nó sẽ có cơ hội thuận lợi để thể hiện thành pháp luật và tạo ra những biến đổi nhanh hơn trong đời sống. YTPL phản ánh tồn tại xã hội của một thời đại nào đó, song nó cũng kế thừa những yếu tố nhất định thuộc ý thức pháp luật của thời đại trƣớc đó. Và tất nhiên những yếu tố kế thừa có thể là tiến bộ hoặc không tiến bộ.
Không những thế, YTPL còn tác động trở lại đối với tồn tại xã hội, với ý thức chính trị, đạo đức và các yếu tố thuộc thƣợng tầng kiến trúc pháp lý nhƣ nhà nƣớc và pháp luật. Tùy thuộc vào ý thức tiến bộ hay lạc hậu mà sự tác động của nó có thể là thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của các hiện tƣợng trên. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác giáo dục pháp luật là phải biết phát huy mặt tích cực trong những biểu hiện của tính 7 độc lập tƣơng đối của ý thức pháp luật và hạn chế đến mức thấp nhất mặt tiêu cực của những biểu hiện đó. Hai là, ý thức pháp luật mang tính giai cấp Pháp luật là hệ thống quy tắc có tính bắt buộc, đòi hỏi mọi cá nhân, tổ chức xã hội phải tuân thủ trong quá trình tham gia vào hoạt động cộng đồng.
Đồng thời đó cũng là công cụ hữu hiệu để trừng trị những phần tử thoái hóa biến chất vi phạm các quy định của pháp luật, làm xói mòn đạo đức xã hội. Trong một xã hội có nhiều giai cấp thì sẽ tồn tại nhiều hệ YTPL khác nhau, song chỉ có ý thức pháp luật của lực lƣợng thống trị xã hội là có điều kiện đƣợc phổ biến rộng rãi và thể hiện trong pháp luật. Các giai cấp bị trị chịu ảnh hƣởng và chịu sự tác động và bắt buộc phải tuân theo YTPL của giai cấp thống trị. Cũng giống nhƣ nhà nƣớc, bản chất của pháp luật trƣớc hết đƣợc thể hiện ở bản chất giai cấp của nó, vì pháp luật đƣợc ra đời từ xã hội có giai cấp, nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.
Nghĩa là nó thể hiện quan điểm, nhận thức, thái độ của giai cấp thống trị. Thế giới quan pháp lý của giai cấp nhất định đƣợc qui định bởi vị trí của giai cấp đó trong xã hội. Mỗi quốc gia chỉ có một hệ thống pháp luật, nhƣng tồn tại một số hệ thống ý thức pháp luật.