I. Tổng quan về pháp luật quyền và nghĩa vụ CSTG sử dụng đất tại Quảng Ninh
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định pháp luật. Cơ sở tôn giáo bao gồm chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo và trụ sở tổ chức tôn giáo. Tại Quảng Ninh, tỉnh có hơn 148 di tích tín ngưỡng, tôn giáo được xếp hạng và kiểm kê phân loại. Các tôn giáo chính gồm Phật giáo với gần 155.000 tín đồ, Công giáo với 43.000 tín đồ và Tin lành với gần 1.000 tín đồ. Luật Đất đai năm 2013 và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 là hai văn bản pháp luật chủ đạo điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của cơ sở tôn giáo trong sử dụng đất. Việc quản lý và sử dụng đất phải đúng mục đích, phù hợp quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất tại địa phương.
1.1. Khung pháp lý điều chỉnh quyền sử dụng đất của CSTG
Luật Đất đai số 45/2013/QH13 có 14 chương, 212 điều, hiệu lực từ ngày 01/07/2014. Luật quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của từng đối tượng sử dụng đất, trong đó có cơ sở tôn giáo. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016 với 09 chương, 68 điều, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018. Điều 57 Luật này quy định đất cơ sở tín ngưỡng, đất cơ sở tôn giáo được quản lý và sử dụng theo quy định pháp luật về đất đai. Hai luật này tạo hành lang pháp lý thống nhất cho hoạt động quản lý và sử dụng đất tôn giáo.
1.2. Thực trạng tôn giáo và sử dụng đất tại Quảng Ninh
Quảng Ninh là tỉnh có đa dạng tôn giáo với 150 ngôi chùa Phật giáo, 42 cơ sở thờ tự Công giáo và 51 điểm nhóm Tin lành. Trong đó có 15 cơ sở là di tích cấp Quốc gia đặc biệt, 09 di tích Quốc gia và 17 di tích cấp tỉnh. Phật giáo có Ban trị sự tỉnh với 40 người, 13 Ban trị sự cấp huyện. Công giáo có 14 giáo xứ, 53 họ đạo thuộc Giáo phận Hải Phòng. Tin lành hoạt động tại 11/14 huyện, thị xã, thành phố với 14 tổ chức, hệ phái. Số lượng tín đồ và cơ sở thờ tự ngày càng tăng tạo áp lực lớn lên công tác quản lý đất đai.
II. Phân tích quyền và nghĩa vụ của CSTG trong sử dụng đất
Cơ sở tôn giáo được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất theo quy định Luật Đất đai. Quyền của cơ sở tôn giáo bao gồm quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, quyền khiếu nại về quyết định hành chính đất đai. Nghĩa vụ bao gồm sử dụng đất đúng mục đích, thực hiện đăng ký đất đai, nộp các khoản tài chính đất. Thời hạn đăng ký là 30 ngày kể từ ngày biến động. Việc đăng ký có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Các khoản tài chính gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, phí và lệ phí. Việc thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ giúp cơ sở tôn giáo hoạt động ổn định, tránh tranh chấp.
2.1. Quyền sử dụng đất của cơ sở tôn giáo theo pháp luật
Cơ sở tôn giáo có quyền được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất trong trường hợp đất sử dụng cho mục đích tín ngưỡng, tôn giáo. Quyền được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cơ sở tôn giáo được quyền nhận chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất từ cá nhân, tổ chức khác. Khi Nhà nước thu hồi đất, cơ sở tôn giáo được bồi thường thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất. Quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính về đất đai cũng được pháp luật bảo đảm.
2.2. Nghĩa vụ tài chính và đăng ký đất đai của CSTG
Nghĩa vụ đăng ký đất đai là yêu cầu bắt buộc theo Khoản 6 Điều 95 Luật Đất đai. Các trường hợp phải đăng ký gồm cho thuê, thế chấp, chuyển quyền, đổi tên, chia tách quyền, xác lập hoặc chấm dứt quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề. Thời hạn đăng ký là 30 ngày kể từ ngày biến động. Về nghĩa vụ tài chính, Điều 107 Luật Đất đai quy định các khoản gồm tiền sử dụng đất khi được giao đất có thu tiền, tiền thuê đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền, tiền phạt vi phạm và tiền bồi thường thiệt hại. Các khoản tài chính này là công cụ đảm bảo sử dụng đất hiệu quả.
III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ CSTG sử dụng đất
Hoàn thiện pháp luật về đất đai liên quan đến cơ sở tôn giáo đòi hỏi sự đồng bộ giữa Luật Đất đai và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Cần quy định rõ ràng hơn về điều kiện, trình tự thủ tục giao đất, cho thuê đất cho cơ sở tôn giáo. Ban hành hướng dẫn cụ thể về quy hoạch đất tôn giáo trong quy hoạch sử dụng đất cấp huyện. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc sử dụng đất của cơ sở tôn giáo. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý đất đai và cơ quan quản lý tôn giáo. Nâng cao năng lực cho cán bộ địa phương trong giải quyết hồ sơ đất tôn giáo. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý cơ sở dữ liệu đất đai tôn giáo. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai cho chức sắc và tín đồ các tôn giáo.
3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật và quy hoạch đất tôn giáo
Cần bổ sung quy định cụ thể về tiêu chí, điều kiện giao đất cho cơ sở tôn giáo. Xây dựng quy hoạch đất tôn giáo riêng biệt trong quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, tỉnh. Quy định rõ diện tích tối thiểu, tối đa cho từng loại cơ sở tôn giáo. Ban hành mẫu hồ sơ thống nhất cho thủ tục giao đất, cho thuê đất tôn giáo. Rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, tạo thuận lợi cho cơ sở tôn giáo. Đồng thời cần có quy định chuyển tiếp cho các cơ sở tôn giáo có đất sử dụng từ trước khi Luật Đất đai có hiệu lực.
3.2. Tăng cường quản lý nhà nước và tuyên truyền pháp luật
Tăng cường vai trò của Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện trong quản lý đất tôn giáo. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai tôn giáo tập trung, liên thông. Tổ chức tập huấn pháp luật đất đai cho chức sắc, người đứng đầu cơ sở tôn giáo. Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong tuyên truyền, vận động. Thành lập tổ công tác liên ngành giải quyết vướng mắc đất tôn giáo. Xử lý nghiêm các trường hợp lấn chiếm, sử dụng đất sai mục đích. Khen thưởng cơ sở tôn giáo chấp hành tốt quy định pháp luật đất đai.
IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn tại Quảng Ninh
Pháp luật về quyền và nghĩa vụ cơ sở tôn giáo sử dụng đất tại Quảng Ninh đã được xây dựng tương đối hoàn thiện với hệ thống văn bản từ Trung ương đến địa phương. Luật Đất đai năm 2013 và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 tạo khung pháp lý thống nhất. Thực tiễn tại Quảng Ninh cho thấy đa số cơ sở tôn giáo chấp hành tốt quy định pháp luật về đất đai. Tuy nhiên vẫn còn tình trạng một số tổ chức tôn giáo xin đòi lại đất có nguồn gốc, tự ý cơi nới, lấn chiếm hoặc mua bán chuyển nhượng đất trái phép. Điều này ảnh hưởng đến an ninh tôn giáo và trật tự an toàn xã hội. Việc thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ sử dụng đất giúp cơ sở tôn giáo hoạt động ổn định, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quảng Ninh cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý đất tôn giáo phù hợp tình hình thực tế.
4.1. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn Quảng Ninh
Quảng Ninh có kinh nghiệm trong việc rà soát, kiểm kê đất tôn giáo với 148 di tích được phân loại rõ ràng. Việc phân cấp quản lý đất tôn giáo cho cấp huyện, xã phát huy hiệu quả. Tỉnh đã thành lập Ban trị sự Giáo hội Phật giáo tại 13/14 huyện, thị xã tạo kênh phối hợp tốt. Công tác lập hồ sơ địa chính đất tôn giáo được chú trọng. Tuy nhiên cần tăng cường đối thoại giữa chính quyền và tổ chức tôn giáo. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu số về đất tôn giáo để quản lý hiệu quả hơn.
4.2. Định hướng phát triển và kiến nghị cho tương lai
Kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành thông tư hướng dẫn riêng về đất tôn giáo. Đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh phê duyệt quy hoạch đất tôn giáo trong điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất. Xây dựng đề án thí điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tập trung cho cơ sở tôn giáo. Tăng cường ứng dụng công nghệ GIS trong quản lý đất tôn giáo. Tổ chức hội thảo khoa học về pháp luật đất đai tôn giáo định kỳ. Nghiên cứu mô hình quản lý đất tôn giáo hiệu quả từ các tỉnh bạn để áp dụng tại Quảng Ninh.